Tùng Thiện Vương
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tùng Thiện Vương Miên Thẩm ( 1819- 1870) tự Thận Minh, Trọng Uyên, hiệu Thương Sơn, biệt hiệu Bạch Hào Tử. Ông là con trai thứ 10 của vua Minh Mạng, đồng thời là một nhà thơ Việt Nam thời nhà Nguyễn.
Mục lục |
[sửa] Tiểu sử
Tùng Thiện Vương, sinh ngày 11 tháng12 năm 1819. Thuở lọt lòng, ông được ông nội đặt tên là Ngợn. Đến năm 1832, khi đã có Đế hệ thi, ông được cải tên là Miên Thẩm. Năm 1839, ông được phong Tùng Quốc Công, năm 1854 được phong Tùng Thiện Công. Năm 1878, ông được truy phong là Tùng Thiện Quận Vương rồi đến năm 1938 là Tùng Thiện Vương, tước vị mà ngày nay người ta quen gọi.
Theo như trong tập Thơ Tùng Thiện Vương[1], vào giữa thế kỷ 19 tại kinh thành Phú Xuân (Huế) đã xuất hiện một số nhà thơ dòng dõi hoàng tộc Nguyễn Phúc, trong đó có Tùng Thiện Công (tước vị của Miên Thẩm lúc bấy giờ), Tuy Lý Vương Miên Trinh, Tương An Công Miên Bửu, công chúa Mai Am (tất cả đều là em của ông) được nhiều người biết hơn cả.
Ông là học trò đồng thời là con rể của đại thần Trương Đăng Quế. Về sau ông gả con gái lớn là Thể Cúc cho Đoàn Hữu Trưng. Khi xảy ra vụ binh biến tại Khiêm Lăng năm 1866 (sử gọi là loạn Chày Vôi), do Trưng lãnh đạo, dù được vua xét ông vô can và ông cũng đã tránh xa việc chính trị, thận trọng giữ mình, nhưng vẫn bị vài triều thần có lời to nhỏ.
Ông sống trong một giai đoạn lịch sử hết sức rối ren: nội bộ triều đình lủng củng, rạn nứt, loạn lạc khắp nơi, thiên tai gây mất mùa nhiều năm cùng nạn ngoại bang xâm lấn nhưng theo qui chế nhà Nguyễn, các ông hoàng không được đi thi, ít được tham gia chính sự nên khó xác định được tài năng thật sự của ông trong các lĩnh vực khác (kinh tế, chính trị, quân sự v.v).
Ông mất ngày 30 tháng 4 năm 1870 (tức 30 tháng 3 năm Canh Ngọ), hưởng dương 51 tuổi.
[sửa] Tác phẩm
Sự nghiệp trước tác của Tùng Thiện Vương rất phong phú (14 tập). Trong số đó đáng kể là Thương Sơn thi tập, gồm 54 quyển chia ra 8 tập với hơn 2.200 bài thơ.
Các tác phẩm chính: Thương sơn thi tập, Thương Sơn từ tập, Thương Sơn thi thoại, Thương Sơn ngoại tập, Thương Sơn văn di vv…
[sửa] Tấm lòng thơ
Thơ của ông được viết theo nhiều thể loại: hành, dao, thán, từ...mang nội dung cảm hoài, ngôn chí hay thù tạc v.v. với văn pháp giản dị, ý tứ thâm sâu, chữ nghĩa chọn lọc, mang tính hiện thực cao, gần với thơ Đỗ Phủ thời nhà Đường, chứa đựng tinh thần yêu nước, thương dân, hết lòng vì bè bạn.
- Sớm vừa dâng "tiền trầu"
- Tối lại dâng "tiền trầu"
- Quan trên có xơi trầu,
- Dân dưới mới sạch oan... (Phù lưu tiền hành)
hay như:
- Trong vườn tre tựa núi gò
- Vác ra, tiền chẳng trả cho đồng nào
- Nín thinh thì khổ xiết bao
- Nói ra, roi sẽ vụt vào chú thôi
- Ôi, than ôi!
- Bước chân về nước mắt rơi đầm đìa... (Mại trúc dao)
hoặc:
- Núi cao, vị nước độc
- Chó sói, cọp rình rập hai bên đường
- Áo rách không che được ống chân
- Mặt vàng, da thịt khô héo
- Chỉ cầu đủ nộp thuế...
