Tàu quét mìn lớp Korund

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi: Tàu quét mìn lớp Yevgenya (Đề án 1258 Korund)
Bên sử dụng:  Hải quân Liên Xô
 Azerbaijan
 Cuba
 Nga
 Syria
 Ukraina
 Quân đội Nhân dân Việt Nam
Thời gian đóng: 1967-1980
Thời gian hoạt động: 1967-nay
Hoàn tất: 45
Nghỉ hưu: ?
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Trục lôi hạm
Trọng tải choán nước: 88,5 tấn (tiêu chuẩn), 94 tấn (đầy tải)
Độ dài: 26,13 mét
Sườn ngang: 5,9 mét
Mớn nước: 1,3 mét
Động cơ đẩy: 2 động cơ diesel 850 mã lực
Tốc độ: 12 hải lý một giờ (22 km/h)
Tầm xa: 300 hải lý (555,6 km) ở tốc độ 10 hải lý một giờ (19 km/h)
Thủy thủ đoàn: 10
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
  • Radar: Spin Trough
  • Sonar MG-7
Vũ trang:
  • 1x pháo 2 nòng 25 mm
  • 2x súng máy 14,5 mm ZPU-2
  • Thiết bị quét MT34, SEMT-1, AT-2, Neva, GKT-3
  • 10 thủy lôi

Tàu quét mìn lớp Korund (tiếng Nga: Корунд) là loại tàu quét mìn gần bờ cỡ nhỏ do Liên Xô thiết kế và chế tạo từ năm 1967-1980. Phía Xô Viết gọi mẫu tàu này dưới cái tên thiết kế Đề án 1258 Korund. NATO gọi nó là Yevgenya.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu có kích thước và trọng tải vô cùng nhỏ: 26,13m x 5,90m x 1,30m, độ giãn nước trên dưới 90 tấn. Do có kích thước nhỏ nên khả năng dự trữ hành trình của tàu bị hạn chế (khoảng 3-5 ngày), chỉ có khả năng thực hiện các nhiệm vụ phá thủy và tuần tra gần bờ. Tàu cũng có khả năng rải thủy lôi phong tỏa đường biển.Các tàu thuộc đề án 1258 được đóng tại nhà máy đóng tàu Vladivostokskiy Sudostroitel’niy Zavod, Vladivostok, Liên Xô cũ (nay thuộc Cộng hòa Liên bang Nga).

Các tàu hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]