Tô Hoài

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tô Hoài
Sinh Nguyễn Sen
7 tháng 9, 1920(1920-09-07)
Phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, Việt Nam
Mất 6 tháng 7, 2014 (93 tuổi)
Hà Nội, Việt Nam
Bút danh Mai Trang
Mắt Biển
Thái Yên
Vũ Đột Kích
Hồng Hoa
Công việc Nhà văn
Quốc gia Việt Nam
Dân tộc Kinh
Quốc tịch Việt Nam
Giai đoạn sáng tác 1941 - 2006[cần dẫn nguồn]
Thể loại Truyện ngắn, thơ,...
Chủ đề Văn học
Giải thưởng nổi bật Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

Tô Hoài (tên khai sinh: Nguyễn Sen; 27 tháng 9 năm 19206 tháng 7 năm 2014)[1] là một nhà văn Việt Nam. Một số tác phẩm đề tài thiếu nhi của ông được dịch ra ngoại ngữ. Ông được nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật Đợt 1 (1996) cho các tác phẩm: Xóm giếng, Nhà nghèo, O chuột, Dế mèn phiêu lưu ký, Núi Cứu quốc, Truyện Tây Bắc, Mười năm, Xuống làng, Vỡ tỉnh, Tào lường, Họ Giàng ở Phìn Sa, Miền Tây, Vợ chồng A Phủ, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tô Hoài sinh ra tại quê nội ở thôn Cát Động, Thị Trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông trong một gia đình thợ thủ công. Tuy nhiên, ông lớn lên ở quê ngoại là làng Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam[2]. Bút danh Tô Hoài gắn với hai địa danh: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức.

Bước vào tuổi thanh niên, ông đã phải làm nhiều công việc để kiếm sống như dạy trẻ, bán hàng, kế toán hiệu buôn,... nhưng có những lúc thất nghiệp. Khi đến với văn chương, ông nhanh chóng được người đọc chú ý, nhất là qua truyện Dế Mèn phiêu lưu ký. Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc. Trong chiến tranh Đông Dương, ông chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực báo chí, nhưng vẫn có một số thành tựu quan trọng như Truyện Tây Bắc.

Từ năm 1954 trở đi, ông có điều kiện tập trung vào sáng tác. Tính đến nay, sau hơn sáu mươi năm lao động nghệ thuật, ông đã có hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, truyện dài kỳ, hồi ký, kịch bản phim, tiểu luậnkinh nghiệm sáng tác.

Ông mất ngày 6 tháng 7 năm 2014 tại Hà Nội, hưởng thọ 94 tuổi.

Sự nghiệp văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Ông viết văn từ trước năm 1945, với các thể loại truyện phong phú, đa dạng. Các tác phẩm chính của ông là:

    • Dế Mèn phiêu lưu kí (1941)
    • O chuột (1942)
    • Nhà nghèo (1944)
    • Truyện Tây Bắc (1953)
    • Miền Tây (1967)
    • Cát bụi chân ai (1992)
    • Ba người khác (2006)

Truyện dài Dế Mèn phiêu lưu ký được ông viết xong vào tháng 12 năm 1941 tại Nghĩa Đô, ngoại ô Hà Nội khi đó. Đây là tác phẩm rất nổi tiếng của ông dành cho thiếu nhi.

Tác phẩm gần đây nhất của ông là Ba người khác. Sách được viết xong năm 1992 nhưng đến 2006 mới được phép in, nội dung viết về thời kỳ cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam, đã gây tiếng vang lớn và có thể so sánh với Dế Mèn phiêu lưu ký, "đã mở ra diện mạo mới cho văn chương Việt Nam" trong nền văn học hiện thực.[3][4][5]

Trong cuộc đời sáng tác, ông đã dùng nhiều bút danh khác ngoài Tô Hoài như Mai Trang, Mắt Biển, Thái Yên, Vũ Đột Kích, Hồng Hoa và Phạm Hòa.

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giải nhất Tiểu thuyết của Hội Văn nghệ Việt Nam 1956 (Truyện Tây bắc);
  • Giải A Giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội 1970 (tiểu thuyết Quê nhà);
  • Giải thưởng của Hội Nhà văn Á-Phi năm 1970 (tiểu thuyết Miền Tây);
  • Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật (đợt 1 - 1996).
  • Giải Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội 2010[6]

Quan điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Hà Nội do dân tứ phương lập lên. Người Hà Nội gốc có lẽ chỉ là mấy anh đánh cá ở sông Tô Lịch. Mà Tô Lịch chỉ còn là một phế tích. Chẳng có ai sống ở Hà Nội được đến mười đời. Vì thế muốn hiểu tính cách người Hà Nội, ta phải tìm hiểu tính cách chung của người Việt Nam, rồi nghiên cứu cá tính người thành thị thì mới ra tính cách người Hà Nội. Tất nhiên người Hà Nội có nét hào hoa phong nhã, nhưng đấy không phải tận gốc mà là tinh hoa của nhiều vùng đất tạo nên. Dân Hà Nội là dân tứ chiếng. Vì thế, ở Hà Nội tuyệt nhiên không có chuyện cục bộ địa phương. Bất cứ ai cũng có thể về làm Lãnh đạo Hà Nội. Tôi cho đó cũng là một nét rất hay của Hà Nội.[7]

Nhà thơ Trần Đăng Khoa

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Tô Hoài như một từ điển sống, một pho sách sống. Ông như cuốn Bách khoa Toàn thư mà không Viện sĩ nào, không Học giả nào có thể sánh được. Tôi đã có dịp tò mò hỏi ông về Hà Nội và rất ngạc nhiên. Tôi không ngờ ông hiểu Hà Nội sâu sắc đến thế. Tôi gọi ông là Nhà Hà Nội học, dù ông không nghiên cứu

.[7]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hà An (6 tháng 7 năm 2014). “Nhà văn Tô Hoài qua đời”. VnExpress. 
  2. ^ Theo sách giáo khoa Ngữ Văn 12, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
  3. ^ “Toạ đàm về Ba người khác của Tô Hoài (22/12/2006)”. talawas. 6 tháng 1 năm 2007. 
  4. ^ Trúc Anh (27 tháng 1 năm 2007). “Đọc "Ba người khác"”. SGGP online. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2014. 
  5. ^ Trần Thư. “Những ám ảnh quá khứ trong "Ba người khác"”. Tôn vinh văn hóa đọc. 
  6. ^ “Trao giải "Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội": Nhà văn Tô Hoài nhận Giải Thưởng lớn”. Thể thao Văn hóa. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  7. ^ a ă Trần Đăng Khoa: Tô Hoài, tôi rất mê ông!Trần Đăng Khoa, VOV, ngày 07/07/2014 (bị cắt bớt sau đó). Báo Quảng Ninh dẫn lại ngày 08/07/2014 (còn nguyên bản). Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2014

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]