Tây Nhung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tên gọi Tứ Di

Tây Nhung (chữ Hán: 西戎; bính âm: Xīróng) hay còn gọi là Nhung (戎) là tên gọi dân tộc thiểu số ở phía tây Trung Quốc cổ đại, đồng thời còn là tên gọi của một quốc gia vào thời kỳ Xuân Thu, Chiến Quốc, theo quan điểm của chủ nghĩa coi Trung Quốc là trung tâm của thế giới, thì Tây Nhung, Đông Di, Bắc Địch, và Nam Man hợp lại thành Tứ Di, tên gọi Tây Nhung mang ý nghĩa khinh miệt, người đời sau đã đào thấy ở đất Cách chân xẻng, một cái quai bình và một cặp quai bình khác với đặc trưng chính của văn hóa Tây Nhung. Ngoài ra sự xuất hiện của Tây Nhung còn được bộ chính sử Sử ký ghi chép lại trong thiên Tần bản kỷ.

Đời Chu, vị trí cư trú của Tây Nhung được xác định bao gồm từ Thanh Hải tới Thiểm Tây, đời vua nhà Chu thứ 12 là Chu U Vương vì say mê mỹ nhân Bao Tự mà phế Thân hậu, chuốc lấy sự giận dữ từ chư hầu. Cha Thân hậu là vua nước Thân bất bình, bèn liên hệ với nước Tằng và hai tộc Khuyển, Nhung bên ngoài kéo vào đánh úp Cảo Kinh vào năm 771 TCN. Chu U vương không chống nổi quân địch, bị quân Khuyển Nhung đuổi theo giết chết ở núi Ly Sơn, sự kiện này đánh dấu kết thúc thời kỳ Tây Chu, bước vào thời kỳ Xuân Thu.

Nhà Chu truy phong cho nước Tần cai quản khu vực tộc Nhung, có thuyết nói nước Tần thuộc nhóm người Nhung. Tần Mục Công thường xuyên thảo phạt người Nhung mà dựng nên nghiệp , sau nhiều lần xung đột với nước Tần, cuối cùng một bộ phận người Nhung bị Tần sát nhập, phần còn lại có khả năng chạy vào khu vực của người Hung Nô. Theo giả thuyết về dân tộc và chủng tộc, thì người Nhung thuộc hệ Tây Tạng hoặc các nhóm dân tộc nói tiếng Turkic, nhưng không có mấy bằng chứng nào đủ sức thuyết phục.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]