Tôi tớ Chúa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tôi tớ Chúa (Latinh: Servus Dei), hoặc "Tôi tớ của Thiên Chúa", là danh hiệu dành cho các Kitô hữu được cho là đạo đức trong các giáo hội Kitô giáo. Đối với Giáo hội Công giáo Rôma, đây là cấp bậc sơ khởi trong tiến trình phong thánh cho một tín hữu. Còn trong các giáo hội Chính Thống giáo Đông phương, danh hiệu này có thể dành cho bất kỳ tín hữu nào thuộc giáo hội của họ.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Danh xưng "Tôi tớ Chúa" xuất hiện bảy lần trong Kinh Thánh (gồm bốn lần trong Cựu Ước và ba lần trong Tân Ước): "Môisê tôi tớ Thiên Chúa" (Sách Sử Biên Niên quyển thứ nhất 6:49, quyển thứ hai 24:9; Sách Nơkhemia 10:29; Sách Đanien 9: 11; Sách Khải Huyền 15:3). Trong Tân Ước, Phaolô tự gọi mình là "tôi tớ của Thiên Chúa" trong Thư Titô 1:1, và Giuđa tự gọi mình là "tôi tớ của Thiên Chúa" trong Thư Giuđa 1:1.

Công giáo Rôma[sửa | sửa mã nguồn]

"Tôi tớ Chúa" là cấp bậc đầu tiên mà Giáo hội Công giáo mà dành cho một tín hữu đã qua đời trong tiến trình điều tra để phong thánh cho người đó. Việc điều tra phong thánh thuộc thẩm quyền của Thánh Bộ Phong Thánh trong Giáo triều Rômagiáo hoàng là người quyết định công bố chính thức.

Danh hiệu "Tôi tớ Chúa" (Latinh: Servus Dei) không nên nhầm lẫn với danh hiệu "Tôi tớ của các Tôi tớ Chúa" (Servus Servorum Dei) vì đây một trong những danh hiệu của giáo hoàng.

Giáo luật liên quan đến các thủ tục tiến trình phong thánh được nói trong Tông huấn "Về Việc Cải Biên Những Thủ Tục của Tiến Trình Phong Thánh" (Divinus Perfectionis Magister) do Giáo hoàng Gioan Phaolô II ban hành ngày 25 tháng 1 năm 1983.

Tiến trình tuyên thánh trong Giáo hội Công giáo Rôma
  Tôi tớ Chúa   →   Đấng đáng kính   →   Chân phước   →   Hiển thánh