Tây du ký (phim truyền hình 1986)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Zhongwen.svg
Bài viết này có chứa các ký tự Trung Hoa. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các chữ Trung Quốc.
西遊記
(Tây du ký)
Journey to the West.jpg
Thể loại Phim thần thoại
Sáng lập Dựa theo tiểu thuyết Tây du ký của Ngô Thừa Ân
Biên kịch: Đới Anh Lộc, Châu Ức Thanh, Dương Khiết
Đạo diễn Dương Khiết
Diễn viên chi tiết
Phụ hòa âm Vương Văn Hoa
Quốc gia Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Ngôn ngữ tiếng Phổ thông
Số tập 25 (phần 1)
16 (phần 2) (Danh sách chi tiết)
Sản xuất
Nhà sản xuất Tằng Tâm Ảnh, Đoạn Tiểu Thường
Địa điểm Trung Quốc
Trình chiếu
Kênh trình chiếu CCTV
Phát sóng 1986

Tây Du Ký (Tiếng Hoa:西遊記) - (bính âm: Xi you ji) - (tiếng Anh: Xi You Ji Journey to the West) là một bộ phim truyền hình được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Trung Quốc Ngô Thừa Ân, do Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) và Cục Đường sắt Trung Quốc phối hợp sản xuất, phim khởi quay từ năm 1982 và đến năm 1988 thì hoàn thành. Năm 1986 CCTV chính thức công chiếu 11 tập đã quay và lấy năm này là năm sản xuất vì thế phiên bản này thường lấy tên là Tây Du Ký 1986. Khảo sát của CCTV năm 1987, đạt tỷ suất khán giả 89,4%, trong đó đối tượng có trình độ đại học tỷ lệ xem là 85,2%, đối tượng mù chữ hay chưa biết chữ (không tính trẻ em) tỷ lệ xem là 100%. Tỷ lệ này là rất cao.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu ý: Phần sau đây có thể cho bạn biết trước nội dung của tác phẩm.

"Tây Du Kí" bắt nguồn từ một câu chuyện có thật: Nhà sư trẻ đời Đường Thái Tông tên là Trần Huyền Trang, năm 21 tuổi đã một mình sang Ấn Độ tìm thầy học đạo. Ông ra đi từ năm 629 đến năm 645 mới về Trung Quốc, tổng cộng là 17 năm; trong đó, có 6 năm tu học ở chùa Na Lan Đà - một trung tâm Phật giáo hồi bấy giờ. Khi về nước, ông phải dùng tới 24 ngựa tải 657 bộ kinh Phật.

Câu chuyện có thật đó vốn đã mang màu sắc huyền thoại, được truyền tụng rộng rãi trong dân gian và thần thoại hóa.

Ngô Thừa Ân tuy là người tập hợp và gia công cuối cùng, nhưng ông vẫn xứng đáng là tác giả vĩ đại nhất của bộ "Tây Du Kí". Với ngòi bút sáng tạo của ông, tác phẩm không những có dung lượng đồ sộ, mà tính tư tưởng cũng được nâng cao, hình tượng nhân vật trở nên sống động, có tính cách rõ nét, văn phong uyển chuyển, nhất quán.

"Tây Du Kí" kể về chuyện Tôn Ngộ Không, Trư Bát GiớiSa Ngộ Tịnh phò Đường Tăng sang phương Tây (Ấn Độ ở về phía Trung Quốc). Đường đi gặp bao trắc trở, gian nan trắc trở, tổng cộng gặp đến 81 nạn, cuối cùng cũng đều vượt qua đến được xứ sở Phật tổ, mang kinh Phật về truyền bá ở phương Đông.

Hết phần cho biết trước nội dung.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim ra đời trong hoàn cảnh khó khăn do được sản xuất vào thập kỉ 1980 thời mà kĩ xảo điện ảnh còn thô sơ lạc hậu. Vốn đầu tư 6 triệu nhân dân tệ tuy là một khoản tiền rất lớn nhưng cũng không đủ trang trải cho toàn bộ phim, các diễn viên cũng chỉ nhận được thù lao tượng trưng, ít ỏi. Phim được làm trong 6 năm trời ròng rã từ năm 1982 đến năm 1988 hoàn thành. nhiều thông tin cung cấp năm 1986 bộ phim chính thức trình chiếu cho khan thính giả và nhận thấy có nhiều phần thiếu sót nên tiếp tục đầu tư xây dựng và mãi đến năm 1988 thì chính thức hoàn thiện. Tây Du Kí vừa quay vừa phát sóng theo kiểu cuốn chiếu, tập phim đầu tiên “Trừ yêu Ô Kê quốc” ra mắt khán giả vào dịp lễ Quốc khánh Trung Quốc vào năm 1982, đến ngày 1/2/1988, CCTV mới phát sóng trọn bộ phim Tây Du Kí 25 tập. Đặc biệt, trong 20 năm qua, phim đã nhiều lần phát sóng lại, mỗi lần cả người lớn và trẻ em đều háo hức đón xem. Có thể nói, bản phim Tây Du Kí 1986 đã sống mãi với thời gian và ăn sâu trong kí ức của nhiều thế hệ khán giả. Hầu hết các đài truyền hình của Việt Nam đều ít nhất trình chiếu một lần. Có đài phát sóng đến gần 10 lần và trình chiếu đi và chiếu lại suốt nhiều năm liền.[1]

