Tôn giáo Ai Cập cổ đại

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Một phần của loạt bài
Tín ngưỡng Ai Cập cổ đại

Eye of Horus bw.svg
Niềm tin chủ yếu

Tín ngưỡng · Linh hồn · Duat · Con số · Đa thần giáo

Tập quán

Cúng bái · Chôn cất

Amun · Amunet · Anubis · Anuket · Apep · Apis · Aten · Atum · Bastet · Bat · Bes · Bốn người con của Horus · Geb · Hapy · Hathor · Heka · Heqet · Horus · Isis · Khepri  · Khnum · Khonsu · Kuk · Maahes  · Ma'at · Mafdet · Menhit · Meretseger · Meskhenet · Monthu · Min · Mnevis · Mut · Neith · Nekhbet · Nephthys · Nu · Nut · Osiris · Pakhet · Ptah · Ra · Ra-Horakhty · Reshep · Satis · Sekhmet · Seker · Selket · Sobek · Sopdu · Set · Seshat · Shu · Taweret · Tefnut · Thoth · Wadjet · Wadj-wer · Wepwawet · Wosret

Tài liệu

Amduat · Sách hơi thở · Sách hang · Sách chết · Sách Trái Đất · Sách cổng · Sách địa ngục

Khác

Atenism · Lời nguyền của các Pharaông

Tôn giáo Ai Cập cổ đại bao gồm các niềm tin tôn giáo và nghi thức khác nhau tại Ai Cập cổ đại qua hơn 3.000 năm, từ thời kỳ Tiền Triều Đại cho đến khi du nhập Kitô giáo trong những thế kỷ đầu Công nguyên. Những niềm tin này tập trung vào thờ cúng các vị thần đại diện cho nhiều khía cạnh, ý tưởng và chức năng quyền lực khác nhau của thiên nhiên, thể hiện qua các nguyên mẫu phức tạp và đa dạng. Vào thời kỳ của triều đại thứ 18, người Ai Cập đã có nâng vị thế một số đơn vị thần như Amun lên hàng đấng sáng tạo vũ trụt với nhiều biểu hiện, tương tự như khái niệm kinh tế cũng được tìm thấy trong đạo Ki-tô: niềm tin rằng một Thượng đế có thể tồn tại trong nhiều hơn một người [1].

Những vị thần được tôn thờ với các nghi lễ và cầu nguyện, trong các ngôi đền địa phương và đền thờ gia đình cũng như trong ngôi đền chính thức quản lý bởi các giáo sĩ. Các vị thần khác nhau đã được nổi bật ở giai đoạn khác nhau của lịch sử Ai Cập, và các huyền thoại liên quan đến họ thay đổi theo thời gian, do đó, Ai Cập chưa bao giờ có một hệ thống thứ bậc các vị thần chặt chẽ hay một thần thoại thống nhất. Dù vậy, trong tôn giáo Ai Cập có nhiều niềm tin bao quát. Trong số đó có sự tôn thờ của pharaon - đã giúp thống nhất quốc gia về mặt chính trị [2], và niềm tin phức tạp về một thế giới bên kia, mà đã dẫn đến việc gia tăng tục chon cất công phu của người Ai Cập.

Các vị thần[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền thuyết về các vị thần của Ai Cập cổ đại khá đặc biệt. Thần Mặt Trời, hay Thần Thái Dương là Ra, sinh ra hai vị thần, nam thần Shu - thần không khí và nữ thần Tefnut, thần hơi nước [3]. Shu và Tefnut cưới nhau rồi sinh ra đôi thần trai gái là NutGeb. Nut và Geb cũng yêu nhau, nhưng bị cha cấm hẹn hò vì vậy họ phải lén lút với nhau. Một hôm, thần Shu bắt gặp, ném Nút lên trời, đạp Gép xuống sâu trong mặt đất [4]. Từ đó, Nút là nữ thần bầu trời, Gép là nam thần mặt đất. Nhưng nhờ có thần trí tuệ Thot, cả hai cũng được cưới nhau và bên nhau chỉ trong năm ngày (thần Shu làm cho lịch thành 360 ngày, thần Thot thắng 72 ván cờ với thần Shu nên đã làm cho lịch chuyển thành 365 ngày nhờ ánh sáng của thần Thái dương).

