Tây Hạ Tương Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tây Hạ Tương Tông
Hoàng đế Tây Hạ
Trị vì  12061211
Tiền nhiệm Tây Hạ Hoàn Tông
Kế nhiệm Tây Hạ Thần Tông
Hậu duệ
Lý Thừa Trinh[1]
Tên thật
Lý An Toàn (李安全)[1]
Tước hiệu
Hoàng đế
Thụy hiệu Kính Mục hoàng đế[1] (敬穆皇帝)
Miếu hiệu Tương Tông (襄宗)
Triều đại Tây Hạ (西夏)
Thân phụ Việt vương Lý Nhân Hữu[1]
Sinh 1170
Mất 1211
Trung Quốc
An táng Khang lăng

Tây Hạ Tương Tông (1170-1211), tên thật là Lý An Toàn, trị vì từ năm 1206-1211, là vị hoàng đế thứ 7 của Tây Hạ.

Tương Tông lên ngôi sau một cuộc đảo chính lật đổ người anh họ là Tây Hạ Hoàn Tông[2] năm 1206. Lý do có thể là vào năm 1196, cha đẻ của ông là Việt vương Lý Nhân Hữu chết, An Toàn muốn được tập tước Việt vương nhưng Hoàn Tông không cho mà chỉ phong ông làm Trấn Di quận vương. Điều này đã làm cho Lý An Toàn cực kỳ bất mãn.

Nhiều sử gia đánh giá ông là người không có năng lực. Tương Tông tấn công nhà Kim, phá vỡ ngoại giao của hai nước. Ông đã cố gắng để trở thành đồng minh của Đế quốc Mông Cổ, nhưng Thành Cát Tư Hãn coi Tây Hạ như một rào cản của Trung Quốc nên đã nhiều lần đem quân tấn công. Năm 1211, cháu trai của Tương Tông là Lý Tuân Húc đảo chính lật đổ Tương Tông và lên ngôi. Tương Tông qua đời sau đó một tháng, hưởng dương 42 tuổi[1].

Thụy hiệu của Tương Tông là Kính Mục hoàng đế.

[sửa] Ghi chú

  1. ^ a b c d e Tống sử, quyển 486, Liệt truyện 245 - Ngoại quốc nhị: Hạ quốc hạ.
  2. ^ Nhân Tông Lý Nhân Hiếu là anh trai của Việt vương Lý Nhân Hữu. Tây Hạ Hoàn Tông là con trai của Lý Nhân Hiếu. Tương Tông Lý An Toàn là con trai Lý Nhân Hữu.