Tạo hình và kĩ xảo[sửa | sửa mã nguồn]

Phần lớn do kĩ xảo hạn chế, phần cảnh trên thiên đình hầu hết được quay tại phim trường

Có thể nói, phục trang, hóa trang, tạo hình của bộ phim hết sức thành công và khó có phiên bản nào qua được. Chính những chi tiết sắc sảo của từng vai diễn. Với mỗi tập là những con yêu quái hoàn toàn khác nhau và không yêu quái nào sử dụng lại. Chính nhờ những phần hóa trang yêu quái như thế nên phần nào giúp bộ phim xóa đi khuyết điểm thiếu diễn viên. Có khi một diễn viên đóng đến 4, 5 vai, và đặc biệt hơn, có tập phim đến phó đạo diễn, thư kí trường quay đều thủ vai yêu tinh nốt. Cá biệt, nhờ vào đeo mặt nạ hóa trang, nên có diễn viên 25 tập đóng đến 10 vai khác nhau[2]
Phục trang, tạo hình cũng góp phần tạo nên sự thành công của bộ phim, nhất là trong các phân đoạn, cảnh quay đông đúc: bầy khỉ ở Hoa Quả Sơn, cảnh chư vị thần tiên tụ hội trên thiên đình và vũ điệu của Hằng Nga, đoạn nhà sư Trần Huyền Trang lần đầu diện kiến vua Đường,.v..v... Dù rằng quay trong phim trường sử dụng phông màn xanh cùng với kĩ xảo bị hạn chế, thế nhưng cảnh vật với hoa sen thật khiến cho cảnh thiên đình trong Tây Du Kí 1986 luôn là cảnh mẫu cho các bộ phim về sau.
Đặc biệt cách dựng cảnh Bồ Tát và các vị La Hán ở Thiên Trúc khi Đường Tăng đến bái kiến Như Lai Phật Tổ hết sức tuyệt vời. Tất cả như một bức tranh nổi, đẹp và rất sống động. Mười tám vị La Hán là 18 khuôn mặt và tư thế khác nhau oai nghiêm và sống động khiến cho từng cảnh quay ở các phân đoạn này luôn như thật.

Lưu Lễ – người phụ trách dàn dựng kĩ xảo phim Tây Du Kí cho biết, trong phim đã sử dụng hơn 1.000 cảnh quay kĩ xảo, nhưng anh nói, với kĩ thuật làm phim lúc bấy giờ thì chưa thể gọi đó là kĩ xảo, bởi nó đều được làm bằng sức người, phương pháp thủ công, dựng phim ghép hình... Như để có được những hình ảnh bồng lai thiên cảnh trên thiên đình, đoàn làm phim phải sử dụng hiệu ứng sân khấu, cảnh Tôn Ngộ Không dùng phép Cân đẩu vân đi mây về gió được dựng với thủ pháp ghép hình, trường đoạn Tôn Ngộ Không bị đốt trong lò luyện đan của Thái Thượng Lão Quân, đoàn làm phim phải dựng những cảnh cháy thật, khiến Lục Tiểu Linh Đồng bị lửa làm cháy bỏng... Chưa kể, những con vật, linh thú hay yêu quái hiện nguyên hình, đoàn làm phim phải sử dụng những con thú nhồi bông hay làm thật con thú đó. Tập 17 trường đoạn con linh vật của Ngưu Ma Vương đoàn làm phim sử dụng kì lân của đội lân hay con trâu Ngưu Ma Vương biến hình được làm thật và chỉ quay đúng một tập phim. Ngoài ra còn rất nhiều con vật khác, lúc bấy giờ kĩ xảo khó khăn, đoàn làm phim bắt buộc phải làm thật.