Nút sinh ra năm vị thần là: Osiris, Isis, Seth, NephthisHaeroit. Cả năm vị thần đều là những vị thần quan trọng trong thế giới Ai Cập, được ghi chép lại trong cuốn "Book of The Dead" nghĩa là Sách của Người Chết.

Thần Ra[sửa | sửa mã nguồn]

Thần Ra, Thần Mặt trời của Ai Cập.

Thần Ra là Thần Mặt trời của Ai Cập. Trong Sách của Người Chết có miêu tả thần Ra vào buổi sáng biến thành một em bé, buổi trưa trở thành một thanh niên lực lưỡng và về chiều tối, thần trở thành một ông cụ [5].

Truyền thuyết kể lại rằng, Isis, vợ của Osiris, ghen tỵ với thần Ra, nàng liền nặn một con rắn bằng đất ở chỗ thần Ra vẫn thường đi lại. Khi thần Ra tới, nàng núp sau một tảng đá, hóa phép cho con rắn thức dậy, con rắn liền cắn thần Ra một nhát chí mạng. Thế là, mọi quyền của thần Ra đều thuộc về Isis [6].

Osiris và Seth[sửa | sửa mã nguồn]

Bốn người con của Horus, tên của bốn vị, từ trái sang: Imsety, Duamutef, Hapy, và Qebehsenuef.

Osiris cưới Isis rồi Isis sinh ra Horus. Osiris được nối ngôi Thần thái dương, trở thành thần nông nghiệp, thần sinh đẻ và thần hạnh phúc đem hạnh phúc cho nhân loại, cải tạo nông nghiệp, dạy dân trồng nho, làm rượu, trồng ngũ cốc và chăn gia súc [7]. Osiris cũng dạy con người cách xây đền thờ, xây kim tự tháp nguy nga, tráng lệ. Osiris đi đâu cũng được mọi người kính trọng và yêu quý. Tuy nhiên, thần Seth, em trai của thần Osiris, lại ghẻ lạnh và căm ghét Osiris chỉ vì anh được nối ngôi, được mọi người kính trọng. Rồi Seth đã nghĩ ra kế hiểm độc đó là giết chết anh trai bằng cách dụ Orisis nằm vào quan tài rồi đóng đinh và thả xuống biển. Sau đó, Seth chiếm đoạt ngôi vị của anh trai và làm bao điều bạo tàn, ác độc khiến cho dân chúng và các vị thần khác bất bình [8]. Isis biết chuyện, đau khổ vô cùng và tìm mọi cách để tìm thân thể Osiris. Sau khi tìm thấy thân thể chồng, Isis kể lại cho con trai Horus nghe. Từ đó, Horus nung nấu ý định giết Seth, trả thù cha.

Cuộc chiến căng thẳng giữa Horus và Seth[sửa | sửa mã nguồn]

Khi đã lớn, Horus triệu tập nhiều trai tráng trong vùng để tập , thành lập một đội để trả thù Seth. Ngày càng có nhiều người vào đội của Horus. Ngày nọ, Horus đến tuyên chiến với Seth nhưng thất bại. Lần hai, Horus đã bẫy được Seth bằng cách cho thuộc hạ núp ở tòa lâu đài rồi căng lưới ra mà bắt. Nhưng Isis tốt bụng đã tha cho Seth, Horus chặt đi một đuôi tóc của Isis [9] rồi lại tuyên chiến lần nữa, nhưng lần này, cả hai đều lên trời nhờ 9 vị thần trên bầu trời xử giúp. Cả 9 vị thần đều biết câu chuyện xấu số của Orisis nên đều nói rằng Horus được nối ngôi.

Nhưng Seth vẫn không chịu thua, Horus cũng tuyên chiến với Seth lần nữa. Sau những gian nan hiểm trở, cuối cùng, Horus được nối ngôi cha và Seth bị Thần thái dương Ra sai làm nô tì cho thần.

Câu chuyện về âm phủ và thế giới bên kia[sửa | sửa mã nguồn]

Thần Osiris, Anubis và Horus trong bức bích họa ở một kim tự tháp, Ai Cập.
Con quái vật Ammit, người Ai Cập tin rằng con quái vật sẽ ăn trái tim của người chết nếu người đó nói dối.

