Tàu tên lửa lớp Osa
Tàu tên lửa Osa II mang số hiệu HQ-359 của Hải quân Nhân dân Việt Nam |
|
| Khái quát về lớp tàu | |
|---|---|
| Tên gọi: | Dự án 205 Tsunami (Tàu tên lửa lớp Osa) |
| Lớp trước: | Tàu tên lửa lớp Korma |
| Lớp sau: | Tàu tên lửa lớp Molniya |
| Lớp con: | Dự án 205 (Osa 1) và dự án 205U (Osa 2) |
| Thời gian đóng: | 400+ |
| Đặc điểm khái quát | |
| Kiểu: | Tàu tên lửa |
| Trọng tải choán nước: | 171,5 tấn (169 LT; 189 ST) bình thường, 209 t (206 LT; 230 ST) đầy |
| Độ dài: | 38,6 mét (126,6 ft) |
| Sườn ngang: | 7,64 m (25,1 ft) |
| Mớn nước: | 3,8 m (12,5 ft) |
| Động cơ đẩy: | 3 động cơ diesel |
| Tốc độ: |
38,5 hải lý một giờ (71 km/h) 42 hải lý một giờ (78 km/h) |
| Tầm xa: | 1800 hải lý với 14 hải lý một giờ (26 km/h), hoạt động độc lập trong 5 ngày |
| Thủy thủ đoàn đầy đủ: |
28 người (Osa 1) và 29 người (Osa 2) |
| Hệ thống cảm biến và xử lý: |
|
| Vũ trang: |
|
Tàu chiến lớp Osa là tên gọi kí hiệu của NATO cho loại tàu chiến lớp tên lửa do Liên Xô có tên gọi chính là Dự án 205 Tsunami (Project 205 Tsunami) . Phát triển vào đầu thập niên 1960 bao gồm 2 dự án là 205 (Osa 1) và 205U (Osa 2) nhằm thay thế cho Tàu tên lửa lớp Korma cũ . Tổng cộng đã có hơn 400 chiếc được xuất xưởng .
Mục lục |
Tên gọi và thông số cơ bản[sửa]
Osa có nghĩa là "Ong bắp cày" , nó mang tên này do đặc điểm chiến đấu của mình .
Tàu Osa đựơc phát triển nhằm thay thế loại tàu tấn công “Komar” – Loại chiến hạm mini đầu tiên trên thế giới có trang bị hỏa tiễn đối hạm, có khả năng đánh chìm một chiến hạm to hơn nó gấp nhiều lần. Thân tàu Osa được làm bằng hợp kim nhẹ với cấu trúc đặc biệt cùng với 3 động cơ công suất 12000 mã lực và 3 chân vịt, điều này giúp Osa đạt được tốc độ 40 hải lý/giờ
Vũ khí[sửa]
Vũ khí chính của nó là tên lửa P-15 Termit hay còn gọi là SS-N-2 . Chính vũ khí này giúp Osa có thể tiêu diệt một khu trục hạm nặng hơn 16.000 tấn , có kích thước gấp 10 lần nó ở phạm vi cách xa gần 80km . Ngoài ra , Osa còn được trang bị 4 súng pháo AK-230 cỡ nòng 30mm để phòng không .
Phương thức hoạt động[sửa]
Chiến thuật của Osa là đánh và chuồn . Lợi dụng thế mạnh trang bị tên lửa tầm xa và sức nhỏ nhẹ nên Osa chỉ việc tấn công từ xa rồi bỏ chạy để tránh bị truy kích . Nếu gặp không quân thì dùng súng 30mm bắn trả .
Lịch sử hoạt động[sửa]
Osa đã tham chiến nhiều trận , trong đó nó chịu nhiều tổn thất trong cuộc chiến tranh Iraq-Iran . Điểm yếu chính là hệ thống điều khiển tên lửa còn quá kém và khả năng tự vệ quá yếu . Tuy nhiên với khối lượng chỉ 200 tấn và tốc độ cao cùng với 4 hỏa tiễn chết người, Osa vẫn là một vũ khí khá nguy hiểm .
Ngày nay quân đội các quốc gia trên thế giới lại thích sử dụng tàu cao tốc tên lửa Molniya mà NATO gọi là Tàu tên lửa lớp Tarantul . Đây chính là thế hệ sau của Osa .
Hiện nay , Hải quân Nhân dân Việt Nam vẫn còn 8 tàu lớp Osa còn sử dụng tốt và đang đặt tại Cảng Tiên Sa - Đà Nẵng .
Các quốc gia sử dụng[sửa]
Osa I (dự án 205)[sửa]
Benin − 2
Bangladesh – 5
Trung Quốc - 4
Bắc Triều Tiên - 12
Osa II (dự án 205U)[sửa]
Algeria - 8
Angola - 6
Azerbaijan - 1
Bulgaria – 3
Cuba - 13
Ai Cập - 4
Eritrea - 5
Phần Lan - 4
Ấn Độ - 8
Somalia - 2
Syria - 12
Việt Nam - 8
Yemen - 18
Liên Kết Ngoài[sửa]
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Tàu tên lửa lớp Osa |