- Cay đắng thay thuế thường khó nộp đủ
- Đành chịu làm tàn tật tấm thân hèn... (Kim hộ thán)
và:
- Thôn Nam có cọp về nhiễu hại
- Dân làm đơn cáo với quan trên
- Một đàn lính phủ kéo lên...
- Toàn dân gạo rượu để dành lính xơi
- Hôm sau cọp tới lui trong núi
- Dân Bắc thôn đều phải nín thinh
- Cam tâm để cọp hoành hành
- Dẫu người có chết, gia đình còn no... (Bộ hổ từ)
Bên cạnh tai ách áp bức, nhũng nhiễu, bóc lột của tầng lớp trên thì nhân dân còn lầm than bởi thiên tai như lũ lụt, hạn hán nhiều năm, khiến dân bị đói kém, lưu tán. Ông đã viết:
- Vì đâu nước biển tràn lên
- Để dân ven biển chết chìm trên khô
- Muôn nhà, sóng bạc cuốn xô
- Lử ma tan giữa mịt mù khí âm... (Nam Định hải dật)
- Nước ngập sâu nối liền đồng nội
- Mây từng lớp lấp chìm ánh trời ban mai
- Thấy mà buồn cảnh không thể cứu người đang chìm
- Tự tai nghe có tiếng kêu đói
- Nghĩ thế nào đành lòng riêng sống ấm no
- Ngậm mối tình thương, gạt đôi dòng lệ (Thuỷ)
- Làng cũ có ruộng thì bị lụt, bị hạn
- Lúa xanh hoá thành lúa lép khắp đồng
- Người chết bị đẩy ra, lấp chìm trong gai cỏ
- Người sống bò gấp lên, kêu rên với nhau
- Ngẩn lên trời, van trời kêu dân khổ... (Lưu dân thán)
Và thao thức, dằn dặt trước bao biến động của đất nước: Các cuộc khởi nghĩa của Phan Bá Vành (1821), Lê Duy Dương (1833), Nguyễn Văn Nhờn (1834), thổ phỉ Tam Đường (1851), Lê Duy Cự (1854), Tạ Văn Phụng (1861), Cai tổng Vàng (1862) và thực dân Pháp vào Đà Nẵng (1858) cũng khi ba tỉnh miền Đông (1862), ba tỉnh miền Tây (1867) bị Pháp tiến chiếm
- Quảng Nam giờ đất chiến trường
- Dầm sâu ruộng tốt chẳng còn như xưa...
- Xương khô chồn gậm đứng đầy
- Quạ tha từng khúc ruột bay thành đàn
- Đồng Đông xiết nỗi lầm than
- Kẻ về sau buổi ly hoàn, ai thương?... (Tống Lương từ)
- Năm kia giặc Tây đánh Quãng Nam
- Quân ta thua trận máu thành đầm
- Cúng tế cầu hồn khắp mọi xứ
- Giá giấy (dùng cùng người chết) đắt gấp ba
- Năm nay dùng binh khắp Nam Bắc
- Muôn đội cấm quân ra đánh giặc
- Đêm qua hịch báo về Cam Tuyền
- Hơn nủa người chết bỏ thây xác... (Mại chỉ y)
Mảng đề tài này được ông viết khá nhiều. Ông luôn khao khát làm sao cho dân được sống yên lành, đất nước được toàn vẹn:
- ...Đất đai phải lo dẹp cho yên ổn lại
- Nhân dân chờ mong một đường lối cai trị đúng đắn vỗ yên (Vận)
Nhưng ông chỉ thấy một triều đình lúng túng, bất lực, cầu hoà:
- Yết Hồ thực hiện mưu ma
- Các quan tướng soái thiệt là phụ ơn
- Tàu chiền chìm chỉ còn tàn lửa,
- Tiếng oan hồn nức nở sóng trôi... (Khiển sầu)
- Tóc mai rụng thưa, nhìn nhau thì chỉ là một lũ quan xôi thịt
- Lúc bụi biên cương đều chưa sạch đất trời... (Tuế mộ mặc vân sào dạ tập)
- Lòng đau cầm nước mắt
- Muốn nói chẳng thành lời...