Người Ai Cập tin rằng ở thế giới bên kia, các vị thần chờ những người đã mất ở đó để đón lên thiên đàng hoặc đày xuống địa ngục. Khi qua thiên đường, phải gặp thần Anubis, Anubis dẫn người chết đi đến chiếc cân trái tim, để cân xem người đó ác hay tốt. Nếu anh ta nói dối, chứng tỏ anh ta là người xấu, sẽ bị Ammit, con quái vật hình cá sấu ăn trái tim và bị đày đi địa ngục. Còn nếu trả lời đúng, anh ta sẽ được tiếp đón hậu hĩnh bởi thần Osiris, thần âm phủ [10].

Người Ai Cập rất mê tín nên họ chả dám làm gì sai trái vì câu chuyện trên. Nhưng không phải tất cả đều làm điều tốt. Và tất nhiên là xã hội bao giờ mả chả thế!

Các kim tự tháp và việc thờ cúng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Kim tự tháp
Kim tự tháp KheopsGiza, Ai Cập.
Mặt nạ bằng vàng của vua Tutankhamun.

Người Ai Cập cổ đại thường quan niệm rằng nếu xác chết được đặt trong kim tự tháp, linh hồn sẽ được bất tử. Nhưng chỉ có các pharaohhoàng hậu mới có vinh dự được nằm trong kim tự tháp. Người dân tẩm ướp xác chết, móc lấy não từ đầu mũi, lấy nội tạng ra ngoài, cho vào nhiều hũ bằng gỗ hoặc vàng và tắm rửa sạch sẽ cho xác. Rồi họ bôi dầu thơm và sáp vào xác pharaoh. Sau đó, người ta sẽ bọc xác bằng nhiều lớp vải lanh, rồi cho vào nhiều lớp quan tài bằng gỗ hoặc vàng và lắp mặt nạ của họ vào đầu quan tài để trông giống như người thật. Khi chôn cất, người ta còn mang theo châu báu, hương hoa và đặt bẫy để những linh hồn xấu không quấy rầy vị pharaoh của họ.

Việc xây dựng kim tự tháp không phải là việc dễ chút nào khi họ phải kéo những tảng đá to đùng lên cao và mài cho nó nhọn hoắt như hình tam giác. Kim tự tháp được xây dựng trước khi các pharaoh chết và vào mùa hè, đó là khi nước sông Nile dâng lên. Công việc hết sức khó khăn. Các hòn đá nặng hàng ki-lô-gam được kéo bằng dây chõng lên cao. Sau khi xây xong bằng các hòn đá tảng, kim tự tháp như một cầu thang khổng lồ. Vì vậy, công việc tiếp theo là ốp đá cho kim tự tháp nhọn hoắt.