Mặc dù bị hạn chế phần kỹ xảo, nhưng cách tạo hình nhân vật trong Tây Du Kí rất bắt mắt, vai Tôn Ngộ Không ở mỗi giai đoạn trưởng thành đều có tạo hình khác nhau, đặc biệt những nhân vật yêu tinh đều thể hiện được hình thù đặc trưng, giúp khán giả dễ dàng phân biệt. Bằng phương pháp thủ công mà năm xưa các nhà làm phim đã hoàn thành bộ phim kinh điển Tây Du Kí, điều đó đã được giới làm phim Trung Quốc xem là niềm tự hào, và còn là bệ phóng đánh dấu một bước tiến mới trong quá trình phát triển của truyền hình Trung Quốc.

Ngoại cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Cửu Trại Câu - ngoại cảnh được quay trong tập 21 Tây Du Kí: Lọt vào Động Bàn Ti và ngoại cảnh của Hoa Quả Sơn

Phim Tây Du Kí quay ngoại cảnh xuyên suốt Trung Hoa từ Bắc chí Nam: Bắc Kinh, Hồ Nam, Sơn Đông, Tam Hiệp, Tứ Xuyên, Dương Châu, Thổ Lỗ Phồn - Hỏa Diệm Sơn- Tân Cương, Nội Mông, Quảng Châu, Hàng Châu, Giang Tô, Phúc Kiến, Hà Bắc, Vân Nam... và còn sang tận Thái Lan ghi hình[3]. Lúc bấy giờ, một bộ phim ra nước ngoài quay ngoại cảnh được xem là sự kiện đình đám trong giới làm phim.

Theo nhận xét của giới báo chí, phần ngoại cảnh tuyệt đẹp trong phim Tây Du Kí đã góp phần không nhỏ làm nên thành công cho bộ phim. Có thể nói, những chốn bồng lai tiên cảnh, non nước hữu tình đã che lấp đi phần kĩ xảo lạc hậu. Ngoại cảnh trong phim đã được quay tại:

Tập 1 – Bắc Đới Hà; tập 2 – Giới Đài tựBắc Kinh; tập 4, 11 và 12 – Hồ Nam; tập 7 – Sơn Đông; tập 8 – Tam Hiệp; tập 9 – Tứ Xuyên; tập 10 – Trương Gia giới; tập 13 – Dương Châu; tập 17 – Thổ Lỗ Phồn Hỏa Diệm Sơn; tập 21 – Cửu Trại Câu; tập 23 – Quảng Châu; tập 24 – Thái Lan; tập 25 – Thái LanHồ Nam.

Khó khăn[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thời điểm đầu thập niên 80, phim truyền hình Trung Quốc chưa phát triển mạnh, vốn làm bộ phim 6 triệu Nhân dân tệ đã được xem là số tiền kếch xù, nhưng vẫn không đủ trang trải, nhất là việc phải di chuyển đến nhiều nơi rất tốn kém. Tuy nhiên, những khó khăn về tài chính, nhân lực, phương tiện kĩ thuật... vẫn không hề ảnh hưởng đến quyết tâm làm phim Tây Du Kí của nữ đạo diễn Dương Khiết và êkíp làm phim. Đó cũng là lý do tại sao mỗi khi các tờ báo viết về phim Tây Du Kí đều không quên nhắc đến quá trình làm phim gian nan, và còn xem đây là bộ phim thể hiện quyết tâm, ý chí và tinh thần đoàn kết của người Trung Quốc.

Do nguồn kinh phí eo hẹp, diễn viên chỉ được trả thù lao tượng trưng, hơn nữa, diễn viên và nhân viên hậu trường không có sự phân biệt, lúc đoàn di chuyển ngoại cảnh, diễn viên cũng phải phụ khuân vác, còn lúc thiếu diễn viên, nhân viên hậu trường cũng phải “thò mặt” ra trước ống kính, như: thư kí trường quay Vu Hồng (hiện là vợ của Lục Tiểu Linh Đồng) đã đóng vai Hoàng hậu nước Thiên Trúc; huấn luyện viên võ thuật Lâm Chí Khiêm vừa đảm nhận vai trò chỉ đạo nghệ thuật vừa đóng vai Nhị Lang Thần, Hạ Bá Hoa (夏伯华) vừa đảm nhận chỉ đạo võ thuật vừa đóng vai Yêu đạo – câu chuyện “Trừ yêu Ô Kê quốc” (phiên bản 1982).

