Tô màu đồ thị

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đồ thị Petersen có sắc số bằng 3.

Trong Lý thuyết đồ thị, tô màu đồ thị (tiếng Anh: graph coloring) là trường hợp đặc biệt của gán nhãn đồ thị, mà trong đó mỗi đỉnh hay mỗi cạnh hay mỗi miền của đồ thị có thể được gán bởi một màu hay một tập hợp các màu nào đó. Tô màu đồ thị có thể là:

  • tô màu đỉnh (tiếng Anh: vertex coloring) là gán cho mỗi đỉnh của đồ thị một màu nào đó sao cho không có hai đỉnh nào liền kề lại trùng màu nhau;
  • tô màu cạnh (tiếng Anh: edge coloring) là gán cho mỗi cạnh của đồ thị một màu nào đó sao cho sao cho không có 2 cạnh nào trùng màu;
  • tô màu miền (tiếng Anh: face coloring) là gán cho mỗi miền của đồ thị phẳng một màu sao cho không có 2 miền có chung đường biên lại cùng màu.

Sắc số (tiếng Anh: chromatic number) của một đồ thị là số màu ít nhất để tô các đỉnh. Sắc số của đồ thị G được kí hiệu là χ(G).

Số màu cạnh (tiếng Anh: chromatic index) của một đồ thị là số màu ít nhất dùng để tô các cạnh. Số màu cạnh của đồ thị G được kí hiệu là χ'(G).

Số màu cạnh của đồ thị G bất kì bằng sắc số của đồ thị đường L((G)) của đồ thị đó:

χ'(G) = χ(L(G)),

do đó việc nghiên cứu tô màu cạnh của G tương đương với nghiên cứu tô màu đỉnh của L(G).

Các định lí và tính chất[sửa | sửa mã nguồn]

Các giá trị giới hạn của sắc số[sửa | sửa mã nguồn]

Rõ ràng sắc số của một đồ thị sẽ không vượt quá số đỉnh của nó (bậc của đồ thị):

1 \le \chi(G) \le n.\,.

Nếu Gclique kích thước k thì cần ít nhất k màu để tô màu đỉnh cho clique này (xem thêm bài về đồ thị đầy đủ), như vậy sắc số của một đồ thị sẽ không nhỏ hơn chỉ số clique của đồ thị đó:

\chi(G) \ge \omega(G).\,

Nếu đồ thị đơn G có bậc cực đại bằng Δ(G) thì sắc số của nó không vượt quá Δ(G)+1[1].

Tổng quát hơn là định lý Brook, định lý khẳng định rằng:

Tất cả mọi đồ thị đơn và liên thông G, ngoại trừ đồ thị đầy đủ K_nđồ thị chu trình bậc lẻ W_n, đều có sắc số nhỏ hơn hoặc bằng bậc cực đại:
\chi (G) \le Δ(G).

Nếu đồ thị Gm cạnh thì sắc số của nó thỏa mãn:

\chi(G)(\chi(G)-1) \le 2m.\,

Một số định lý liên quan của sắc số[sửa | sửa mã nguồn]

Định lý 1[sửa | sửa mã nguồn]

Bất cứ chu trình độ dài lẻ nào cũng đều có sắc số bằng 3

Chứng minh: Giả sử chu trình có độ dài là 2n +1 ta chứng minh theo số n

  • n=1 chu trình gồm 3 đỉnh mà 2 đỉnh bất kì đều kề nhau  \Rightarrow dùng đúng 3 màu để tô
  • (n) \Rightarrow (n+1) Giả sử \alpha là một chu trình có độ dài 2(n+1)+1=2n+3 với các dãy đỉnh là x_1, x_2,...,x_{2n+1},x_{2n+2},x_{2n+3}.

Nối x_1 với x_{2n+1} ta được một chu trình \alpha'có độ dài 2n+1.

Theo giả thuyết quy nạp chu trình \alpha' có sắc số bằng 3.

Lấy màu của x_1 tô cho x_{2n+2} còn màu của x_{2n+1} tô cho x_{2n+3}.

Chu trình \alpha được tô màu mà không thêm màu mới vào.

Vậy chu trình \alpha có sắc số bằng 3

Định lý 2[sửa | sửa mã nguồn]

Đồ thị đầy đủ n đỉnh Kn có sắc số bằng n

Một số tiêu chuẩn đơn giản để kiểm tra xem 1 đồ thị có hai sắc số hay không:

  • Ta có định lý: Giả sử đồ thị G có ít nhất một cạnh. Đồ thị G có hai sắc số khi và chỉ khi G không có chu trình đơn vô hướng độ dài lẻ.

Chứng minh:

  • Giả sử G là đồ thị có hai sắc số. Theo Định lý 1 thì G không thể có chu trình đơn vô hướng độ dài lẻ.
  • Ngược lại giả sử G không có chu trình đơn vô hướng độ dài lẻ. Không mất tính tổng quát có thể xem G liên thông.

