Tôn Vũ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tôn Vũ
Tượng Tôn Vũ tại Yurihama, Tottori, Nhật Bản
Công việc Tướng
Dân tộc Trung Quốc
Giai đoạn sáng tác Cuối thời Xuân Thu
Chủ đề Chiến thuật quân sự
Tác phẩm nổi bật Binh pháp Tôn Tử

Tôn Vũ (545 TCN - 470 TCN) Trung văn giản thể: 孙武; Trung văn phồn thể: 孫武; bính âm: Sūn Wǔ tên chữ là Trưởng Khanh, người Lạc An nước Tề (nay là Huệ Dân - Sơn Đông - TQ), ở cuối thời Xuân Thu, năm sinh năm mất đều không xác định được, nhờ cuốn binh thư của mình mà được tôn là Tôn Tử, lại bởi hoạt động chủ yếu ở nước Ngô, nên được gọi là Ngô Tôn Tử để phân biệt với Tôn Tẫn (Tề Tôn Tử là người nước Tề ở thời Chiến Quốc)

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Thuấn chính là thủy tổ của Tôn Vũ. Vào thời Tây Chu, hậu duệ của vua Thuấn là Hồ Công (vốn họ Quy) được phong tước hầu ở nước Trần. Năm 671 TCN Trần Hiến tức Công tử Hoàn của nước Trần Bởi tránh nội loạn dẫn mọi người trong nhà lưu vong sang nước Tề, đổi tên là Điền Hoàn. Điền Thư là cháu đời thứ năm của Điền Hoàn, bởi họ điền có nhiều chiến công nên được Tề vương phong đất ở Lạc An (tức Huệ Dân - Sơn Đông ngày nay), cho đổi họ Tôn. Điền Thư sinh ra Điền Bằng (còn gọi là Tôn Phùng), khi đó họ Điền Tôn là một trong bốn họ quý tộc lớn của nước Tề. Điền Bằng lấy con gái của họ Phạm cũng là một họ quý tộc của nước Tề sinh ra Tôn Vũ.[1][2][3]

Hồi đó các cuộc đấu đá tranh giành quyền lực cũng tàn khốc khác thường. Tôn Vũ phải mang gia đình chạy đến ẩn cư ở ngoại thành Cô Tô là kinh đô của nước Ngô (nay là Tô Châu).[2]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn Vũ

Tôn Vũ tên chữ là Trưởng Khanh, ông sinh vào khoảng 100 năm sau khi Tề Hoàn Công qua đời và sinh sau Khổng Tử ít lâu, vào khoảng trước hoặc sau năm 540 TCN [4], nhưng theo Tào Nghiêu Đức thì cụ thể ông sinh năm 545 TCN, tức năm Chu Linh Vương thứ 27, Tề Cảnh Công năm thứ 3 ngày 28 tháng 8, ở Lạc An nước Tề.[5] Vì nội loạn nên gia đình phải chạy đến La Phù Sơn ở ngoại thành Cô Tô là kinh đô của nước Ngô, cầy cấy dệt cửi để sinh sống, ông để tâm nghiên cứu binh pháp. Thời gian này Tôn Vũ với Ngũ Tử Tư (là trọng thần của nước Ngô) Kết thành mối quan hệ gắn bó. Ngũ Tử Tư liền tiến cử Tôn Vũ với Ngô vương. Tôn Vũ dâng 13 chương binh pháp lên Ngô vương là Hạp Lư, được Ngô vương rất tán thưởng, Tôn Vũ dùng ngay các cung nữ để diễn tập binh pháp, chém mỹ nhân để thị uy, khiến Ngô vương rất nể vì, lệnh cho làm thượng tướng quân, rồi phong làm quân sư. Tôn vũ sau đó cùng với Ngũ Tử Tư trợ giúp Ngô vương cải cách chính sự, tăng cường quốc lực.[6] Tư Mã Thiên viết trong Sử Ký: Hạp Lư biết Tôn Tử có tài dùng binh và cho Tôn Tử làm tướng. Phía tây quân Ngô phá nước Sở mạnh, đi vào đất Sính; phía bắc uy hiếp nước Tề, nước Tấn, nổi tiếng ở chư hầu, Tôn Tử có công ở đấy.[7] Tuy nhiên có mấy vấn đề luôn gây ra sự tranh cãi kịch liệt từ trước đến nay; Tôn Vũ sinh vào năm nào, rốt cuộc Tôn Vũ đã thân chinh chỉ huy bao nhiêu trận đánh. Vừa qua giới nghiên cứu lịch sử cổ đại Trung Quốc khi đã nghiên cứu, đối chiếu, tổng hợp, so sánh từ các sử liệu: Ngô Việt Xuân Thu, Việt sắc thư, Tả truyện, Sử ký... đã đưa ra kết luận: Trong sự nghiệp quân dịch của mình, Tôn Vũ trực tiếp chỉ huy năm trận đánh và chính năm trận chiến "để đời" này đã góp phần đưa tên tuổi của ông bất hủ cùng thời gian [8]

Lần chỉ huy thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 12 năm 512 TCN, khi đó Ngô vương là Hạp Lư ra lệnh cho Tôn Vũ chỉ huy quân tiêu diệt hai nước nhỏ là nước Chung Ngônước Từ. Trong lần cầm quân đầu tiên này, Tôn Vũ đã xuất sắc hạ gọn hai nước trên đồng thời thừa thắng chiếm được đất Thư thuộc nước Sở, lập công lớn được Ngô vương ban thưởng.