Vì đa phần các cảnh quay đều thực hiện thô sơ nên các cảnh quay bay lượn, đoàn thực hiện các cảnh quay cáp. Do không có diễn viên đóng thế, vì các cử chỉ và điệu bộ của Tôn Ngộ Không rất khó bắt chước nên đa phần các cảnh quay bay lượn trên không bằng cáp, Lục Tiểu Linh Đồng đều tự mình thực hiện các cảnh quay nên anh là người bị tai nạn nhiều nhất. Trường đoạn Hồng Hài Nhi dùng Tam Muội Chân Hỏa để đốt, do lửa cháy yếu, đạo diễn đã cho lửa cháy lớn khiến Tôn Ngộ Không bị bỏng rất nặng phải nằm 3 tháng theo yêu cầu bác sĩ. Trường đoạn tập 17, 18, quay các ngoại cảnh tại Thổ Lổ Phồn, Lục Tiểu Linh Đồng nhiều lần bị đứt dây cáp.[4]

Vào thời điểm bấy giờ, mức kinh phí 6 triệu là khoản đầu tư rất lớn, nhưng vẫn không đủ trang trải cho 25 tập phim. Vì thế, thù lao trả cho các diễn viên rất thấp, trong đó, Lục Tiểu Linh Đồng là người được trả thù lao cao nhất cũng chỉ 70 nhân dân tệ/tập phim, con số này kém xa so với cát-sê của các diễn viên trẻ ăn khách thời nay.

Võ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Phim Tây Du Kí có đến 3 nhà chỉ đạo võ thuật: Lâm Chí Khiêm (người đóng vai Nhị Lang Thần) – từng là huấn luyện viên võ thuật; Hạng Hán – huấn luyện viên võ thuật và Hạ Bá Hoa (người đóng vai Yêu đạo – câu chuyện “Trừ yêu Ô Kê quốc” phiên bản 1982). Trong phim có hai nữ diễn viên không có chỉ đạo võ thuật và là tự diễn xuất: Vương Phượng Hà vai Thiết Phiến công chúa trong màn múa kiếm (tập 17) do chính chị thể hiện. Nữ diễn viên thứ hai là Nhậm Văn Kiên vai nữ múa kiếm do Bạch Long Mã biến thành (tập 11) do chính chị thể hiện.

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Có thể nói, bộ phim Tây Du Kí phiên bản 1986 là tập hợp các ca khúc và thành công của phim một phần chính nhờ các ca khúc này.
Với 25 tập phim, bộ phim có đến 20 ca khúc sử dụng trong phim và có 30 khúc hòa tấu.
Ngoài một ca khúc chủ đề cuối phim "Đường chúng ta đi"- Cảm vấn lộ tại hà phương (敢问路在何方 (片尾曲)) do Tưởng Đại Vi (蒋大为) hát, còn có các ca khúc nằm rải rác ở các tập phim.

Phát sóng[sửa | sửa mã nguồn]

Thời điểm phát sóng: Do thời gian làm phim kéo dài, nên Tây Du Kí đã được quay và phát sóng theo kiểu cuốn chiếu. Tháng 8/1982, bấm máy câu chuyện “Trừ yêu Ô Kê quốc”, lễ Quốc Khánh cùng năm CCTV phát sóng câu chuyện đó. Năm 1983, quay các tập “Họa từ Quan Âm viện”, “Thâu ngật nhân sâm quả”, “Tam đả Bạch Cốt tinh”. Ngày 3/2/1984, CCTV phát sóng 2 tập phim: “Kế thu Trư Bát Giới” và “Tam đả Bạch cốt tinh”. Tết Nguyên Đán năm 1986, CCTV chiếu 11 tập của bộ phim. Trong năm 1986, quay tiếp các tập: “Đoạt Bảo Liên Hoa động”, “Đại chiến Hồng Hài Nhi”, “Đấu phép hạ tam quái”, “Thỉnh kinh Nữ Nhi quốc”, “Tam điều Tì Bà phiến”, “Tảo tháp biện kỳ oan”, “Đánh nhầm Tiểu Lôi Âm”, “Tôn hầu xảo hành y”. Năm 1987: quay tiếp “Rơi nhầm Bàn Tơ động”, “Tứ thám Vô đáy động”,“Truyền nghệ Ngọc Hoa Châu”, “Thiên Trúc thâu Ngọc Thố”, “Ba thăng cực lạc thiên”. Ngày 1/2/1988, CCTV phát sóng trọn bộ phim Tây Du Ký gồm 25 tập.

Ban đầu, đoàn làm phim dự định làm 30 tập nhưng do kinh phí chỉ đủ cho 25 tập phim, nên đoàn làm phim đành bỏ dở năm tập phim còn lại. Sau này đến năm 2000 đoàn làm phim quyết định dựng lại năm tập phim còn thiếu, nhưng do năm tập ngắn quá mà những tập hay đều làm hết ở phần một nên ban biên tập đã cải biên năm tập phim đó thành 16 tập với lối dẫn chuyện ban đầu khác. Ở phần hai, nhiều diễn viên đóng phim ở phần một vẫn đóng tiếp tuy tuổi tác có phần già đi nhiều.

