Tát Đỉnh Đỉnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tát Đỉnh Đỉnh
Phồn thể 薩頂頂
Giản thể 萨顶顶
Bính âm Sà Dǐng Dǐng
Ngày sinh 23 tháng 12, 1983 (30 tuổi)
Nơi sinh Nội Mông
Nghề nghiệp Ca sĩ, nhà soạn nhạc, viết ca khúc, nhà sản xuất thu âm, biên đạo múa
Loại hình Electronica, pop, nhạc dân gian
Nhạc cụ Cổ tranh, mã đầu cầm, trống, la[1]
Hãng đĩa Universal, Wrasse Records
Năm hoạt động 2001–nay
Trang web chính thức www.sadingding.co.uk

Tát Đỉnh Đỉnh (bính âm: Sa Dingding; 23 tháng 12 năm 1983) là một ca sĩ và nhạc sĩ nhạc dân gian Trung Quốc. Mang trong mình hai dòng máu Hán và Mông Cổ, cô có khả năng hát bằng tiếng Anh, tiếng Mông Cổ, tiếng Quan thoại, tiếng Phạn, tiếng Tây Tạng và cả ngôn ngữ hiếm Lagu[2][3]. Cô được giới truyền thông ở Anh và các nước Châu Âu biết tới như một trong những ngôi sao đại chúng của Đại lục giành được thành công ở tầm quốc tế.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tát Đỉnh Đỉnh sinh tại Nội Mông vào năm 1983, mẹ là một bác sĩ Mông Cổ và cha là nhân viên chính phủ người Hán[2]. Thuở nhỏ, cô sống du cư trên thảo nguyên Nội Mông với bà ngoại của mình[4][5]. Cô nhớ lại rằng "hàng ngày tôi nghe mọi người hát, những ngày đó dạy tôi rằng âm nhạc chính là tự do"[2].

Khi lên 6 tuổi, Tát theo cha mẹ rời Nội Mông tới tỉnh Sơn Đông, rồi Tứ Xuyên, Trung Quốc. Khi 17 tuổi, gia đình cô chuyển tới Bắc Kinh, nơi cô học đại học chuyên ngành Phật giáoyoga[3][6]. Những chuyến hành trình đã đem lại cho Tát niềm say mê ngôn ngữ, âm nhạc và trang phục, mà đã trở thành tư liêu cho những tác phẩm của cô[2]. Trên đường đi, cô đã học tiếng Phạn, tiếng Tây Tạng và cả tiếng Lagu, một ngôn ngữ đang dần biến mất nhanh chóng ở các ngôi làng xa xôi tại miền Nam Trung Quốc.

Tát Đỉnh Đỉnh nhanh chóng nổi tiếng sau khi giành chiến thắng trong một cuộc thi hát tổ chức bởi Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc năm 2000[6]. Năm 18 tuổi, cô phát hành album đầu tay mang tên Đông ba lạp (咚巴啦) với nghệ danh Chu Bằng (周鹏), và giành được danh hiệu "Ca sĩ nhạc dance xuất sắc nhất" ở Trung Quốc[1]. Dù vậy, thay vì đi vào con đường nhạc pop, Tát Đỉnh Đỉnh lại bắt đầu sáng tác nhạc. Cô bắt đầu sử dụng âm nhạc điện tử (electronica), trong khi cố gắng tập chơi các nhạc cụ như đàn tranh hay mã đầu cầm[5].

Năm 2006, bài hát "Holy Incense" được sử dụng làm ca khúc chủ đề của bộ phim Prince of the Himalayas, đạo diễn bởi Sherwood Hu. Giữa năm 2007, Tát Đỉnh Đỉnh phát hành album thứ hai Vạn vật sinh, hay Alive, được phát hành cũng như download ở nhiều nước. Cô đã tự sáng tác và sản xuất cho các bài hát của mình, pha trộn giữa âm nhạc điện tử và các nhạc cụ truyền thống cùng âm nhạc dân gian cổ truyền của Trung Quốc, hát bằng nhiều thứ tiếng khác nhau, và chịu ảnh hưởng từ cả tinh thần Phật giáo lẫn yoga[1][5]. Album này đã bán được tổng cộng hơn 2 triệu bản riêng tại Châu Á[6].

Tháng 4 năm 2008, Tát Đỉnh Đỉnh nhận giải thưởng BBC Radio 3 World Music Award khu vực Châu Á/Thái Bình Dương[7]. Tháng 7, cô phát hành đĩa đơn đầu tiên có tựa đề "Cầm thương" (琴伤). Cô được tờ The Times gọi là "Björk của châu Á"[8], và được giới truyền thông Anh ghi nhận là ngôi sao đại chúng lớn nhất của Trung Quốc[2][4]. Cuối năm 2008, cô thực hiện một chuyến lưu diễn vòng quanh Châu Âu, qua các nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Hà Lan và Đức, và tiếp tục nhận được nhiều lời khen tặng của báo giới các nước này[9]. Tát Đỉnh Đỉnh cũng góp giọng ở nhạc phẩm thứ hai trong album Tathāgata của nhà soạn nhạc Trung Quốc Hà Huấn Điền, có tên gọi "Đạt tháp già đạt" (达塔伽达).

Album gần đây nhất của cô, Thiên địa hợp (Harmony, 天地合), phát hành tháng 9 năm 2010 với 9 nhạc phẩm tiếng Trung, cùng ba bản remix của nhạc phẩm tựa đề, một trong đó được thực hiện bởi Paul Oakenfold.

Danh sách đĩa hát[sửa | sửa mã nguồn]

Album
  • Đông ba lạp (Dong Ba La, 咚巴啦) (2001)
  • Vạn vật sinh (Alive, 万物生) (2007) - Wrasse Records
  • Thiên địa hợp (Harmony, 天地合) (2010)
  • Hoàng như lai giả (The Coming Ones, 恍如来者) (2012)
Đĩa đơn
  • "Qin Shang" (Cầm thương, 琴伤) (2008) - Wrasse Records
  • "Tiandi Ji"/"Ha Ha Li Li" (Thiên địa ký, 天地记) (2009) - Universal Music Group
Nhạc phim

"锦衣卫" (Cẩm y vệ) - Ca khúc chủ đề của Cẩm y vệ

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Phần "About Sa Ding Ding" trên trang web tiếng Anh chính thức của Tát Đỉnh Đỉnh. Truy cập 5 tháng 4 năm 2009.
  2. ^ a ă â b c Steward, Sue (18 tháng 7 năm 2008). “Why Sa Dingding has China in her hand”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2009. 
  3. ^ a ă “Sa Dingding: China's New Age chanteuse”. CNN. 23 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2009. 
  4. ^ a ă Denselow, Robin (28 tháng 3 năm 2008). “'It's harvest season for me'”. The Guardian. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2009. 
  5. ^ a ă â Philby, Charlotte (10 tháng 5 năm 2008). “My Secret Life: Sa Dingding, Singer & musician, 25”. The Independent. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2009. 
  6. ^ a ă â “Made in China: the singer poised to sweep the globe”. The Independent. 2 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2009. 
  7. ^ “BBC - Awards for World Music 2008 - Winners”. BBC Radio 3. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2009. 
  8. ^ Hutcheon, David (27 tháng 4 năm 2008). “Sa Dingding, the Asian Bjork”. The Times. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2009. 
  9. ^ Phan Đức (2 tháng 12 năm 2008). ““Ngôi sao pop thế giới đầu tiên của Trung Quốc””. Thể Thao & Văn Hóa. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]