Tàu ngầm lớp I-9
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
I-10 1942 |
|
| Khái quát về lớp tàu | |
|---|---|
| Bên sử dụng: | |
| Lớp trước: | Tàu ngầm Kiểu J3 (Type J3) |
| Lớp sau: | Tàu ngầm Kiểu A2 (Type A2) |
| Thời gian sử dụng: | 1941 - 1944 |
| Hoàn tất: | I-9, I-10, I-11 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Trọng tải choán nước: |
|
| Độ dài: | 372,8 ft |
| Sườn ngang: | 31,3 ft |
| Mớn nước: | 17,5 ft |
| Động cơ đẩy: |
|
| Tốc độ: |
|
| Tầm xa: | 16.000 hải lý (30,000 km) với 16 knots (30 km/h) |
| Độ sâu thử: | 100 m (330 ft) |
| Thủy thủ đoàn đầy đủ: |
114 hoa tiêu và thủy thủ |
| Vũ trang: |
|
| Máy bay mang theo: | 1 thủy phi cơ Yokosuka E14Y |
Tàu ngầm lớp I-9 hay còn gọi là tàu ngầm Kiểu A1 là loại tàu ngầm hoạt động trong Hải quân Đế quốc Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ hai có khả năng mang một thủy phi cơ. Các thiết kế của tàu dựa trên tàu ngầm Kiểu J3 với một khoang chứa máy bay trong thân tàu nằm phía trước kính tiềm vọng.
Ba chiếc loại này đã được đóng (I-9, I-10 và I-11) và được trang bị máy bộ đàm cho phép những chiếc tàu này liên lạc và hoạt động như một tàu chỉ huy cho các đội tàu ngầm.
- Chiếc I-9 bị đánh chìm bởi khu trục hạm USS Frazier tại Aleutians vào 11 tháng 06 năm 1943.
- Chiếc I-10 bị đánh chìm bởi khu trục hạm USS David W. Taylor và tàu hộ tống USS Riddle phía Đông Saipan vào 04 tháng 07 năm 1944.
- Chiếc I-11 bị mất tích tại đảo Ellice vào 11 tháng 01 năm 1944.