Tê giác Sumatra

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tê giác Sumatra
Sumatran Rhino 2.jpg
Tê giác Sumatra Emi và Harapan tại Vườn thú Cinncinatti.
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Perissodactyla
Họ (familia) Rhinocerotidae
Chi (genus) Dicerorhinus
Loài (species) D. sumatrensis
Danh pháp hai phần

Dicerorhinus sumatrensis
(Fischer, 1814)[2]

Vườn quốc gia Taman Negara Khu dự trữ hoang dã Tabin Vườn quốc gia Gunung Leuser Vườn quốc gia Kerinci Seblat Vườn quốc gia Bukit Barisan Selatan Vườn quốc gia Way KambasNơi cư trú của tê giác Sumatra
Nơi cư trú của tê giác Sumatra:
Màu hồng đào: tồn tại trong lịch sử
Màu đỏ đậm: được nuôi trong các khu bảo tồn, nhấp vào để hiển thị tên các khu bảo tồn đó[3]
Phân loài

Dicerorhinus sumatrensis harrissoni
Dicerorhinus sumatrensis sumatrensis

Dicerorhinus sumatrensis lasiotis

Tê giác Sumatra hay còn gọi là tê giác hai sừng là loài tê giác hiện còn tồn tại có kích thước nhỏ nhất, cũng như là một trong số các loài có nhiều lông nhất. Giống như các loài châu Phi, chúng có hai sừng. Đã từng có thời chúng phổ biến rộng rãi ở khu vực Đông Nam Á, nhưng ngày nay chỉ còn khoảng 300 cá thể. Chúng là loài đang ở trong tình trạng cực kỳ nguy cấp do săn bắn trộm, và các cố gắng nhằm phục hồi số lượng của chúng bằng cách nhân giống trong tình trạng bị giam cầm đã gặp rất nhiều khó khăn. Một trong số rất ít cố gắng đã đem lại thành công gần đây là một con tê giác cái đã được sinh ra vào ngày 30 tháng 7 năm 2004 tại vườn thú Cincinnati[4].

Phân loài và đặt tên[sửa | sửa mã nguồn]

Có hai phân loài:

  • Dicerorhinus sumatrensis harrissoni
  • Dicerorhinus sumatrensis sumatrensis

Tiến hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Tê giác Sumatra là loài sống sót cuối cùng trong cùng một nhóm với loài tê giác lông mịn đã tuyệt chủng.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Trong văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Van Strien, N.J., Manullang, B., Sectionov, Isnan, W., Khan, M.K.M, Sumardja, E., Ellis, S., Han, K.H., Boeadi, Payne, J. & Bradley Martin, E. (2008). Dicerorhinus sumatrensis. 2008 IUCN Red List of Threatened Species. IUCN 2008. Truy cập ngày 28 tháng 12, 2008.
  2. ^ Rookmaaker L.C. (1984). “The taxonomic history of the recent forms of Sumatran Rhinoceros (Dicerorhinus sumatrensis)”. Tạp chí của chi nhánh Malaysia của Hiệp hội châu Á Hoàng gia Anh 57 (1): 12–25. 
  3. ^ Lấy theo bản đồ phân bố trong:
    • Foose, Thomas J. và van Strien Nico (1997), Asian Rhinos – Status Survey and Conservation Action Plan., IUCN, Gland (Thụy Sĩ) và Cambridge (UK), ISBN 2-8317-0336-0 
    • Dinerstein, Eric (2003). The Return of the Unicorns; The Natural History and Conservation of the Greater One-Horned Rhinoceros. New York: Nhà in Đại học Columbia. ISBN 0-231-08450-1. 
      Bản đồ này chưa có dấu vết các cá thể có thể có tại Lào, Việt Nam hay Miến Điện.
  4. ^ Thông báo

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]