Việc thờ cúng là một nghi lễ ở Ai Cập cổ. Sau khi chôn cất, người dân mang đồ lễ, hương hoa, đèn, lương thực... đến đền thờ các vị thần và đền thờ pharaoh để cầu phước cho mình được bất tử ở thế giới bên kia.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Allen (2000), pp.43–45
  2. ^ Fleming and Lothian (1997), p. 12
  3. ^ Thần thoại Ai Cập, chương 1
  4. ^ Thiên văn học Ai Cập cổ đại, p.69
  5. ^ Ancient Egyptian legend, chapter 3
  6. ^ Thần Ra., truyền thuyết
  7. ^ Thần Osiris
  8. ^ Ác thần Seth, wikipedia tiếng Việt.
  9. ^ Nữ thần Isis, wikipedia tiếng Việt.
  10. ^ Sách Ai Cập cổ đại, Tủ sách kiến thức Thế hệ mới, Nhà xuất bản Kim Đồng.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Allen, James P. (2000). Middle Egyptian: An Introduction to the Language and Culture of Hieroglyphs. Cambridge University Press. ISBN 0521774837. 
  • Assmann, Jan (2005). Death and Salvation in Ancient Egypt. Cornell University Press. ISBN 0801442419. 
  • Assmann, Jan (2001). The Search for God in Ancient Egypt. Cornell University Press. ISBN 0801487293. 
  • David, Rosalie (2002). Religion and Magic in Ancient Egypt. Penguin. ISBN 0140262520. 
  • Draper, Robert (tháng 2 năm 2008). “Black Pharaohs”. National Geographic 213 (2). 
  • Fleming, Fergus; Alan Lothian (1997). The Way to Eternity: Egyptian Myth. Amsterdam: Duncan Baird Publishers. ISBN 0705435032. 
  • Hornung, Erik (1999). The Ancient Egyptian Books of the Afterlife. Cornell University Press. ISBN 0801485150. 
  • Pinch, Geraldine (1995). Magic in Ancient Egypt. University of Texas Press. ISBN 0292765592. 
  • Quirke, Stephen; Jeffrey Spencer (1992). The British Museum Book of Ancient Egypt. Thames and Hudson. ISBN 0500279020. 
  • Redford, Donald B. biên tập (2002). The Oxford Essential Guide to Egyptian Mythology. Berkley Publication Group. ISBN 042519096X. 
  • Shafer, Byron E. biên tập (1991). Religion in Ancient Egypt: Gods, Myths, and Personal Practice. Cornell University Press. ISBN 0801497868. 
  • Shafer, Byron E. biên tập (1997). Temples of Ancient Egypt. I. B. Tauris. ISBN 1850439451. 
  • Shaw, Ian biên tập (2000). The Oxford History of Ancient Egypt. Oxford, England: Oxford University Press. ISBN 0198150342. 
  • Taylor, John (2001). Death and the Afterlife in Ancient Egypt. University of Chicago Press. tr. 25. ISBN 0226791645. 
  • Wilkinson, Richard H. (2003). The Complete Gods and Goddesses of Ancient Egypt. Thames & Hudson. ISBN 0500051208. 
  • Wilkinson, Richard H. (2000). The Complete Temples of Ancient Egypt. Thames & Hudson. ISBN 0500051003. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Schulz, R. and M. Seidel, "Egypt: The World of the Pharaohs". Könemann, Cologne 1998. ISBN 3-89508-913-3
  • Budge, E. A. Wallis, "Egyptian Religion: Egyptian Ideas of the Future Life (Library of the Mystic Arts)". Citadel Press. August 1, 1991. ISBN 0-8065-1229-6
  • Clarysse, Willy; Schoors, Antoon; Willems, Harco; Quaegebeur, Jan, "Egyptian Religion: The Last Thousand Years: Studies Dedicated to the Memory of Jan Quaegebeur", Peeters Publishers, 1998. ISBN 90-429-0669-3
  • Harris, Geraldine, John Sibbick, and David O'Connor, "Gods and Pharaohs from Egyptian Mythology". Bedrick, 1992. ISBN 0-87226-907-8
  • Hart, George, "Egyptian Myths (Legendary Past Series)". University of Texas Press (1st edition), 1997. ISBN 0-292-72076-9
  • Osman, Ahmed, Moses and Akhenaten. The Secret History of Egypt at the Time of the Exodus, (December 2002, Inner Traditions International, Limited) ISBN 1-59143-004-6
  • Bilolo, Mubabinge, Les cosmo-théologies philosophiques d'Héliopolis et d'Hermopolis. Essai de thématisation et de systématisation, (Academy of African Thought, Sect. I, vol. 2), Kinshasa-Munich 1987; new ed., Munich-Paris, 2004.
  • Bilolo, Mubabinge, "Les cosmo-théologies philosophiques de l’Égypte Antique. Problématique, prémisses herméneutiques et problèmes majeurs, (Academy of African Thought, Sect. I, vol. 1)", Kinshasa-Munich 1986; new ed., Munich-Paris, 2003.
  • Bilolo, Mubabinge, "Métaphysique Pharaonique IIIème millénaire av. J.-C. (Academy of African Thought & C.A. Diop-Center for Egyptological Studies-INADEP, Sect. I, vol. 4)", Kinshasa-Munich 1995; new ed., Munich-Paris, 2003.
  • Bilolo, Mubabinge, "Le Créateur et la Création dans la pensée memphite et amarnienne. Approche synoptique du Document Philosophique de Memphis et du Grand Hymne Théologique d'Echnaton, (Academy of African Thought, Sect. I, vol. 2)", Kinshasa-Munich 1988; new ed., Munich-Paris, 2004.
  • Pinch, Geraldine, "Egyptian Mythology: A Guide to the Gods, Goddesses, and Traditions of ancient Egypt". Oxford University Press, 2004. ISBN 0-19-517024-5

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]