Giai đoạn sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Phần một[sửa | sửa mã nguồn]

Với 25 tập phim của phần một - dường như nó quá ngắn để diễn tả hết nội dung của Tây du ký của Ngô Thừa Ân, thế nhưng chính nội dung phim không quá rườm rà, cô đọng khiến phim luôn diễn tiến liên tục, hấp dẫn. Ngoài 25 tập phim được chiếu như hiện giờ, trong thời gian 1982 - 1988 còn một phiên bản "Trừ yêu Ô Kê quốc" quay năm 1982 (sau được quay lại năm 1986) và một phiên bản "Thâu ngật nhân sâm quả" (khởi quay lại năm 1984) nhưng sau không sử dụng.

  • Biên kịch: Đới Anh Lộc (戴英禄), Trâu Ức Thanh (邹忆青), Dương Khiết (杨洁);
  • Đạo diễn: Dương Khiết (杨洁);
  • Quay phim: Dương Sùng Thu (扬崇收);
  • Phó đạo diễn: Nhậm Phượng Pha, Tuân Hạo;
  • Thiết kế mĩ thuật: Mã Vận Hồng;
  • Mĩ thuật: Vương Bách Bình, Viên Trù, Lý Huệ Mẫn, Lưu Quan Nhạn;
  • Ghi âm: Phùng Cảnh Sơn;
  • Phỏng âm: Vương Văn Hoa;
  • Ánh sáng: Chu Hi Đức, Lưu Kiên, Trương Quân Dân, Vương Bình, Trương Văn Học;
  • Tạo hình nhân vật: Vương Hi Chung;
  • Phục trang: Vương Uẩn Kì;
  • Chỉ đạo võ thuật: Lâm Chí Khiêm, Hạng Hán;
  • Thư kí trường quay: Mã Lệ Châu, Vu Hồng, Lý Thành Nho;
  • Sương khói: Lưu Lễ, Đổng Chấn Huệ;
  • Trợ lí đạo diễn: Cận Căn Tuất;
  • Phó quay phim: Đường Kế Toàn;
  • Trợ lí quay phim: Lưu Đại Kiện, Diêm Túc, Diệp Mao;
  • Quản lí trường quay: Lý Kiến Thành;
  • Hóa trang: Thôi Khiết, Trương Hưng Hoa, Dương Tuyết, Đặng Kinh Bình, Dương Vân Phỉ;
  • Phục trang: Lý Bảo Tường, Hàn Canh Trạch, Trần Thiết San;
  • Đạo cụ: Trần Thiết San, Chân Chí Tài, Tôn Bộ Vân;
  • Chế cảnh: Từ Tiểu Quang, Cát Hữu, Từ Vĩnh Tân, Hứa Tín Lương;
  • Trang trí: Trương Thụy Lai;
  • Chuyên viên trường quay: Đặng Thiểu Sanh, Liên Trì Thủy;
  • Biên đạo múa: Cổ Hải Hoàn, Lý Chí Vĩ;
  • Chuyên viên chế tác: Vương Xảo Hồng, Hàn Lập Mai;
  • Biên tập âm nhạc: Vương Văn Hoa;
  • Thu âm: Hồ Tiểu Vĩ, Lương Bách Cường;
  • Soạn lời: Diêm Túc;
  • Soạn nhạc: Hứa Kính Thanh;
  • Ca sĩ: Tương Đại Vi, Lý Tĩnh Nhàn, Diệp Mao, Lý Linh Ngọc, Ngô Tịnh, Trì Trọng Thụy, Hồ Dần Dần, Úc Quân Kiếm, Chu Lập Phu;
  • Diễn tấu: Đội nhạc đàn sáo múa tinh hoa trung ương;
  • Chỉ huy: Hồ Bỉnh Húc;
  • Kịch vụ: Sa Kiệt, Từ Lôi Đình, Dương Bân, Tào Kiến Quân;
  • Phó chủ nhiệm kịch vụ: Lý Hồng Dương;
  • Phối âm: Lý Dương, Lý Thế Hoành, Trương Vân Minh, Lý Ba, Vương Ngọc Lập, Trương Triều, Trần A Hỉ, Vương Tuyết Thuần, Ngô Quế Linh, Trì Trọng Thoại (khách mời), Mã Đức Hoa (khách mời);
  • Nhà sản xuất: Dương Khiết;
  • Tổng giám chế: Vương Phong, Nguyễn Nhược Lâm.

