Tàu tên lửa lớp Osa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HQ-359-2007.jpg
Tàu tên lửa Osa II mang số hiệu HQ-359 của Hải quân Nhân dân Việt Nam
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi: Dự án 205 Tsunami (Tàu tên lửa lớp Osa)
Lớp trước: Tàu tên lửa lớp Korma
Lớp sau: Tàu tên lửa lớp Molniya
Lớp con: Dự án 205 (Osa 1) và dự án 205U (Osa 2)
Thời gian đóng: 400+
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Tàu tên lửa
Trọng tải choán nước: 171,5 tấn (169 tấn Anh; 189 short ton) bình thường, 209 t (206 tấn Anh; 230 short ton) đầy
Độ dài: 38,6 mét (126,6 ft)
Sườn ngang: 7,64 m (25,1 ft)
Mớn nước: 3,8 m (12,5 ft)
Động cơ đẩy: 3 động cơ diesel
Tốc độ:

38,5 hải lý một giờ (71 km/h)

42 hải lý một giờ (78 km/h)
Tầm xa: 1800 hải lý với 14 hải lý một giờ (26 km/h), hoạt động độc lập trong 5 ngày
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
28 người (Osa 1) và 29 người (Osa 2)
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
  • Radar: MR-331 Rangout (Square Tie)
  • Hệ thống điều chỉnh hỏa lực Klyon cho tên lửa P-15 Termit
  • Hệ thống điều chỉnh hỏa lực MR-104 Rys cho pháo cao tốc AK-230
  • Ra đi ô ARP-58SV
Vũ trang:
  • 2 khẩu pháo AK-230 để phòng không

Tàu chiến lớp Osa là tên gọi kí hiệu của NATO cho loại tàu chiến lớp tên lửa do Liên Xô có tên gọi chính là Dự án 205 Tsunami (Project 205 Tsunami). Phát triển vào đầu thập niên 1960 bao gồm 2 dự án là 205 (Osa 1) và 205U (Osa 2) nhằm thay thế cho Tàu tên lửa lớp Korma cũ. Tổng cộng đã có hơn 400 chiếc được xuất xưởng.

Tàu chiến lớp Osa thuộc dự án 205

Tên gọi và thông số cơ bản[sửa | sửa mã nguồn]

Osa có nghĩa là "Ong bắp cày", nó mang tên này do đặc điểm chiến đấu của mình.

Tàu Osa đựơc phát triển nhằm thay thế loại tàu tấn công "Komar" – Loại chiến hạm mini đầu tiên trên thế giới có trang bị hỏa tiễn đối hạm, có khả năng đánh chìm một chiến hạm to hơn nó gấp nhiều lần. Thân tàu Osa được làm bằng hợp kim nhẹ với cấu trúc đặc biệt cùng với 3 động cơ công suất 12000 mã lực và 3 chân vịt, điều này giúp Osa đạt được tốc độ 40 hải lý/giờ

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ khí chính của nó là tên lửa P-15 Termit hay còn gọi là SS-N-2. Chính vũ khí này giúp Osa có thể tiêu diệt một khu trục hạm nặng hơn 16.000 tấn, có kích thước gấp 10 lần nó ở phạm vi cách xa gần 40km. Với phiên bản P-15M Termit (SS-N-2B) thì tầm bắn tăng gấp đôi, lên đến 80 km. Ngoài ra, Osa còn được trang bị 4 súng pháo AK-230 cỡ nòng 30mm để phòng không.

Phương thức hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến thuật của Osa là đánh và chuồn. Lợi dụng thế mạnh trang bị tên lửa tầm xa và sức nhỏ nhẹ nên Osa chỉ việc tấn công từ xa rồi bỏ chạy để tránh bị truy kích. Nếu gặp không quân thì dùng súng 30mm bắn trả.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Osa đã tham chiến nhiều trận, trong đó nó chịu nhiều tổn thất trong cuộc chiến tranh Iraq-Iran. Điểm yếu chính là hệ thống điều khiển tên lửa còn quá kém và khả năng tự vệ quá yếu. Tuy nhiên với khối lượng chỉ 200 tấn và tốc độ cao cùng với 4 tên lửa chống hạm, Osa vẫn là một vũ khí khá nguy hiểm.

Ngày nay quân đội các quốc gia trên thế giới lại thích sử dụng tàu cao tốc tên lửa MolniyaNATO gọi là Tàu tên lửa lớp Tarantul. Đây chính là thế hệ sau của Osa.

Hiện nay, Hải quân Nhân dân Việt Nam vẫn còn 8 tàu lớp Osa còn sử dụng tốt và đang đặt tại Cảng Tiên Sa - Đà Nẵng.

Tàu Osa thuộc dự án 205U

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Osa I (dự án 205)[sửa | sửa mã nguồn]

Ống phóng tên lửa P-15 trên tàu

 Benin − 2

 Bangladesh – 5

 Croatia

 Trung Quốc - 4

 Ai Cập

 Đông Đức

 Ấn Độ

 Latvia

 Montenegro

 Bắc Triều Tiên - 12

 Ba Lan

 Romania

 Liên Xô

 Syria

Osa II (dự án 205U)[sửa | sửa mã nguồn]

Osa khai hỏa tên lửa P-15

 Algeria - 8

 Angola - 6

 Azerbaijan - 1

 Bulgaria – 3

 Cuba - 13

 Ai Cập - 4

 Eritrea - 5

 Phần Lan - 4

 Ấn Độ - 8

 Libya

 Nga

 Somalia - 2

 Liên Xô

 Syria - 12

 Việt Nam - 8

 Yemen - 18

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên Kết Ngoài[sửa | sửa mã nguồn]