Lần chỉ huy thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 511 TCN, Tôn Vũ lại thống lĩnh ba quân cùng Ngũ Tử Tư, Bá Hi đi chinh phạt nước Sở bởi lý do "Sở vương từ chối không chịu trao thanh bảo kiếm Trạm Lư cho Hạp Lư". Dưới quyền chỉ huy của Tôn Vũ quân Ngô đánh hai trận thắng cả hai, chiếm được hai xứ Lục và Tiềm thuộc đất Sở.

Lần chỉ huy thứ ba[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 510 TCN, lúc này giữa nước Ngônước Việt lần đầu tiên xảy ra cuộc chiến tranh quy mô lớn mà sử sách còn ghi lại đó là cuộc "Đại chiến Huề - Lý". Trong cuộc chiến này lần đầu tiên Tôn Vũ đưa ra cách dụng binh Quý hồ tinh bất quý hồ đa trong đánh trận, do vậy chỉ với ba vạn quân với phép dụng binh tài tình của mình, Tôn Vũ đã đánh bại 16 vạn quân nước Việt.

Lần chỉ huy thứ tư[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 509 TCN xảy ra cuộc Đại chiến Dự Chương giữa nước Ngônước Sở. Khi đó vua Sở sai con trai là công tử Tử Thường và công tử Tử Phàm dẫn đại quân tiến đánh nước Ngô, nhằm báo thù nỗi nhục mất đất năm xưa. Một lần nữa Ngô vương Hạp Lư lại giao cho Tôn Vũ cầm quân chống giặc. Lần này Tôn Vũ khôn khéo vòng tránh đội quân chủ lực của công tử Tử Thường; dùng lối đánh vu hồi tập kích doanh trại bắt sống công tử Tử Phàm, quân Sở từ thế mạnh, chuyển sang yếu cầm cự chưa đầy một tháng phải rút chạy về nước.

Lần chỉ huy thứ năm[sửa | sửa mã nguồn]

Hai nước Ngô - Sở một lần nữa xảy ra chiến tranh vào ngày 18 tháng 11 năm 506 TCN sử sách gọi đây là cuộc chiến Bách Cử. Đây là cuộc chiến lớn nhất trong lịch sử hai nước. Lần này quân Sở huy động 25 vạn quân tiến đánh nước Ngô, khí thế báo thù rất sôi sục. Theo kế của Tôn Vũ và Ngũ Tử Tư vua Ngô bí mật liên kết với hai nước nhỏ là Đường và Thái làm thành liên minh chống Sở. Khi tác chiến, Tôn Vũ triệt để lợi dụng địa hình thuận lợi của hai nước "đồng Minh" để triển khai chiến thuật "Khống chế chính diện", "Tập kích vu hồi mạn sườn" của mình. Sau năm lần giao chiến với quân Sở, Tôn Vũ đều giành thắng lợi. Cuối cùng 3 vạn quân Ngô đã phá tan 25 vạn quân Sở buộc Sở vương phải tháo chạy.[9][10]

  • Với năm trận đánh "để đời" này, uy danh và tài thao lược quân sự của Tôn Vũ lừng lẫy khắp thiên hạ. Nhưng sau khi lập được công lao ông không muốn làm quan, cố tình về núi làm dân thường, mai danh ẩn tích, không biết cuối cùng ra sao nữa. Cuốn sách Việt tuyệt thư nói rằng: ở mười dặm ngoài thành Cô Tô có mộ Tôn Vũ, thực giả ra sao cũng khó xác định.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ HDD Group, binh pháp Tôn Tử, NXB Hà Nội, trang 62
  2. ^ a ă Mã Nhất Phu, Binh Pháp Tôn Tử, NXB Văn hoá thông tin, 2005, trang 6
  3. ^ Tào Nghiêu Đức, trang 26
  4. ^ HĐ Group, trang 62
  5. ^ Tào Nghiêu Đức, Truyện Tôn Tử, NXB Hà Nội, 2001, trang 26
  6. ^ Đức Thành, Binh pháp Tôn Tử, NXB Văn hoá thông tin, 2006, trang 608
  7. ^ Tư Mã Thiên, Sử ký, NXB Văn học, 1971, trang 321
  8. ^ Đức Thành SĐD, trang 608
  9. ^ Đức Thành, SĐD, trang 610
  10. ^ Trong Mã Nhất Phu, SĐD, trang 9 nói quân Sở có 20 vạn

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]