Dưới đây là danh sách 25 tập phim Tây du ký:

  1. 猴王初问世 – Hầu vương sơ vấn thế: Tôn Ngộ Không theo học phép Bồ Đề sư tổ, tương ứng nguyên tác hồi 1-2;
  2. 官封弼马温 – Quan phong Bật Mã Ôn: Tôn Ngộ Không náo loạn Long cung..., được phong Bật Mã Ôn, tương ứng nguyên tác hồi 2-4;
  3. 大圣闹天宫 – Đại Thánh náo thiên cung: Tôn Ngộ Không - Tề Thiên Đại Thánh náo Thiên cung, tương ứng nguyên tác hồi 4-7;
  4. 困囚五行山 – Giam cầm Ngũ Hành Sơn: Tôn Ngộ Không bị Phật Tổ giam cầm dưới núi Ngũ Hành, Đường Tăng thỉnh kinh, tương ứng nguyên tác hồi 7-9 và 12-13;
  5. 猴王保唐僧 – Hầu vương hộ Đường Tăng: Ngộ Không, Bạch Mã hộ giá Đường Tăng, tương ứng nguyên tác hồi 13-15;
  6. 祸起观音院 – Họa khởi Quan Âm viện: Tôn Ngộ Không và Quan Âm thu phục Hắc Hùng Tinh trộm cà sa, tương ứng nguyên tác hồi 16-17;
  7. 计收猪八戒 – Kế thu Trư Bát Giới: Thu phục Trư Bát Giới tại Cao Lão trang, tương ứng nguyên tác hồi 18-19;
  8. 坎途逢三难 – Khảm đường gặp tam tai: gặp nạn Hoàng Phong động, thu phục Sa Tăng, các Bồ Tát thử lòng Trư Bát Giới, tương ứng nguyên tác hồi 20-24;
  9. 偷吃人参果 – Thâu ngật nhân sâm quả: Tôn Ngộ Không trộm nhân sâm tại quán Trấn Nguyên đại tiên, tương ứng nguyên tác hồi 24-26;
  10. 三打白骨精 – Tam đả Bạch Cốt tinh: Tôn Ngộ Không ba lần đánh Bạch Cốt Tinh và bị đuổi về núi Hoa Quả, tương ứng nguyên tác hồi 27;
  11. 智激美猴王 – Trí kích Mĩ Hầu vương: Ngộ Không trở lại thu phục Hoàng Bào quái tại Bảo Tượng quốc, tương ứng nguyên tác hồi 28-31;
  12. 夺宝莲花洞 – Đoạt bảo Liên Hoa động: trừ yêu quái Kim Giác và Ngân Giác, tương ứng nguyên tác hồi 32-35;
  13. 除妖乌鸡国 – Trừ yêu Ô Kê quốc: trừ yêu đạo tại Ô Kê quốc, cứu sống quốc vương Ô Kê, tương ứng nguyên tác hồi 36-39;
  14. 大战红孩儿 – Đại chiến Hồng Hài Nhi: Quan Âm hỗ trợ thầy trò Đường Tăng thu phục Hồng Hài Nhi, tương ứng nguyên tác hồi 40-42;
  15. 斗法降三怪 – Đấu phép hạ tam quái: tại Xa Trì quốc, Ngộ Không đấu phép ba yêu quái lốt đạo sĩ, tương ứng nguyên tác hồi 44-46;
  16. 趣经女儿国 – Thỉnh kinh Nữ Nhi quốc: Đường Tăng qua Tây Lương nữ quốc, trừ bọ cạp tinh, tương ứng nguyên tác hồi 53-55;
  17. 三调芭蕉扇 – Tam điệu Tì Bà phiến: thầy trò qua Hỏa Diệm Sơn, thu phục Ngưu Ma Vương, tương ứng nguyên tác hồi 59-61;
  18. 扫塔辨奇冤 – Tảo tháp biện kì oan: qua Sái Trại quốc, Bạch Mã giúp thu phục Cửu Đầu Trùng, tương ứng nguyên tác hồi 62-63;
  19. 误入小雷音 – Ngộ nhập Tiểu Lôi Âm: thày trò gặp Hạnh Tiên, gặp yêu quái Hoàng Mi, tương ứng nguyên tác hồi 64-66;
  20. 孙猴巧行医 – Tôn hầu xảo hành y: Tôn Ngộ Không thu phục quái Trại Thái Tuế tại Châu Tử quốc, tương ứng nguyên tác hồi 68-71;
  21. 错坠盘丝洞 – Rơi nhầm Bàn Tơ động: thày trò gặp bảy nhện tinh và Đa Mục quái, tương ứng nguyên tác hồi 72-73;
  22. 四探无底洞 – Tứ thám vô đáy động: thầy trò gặp nạn tại động không đáy, thu phục Bạch Thử tinh, tương ứng nguyên tác hồi 80-83;
  23. 传艺玉华州 – Truyền nghệ Ngọc Hoa Châu: đến Ngọc Hoa châu, và thu phục Cửu Linh nguyên thánh, tương ứng nguyên tác hồi 84-85 và 88-90;
  24. 天竺收玉兔 – Thiên Trúc thâu Ngọc Thố: đến Thiên Trúc quốc, thu phục Ngọc thố tinh, tương ứng nguyên tác hồi 93-95;
  25. 波生极乐天 – Ba thăng Cực lạc thiên: thầy trò bái yết Phật Tổ và về đất Đường, tương ứng nguyên tác hồi 98-100.