Chọn 1 đỉnh a nào đó bất kì trong đồ thị

Đặt m(a)= 0 (m: số màu)

Với x \ne a Ta ký hiệu d(x)là độ dài đường đi vô hướng ngắn nhất nối a vớix

Đặt m(x)= d(x) mod 2

Ta sẽ chứng minh m là hàm màu của G

Giả sử  x, y kề nhau

Lấy  d(x) là đường đi vô hướng ngắn nhất nối a với x có độ dài  d(x)
 d(y) là đường đi vô hướng ngắn nhất nối a với y có độ dài d(y)

Chu trình đơn  [d(x),(x,y),d(y)] có độ dài d(x)+d(y)+1 phải là một số chẵn

Vậy thì  d(x)+d(y) là một số lẻ  \Rightarrow  d(x), d(y) khác nhau tính chẵn lẻ

\Rightarrow m(x) \ne m(y)

Hàm tô màu m có hai giá trị, vậy sắc số ≤ 2. G có ít nhất một cạnh nên sắc số của nó bằng 2

Từ định lý trên ta có hệ quả sau: Tất cả các chu trình độ dài chẵn đều có sắc số bằng 2.

Định lý 3[sửa | sửa mã nguồn]

Phát biểu: Nếu G có chứa 1 đồ thị con đẳng cấu với Kn thì  x(G) \ge n.

Chứng minh: Hiển nhiên

Các giá trị giới hạn của số màu cạnh[sửa | sửa mã nguồn]

Định lí 1[sửa | sửa mã nguồn]

Số màu cạnh của đồ thị đơn G bất kì không vượt quá số đỉnh của nó.

Định lý König khẳng định rằng đối với đồ thị hai phía G, số màu cạnh của nó bằng bậc cực đại của nó: \chi'(G) = \Delta(G).

Định lý Vizing khẳng định rằng, nếu đồ thị đơn G có bậc cực đại bằng \Delta(G) thì số màu cạnh của nó bằng \Delta(G) hoặc \Delta(G)+1.

Đa thức màu[sửa | sửa mã nguồn]

Xem bài đa thức màu.

Sắc số và số màu cạnh của một số đồ thị cơ bản[sửa | sửa mã nguồn]

Khái niệm sắc số liên quan đến bài toán tô màu như sau: Hãy tô màu các đỉnh của đồ thị đã cho, sao cho 2 đỉnh kề phải được tô bằng hai màu khác nhau

Đồ thị hai phía[sửa | sửa mã nguồn]

Đồ thị hai phía đầy đủ K_{m,n} có sắc số bằng 2: χ(K_{3,3})=2. Mở rộng: một đồ thị hai phía bất kì có sắc số không vượt quá 2.

Ví dụ minh họa là các đỉnh của đồ thị K_{3,3} có thể được tô bởi hai màu xanh và đỏ.

Đồ thị chu trình[sửa | sửa mã nguồn]

Đồ thị chu trình C_n có sắc số bằng:

  • χ(C_n)= 3, nếu n lẻ.
  • χ(C_n)= 2, nếu n chẵn.

Số màu cạnh:

  • χ'(C_n)= 3, nếu n lẻ.
  • χ'(C_n)= 2, nếu n chẵn.

Đồ thị bánh xe[sửa | sửa mã nguồn]

Đồ thị bánh xe W_n (n≥4) có sắc số bằng:

  • χ(W_n)= 4, nếu n chẵn;
  • χ(W_n)= 3, nếu n lẻ.

Số màu cạnh (n≥3):

  • χ'(W_n)= n-1.

Đồ thị đầy đủ[sửa | sửa mã nguồn]

Đồ thị đầy đủ K_n có sắc số bằng:

  • χ(K_n) = n.

Số màu cạnh:

  • χ'(K_n) = n, nếu n lẻ.
  • χ'(K_n) = n-1, nếu n chẵn.

Đồ thị siêu khối[sửa | sửa mã nguồn]

Đồ thị siêu khối Q_n có sắc số bằng 2, vì bản thân nó là đồ thị phân đôi.

Ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Tô màu bản đồ[sửa | sửa mã nguồn]

Trên các bản đồ, các miền khác nhau (miền ở đây được hiểu là các quốc gia trên bản đồ thế giới hay các tỉnh trong một bản đồ hành chính quốc gia) được tô màu sao cho 2 miền có chung biên giới không trùng màu nhau. Đối với bản đồ có nhiều miền, nếu ta dùng một số lượng lớn màu thì sẽ rất khó phân biệt các miền có màu gần giống nhau, vì thế người ta chỉ dùng một số lượng màu nhất định để tô màu bản đồ. Một bài toán được đặt ra là: có thể dùng ít nhất bao nhiêu màu để tô màu một bản đồ sao cho các miền kề nhau không cùng một màu[2] (tr.593).

Bài toán này dẫn đến định lý bốn màu nổi tiếng và định lý năm màu[3]. Các dạng bài toán tô màu bản đồ có thể áp dụng Thuật toán tô màu Greedy để tìm ra số màu ít nhất để tô cho các miền trên bản đồ.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Vũ Đình Hòa, Đồ thị, NXB Giáo dục
  2. ^ Kenneth H.Rosen, Toán học rời rạc, NXB Khoa Học và Kỹ thuật Hà Nội, 2003
  3. ^ Trần Đan Thư - Dương Anh Đức (2008). Lý Thuyết Đồ Thị. Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Panconesi, A.; Srinivasan, A. (1996), “On the complexity of distributed network decomposition”, Journal of Algorithms 20 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]