Phần hai[sửa | sửa mã nguồn]

Phần hai phim Tây Du Kí được sản xuất năm 1998 - 1999, phát sóng năm 2000, gồm 16 tập, bổ sung cho những chuyện trên đường Tây du mà phần một chưa kể hết. Phim vẫn do Dương Khiết đạo diễn, khâu võ thuật được giao cho nhà chỉ đạo võ thuật Tào Vinh phụ trách. Các nhà làm phim lấy bối cảnh thầy trò Đường Tăng trở về Trường An và lần lượt kể lại những trắc trở trên đường đi cho vua Đường Thái Tông nghe. Hình ảnh minh họa cho lời kể chính là những tập phim "bổ khuyết" cho phần 1. Đạo diễn Dương Khiết đã đặt tên cho trọn bộ 16 tập phim sau là: Tây Du Kí tục biên. Theo giới chuyên môn nhận xét, phần hai Tây Du Kí không hấp dẫn bằng phần một, không phải các tai nạn phần 2 không hay bằng phần 1 mà chính là phần hai kéo dài. Khán giả cho rằng nó không cô động, lạm dụng kĩ xảo và nhạc phim lẫn tạo hình nhân vật, diễn viên già đi nhiều đã khiến cho phim không còn cái hồn vốn có của nó trước đây. Hay nói cách khác, có lẽ phim không thành công mà là do cái bóng của phần một quá lớn. Kĩ xảo phần 2 tiến triển rất nhiều và được xem là phát huy hiệu quả tối ưu các pha thần thông, thế nhưng chính kĩ xảo quá công phu này khiến cho những trận đấu của Tôn Ngộ Không kéo dài gây nhàm chán cho khán giả. Phần hai hóa trang của các nhân vật cũng không mấy sắc xảo hay không có sự phân biệt rõ ràng. Âm nhạc sử dụng cho phần hai cũng là nguyên nhân thất bại cho phim, nếu như phần một, âm nhạc đã khiến cho phim thành công thì chính phần hai, âm nhạc đã được thay mới hoàn toàn.

  1. 險渡通天河 – Hiểm độ Thông Thiên hà: thầy trò gặp nạn sông Thông Thiên,tương ứng nguyên tác hồi 47-48;
  2. 師徒生二心 – Sư đồ sanh nhị tâm: thu phục Linh Cảm đại vương, Ngộ Không trừ cướp, tương ứng nguyên tác hồi 49, 56-58;
  3. 真假美猴王 – Chân giả Mĩ Hầu Vương: nạn Ngộ Không thật giả, tương ứng nguyên tác hồi 58;
  4. 受阻獅駝嶺 – Thụ trở Sư Đà Lĩnh: thầy trò gặp nạn Thanh Sư, tương ứng nguyên tác hồi 58, 74;
  5. 遇仙孔雀台 – Ngộ Tiên Khổng Tước đài: yêu Thanh Sư, Bạch Tượng hại thầy trò, tương ứng nguyên tác hồi 75-76;
  6. 如來收大鵬 – Như Lai thu Đại Bàng: Phật Tổ trừ yêu Đại Bàng, thoát nạn tiên Khổng Tước, tương ứng nguyên tác hồi 77, 43;
  7. 情斷黑水河 – Tình đoạn Hắc Thủy Hà: Ma Ngang thái tử giúp trừ Đà Long, tương ứng nguyên tác hồi 43, 10;
  8. 收伏青牛怪 – Thu Phục Thanh Ngưu quái: Thác Tháp Lý thiên vương và Na Tra giúp trừ Thanh Ngưu quái, tương ứng nguyên tác hồi 50-51;
  9. 祈雨鳳仙郡 – Kỳ vũ Phụng Tiên quận: Thanh Ngưu bị Thái Thượng Lão Quân bắt, giúp trừ hạn quận Phụng Tiên, tương ứng nguyên tác hồi 52, 87;
  10. 大鬧披香殿 – Đại náo Phị Hương điện: Ngọc Đế phải làm mưa quận Phụng Tiên, tương ứng nguyên tác hồi 87, 67;
  11. 絕域變通途 – Tuyệt vực biến thông đồ: trừ Mãng Xà tinh, gặp nạn Báo Tử tinh, tương ứng nguyên tác hồi 67, 86;
  12. 淚灑隱霧山 – Lệ tẩy Ấn Vụ Sơn: trừ Báo Tử tinh, qua Tỉ Khâu quốc, tương ứng nguyên tác hồi 86, 78;
  13. 救難小兒城 – Cứu nạn Tiểu Nhi Thành: gặp Hồ Li Tinh ở Tỉ Khâu quốc, tương ứng nguyên tác hồi 78-79;
  14. 緝盜菩提城 – Tập đạo Bồ Đề Vực: thầy trò gặp Khấu viên ngoại huyện Địa Linh, tương ứng nguyên tác hồi 79, 88, 96-97;
  15. 還魂寇善人 – Hoàn hồn khấu thiện nhân: cứu Khấu viên ngoại, tương ứng nguyên tác hồi 97, 91;
  16. 觀燈金平府 – Quan đăng Kim Bình phủ: Tây Hải long công chúa giúp thu phục ba Tê Ngưu tinh, tương ứng nguyên tác hồi 91-92.

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Phần một[sửa | sửa mã nguồn]

Phần II[sửa | sửa mã nguồn]

Một số sự khác biệt nội dung so với nguyên tác[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Du Ký 1986 thường được xem là bộ phim dựng khá sát nguyên tác, với bố cục ngắn gọn, không rườm rà. Tuy nhiên có một số chi tiết dựng khác nguyên tác, thể hiện sự sáng tạo của đoàn phim.

  • Nạn tại Diệt Pháp quốc được dựng chung với nạn tại Ngọc hoa châu
  • Nạn Bọ cạp tinh đan xen với nạn Nữ nhi quốc. Ở nguyên tác Đường Tăng không có cảm tình với Nữ vương thì ở bản này lại dựng có phần khác đi
  • Thêm nhân vật Cao lão phu nhân trong nội dung thu phục Trư Bát Giới
  • Nội dung thu phục Tiểu Bạch long có thêm thắt chi tiết về quan hệ giữa Tiểu Bạch Long với Vạn thánh công chúa, và nạn thu phục Cửu đầu trùng cũng có sự thêm thắt nội dung
  • Nạn Hắc hùng tinh, bỏ nhân vật Lăng Hư
  • Nạn thu phục Ngọc thố, bỏ chi tiết về Thái Âm tinh quân
  • Bỏ qua hồi 11 nguyên tác
  • Thêm nhân vật Hắc hồ tinh nạn Bạch cốt tinh và Hoàng bào quái

Ngoài ra phim cũng có sự khác biệt với truyện trong xây dựng hình tượng nhân vật (các nhân vật chính đều có sự thay đổi đáng kể về hình dạng và tính cách), và cả tư tưởng, được xem là chịu ảnh hưởng tư tưởng chính thống của nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa lúc bấy giờ.

Phần hai sản xuất năm 1998 do làm dưới dạng thuật lại cho đầy đủ nội dung nên kịch bản có nhiều biến đổi, thêm thắt nhiều nhân vật, chủ yếu là các nhân vật nữ như: Khổng tước công chúa (trong truyện chỉ mô tả qua lời Phật tổ), Hắc thủy hà công chúa, Tây hải long công chúa, Julia (Châu Lệ Á - con Khấu viên ngoại), vợ anh tiều phu (thê tiều tử) nạn Báo tử tinh, thôn phụ quận Phụng Tiên,...

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đài truyền hình Việt Nam công chiếu năm 1990, phát lại năm 1991, HTV7 phát sóng các năm 1991 - 1992- 1993 - 1994 - 1995 và phát lại liên tục từ năm 1999 - 2000, HTV9 phát sóng năm 1991 -1992 - 1993 - 1995 - 1997 - 1998 - 2001 - 2002, VTV phát sóng năm 1998 - 2002 - 2007, Đồng Nai, Tiền Giang, Hà Tây, Vĩnh Long, Ninh Bình..v..v..đều ít nhất một lần trình chiếu, 2007 - 2008 - 2009 thêm HTVC - VTVC - BCTV - VTV3 và 2010 là VCTV1, VTC1, VTV1, VTV2
  2. ^ Diễn viên phim "TÂY DU KÍ" 72 phép thần thông - Những siêu diễn viên quần chúng
  3. ^ Tập 24: Thiên Trúc thâu ngọc thố và tập 25: Ba thăng Cực lạc thiên
  4. ^ Các lần bị đứt dây cáp được phát sóng trên đài CCTV vào mùa xuân năm 1987
  5. ^ Uông Việt đóng các tập 6, 9,10.
  6. ^ Từ Thiếu Hoa đóng các tập 4, 5, 7, 8, 11, 12, 14, 15, 16
  7. ^ Trì Trọng Thoại đóng các tập 13, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]