- Khen Nguỵ Giáng hoà nghị,
- Bàn như vậy rất sai! (Thương tâm)
- Nhà vua đã muốn hoà cùng giặc
- Còn thuyết làm chi việc phục thù... (Nhạc Phi)
Trước thái độ của vua quan như vậy, lòng ông chỉ còn biết tin tưởng vào tinh thần đoàn kết chiến đấu của quân dân:
- Nhân dân dương sào(làm cờ), chặt cây (làm binh khí)
- (Tinh thần đó) có thể lưu truyền muôn thuở...
- Cho đến anh học trò cũng đánh giặc bằng ngòi bút
- Báo đền ơn vua chừng ấy cũng đáng xót thương (Đọc Nguyễn Đình Chiểu)
- Giữa đất Nam Kỳ, một mồi lửa cháy, gió thổi khói lên cao
- Đốt rụi lầu giặc cùng thuyền giặc...
- Bọn Hồ kêu la gầm trời
- Tám năm mới thật sự thấy đánh dẹp giặc Tây
- Trước ngựa, các phụ lão mang giỏ cơm, bầu rượu ra đón
- Anh hùng sáu trấn dốc hết sức mình... (Nhị nguyệt nhị thập)
Bên cạnh những nỗi đau chung, nơi tâm tư ông còn trĩu nỗi đau riêng. Theo sử sách ghi, sau đám tang vua Thiệu Trị (1847), hai người cháu ruột của ông là Hồng Bảo và Hồng Nhậm cùng tranh giành ngôi vua, mở màn cho một bi kịch chốn vương triều. Cuối cùng, Hồng Bảo bị hạ ngục vì tội liên hệ với "bên ngoài", để rồi phải tự tìm cái chết thân còn mang xiềng xích. Thảm cảnh đã được ông khéo gửi gấm trong một bài thơ khá dài:
- ...nguyên do (ta) với ngươi vốn cùng một cha sinh
- Hai mươi năm chịu lao khổ chung nhau mối thâm tình ấy
- Một sáng, thể phách chìm xuống suối vàng
- Đối mặt nhau mà nỡ quay lưng chia lìa, bổ cây Tử kinh làm hai đoạn
- ...Tình anh em sao lại có ý nấu đun nhau... (Quỷ khốc hành)
Năm 1866, cuộc biến động ở Khiêm Lăng (loạn Chày vôi thời Tự Đức) do chính con rể đầu của ông là Đoàn Hữu Trưng chủ xướng, một lần nữa khiến vết thương lòng nhức nhói cho đến cuối đời...
- Nỗi phẩn uất biết cùng ai tỏ
- Lòng lo buồn khiến lại ngã đau
- Lời xằng buộc tội thêm sâu,
- Nghiêm minh họp vạch những câu ngược đời (Vận)
- Tóc chỉ vì đau thương mà bạc
- Mặt chỉ vì thẹn mà hồng
- Lòng riêng trăm mối (biết nhờ) ai gỡ giúp,
- (Khiến) ngổn ngang trong làn mưa rắc như tơ (Tuế án độc toạ khiển muộn)
Tuy sau này vua Tự Đức xét ông vô can, nhưng chính nỗi đau mới này cùng với lo toan dân tình, nạn nước; tất cả khiến lòng ông thêm chán ngán cảnh điện ngọc, cung son đã khiến tinh thần ông thêm suy sụp nơi cơ thể vốn gầy gò, lắm bệnh. Ông đã dựng Phương Thốn thảo đường, định chuyển con cháu sang nghề nông.
- Lờ mờ học Đạo nửa đời người
- Trúc dép, đường đi mới rõ mười
- Thiên Mụ, Thánh Duyên trăng với sóng
- Bóng rừng, hương nước, có còn ai (Tuyệt Bút Từ (1870))
Nói về thơ ông, không thể không đề cập tới mảng thơ trữ tình đối với cảnh vật thiên nhiên, bè bạn v.v bởi ngay lúc bấy giờ, Lao Sùng Quang khi đọc bài "Khiển hoài" của ông, đã phải dẹp ngay tính kiêu hãnh của một vị quan thiên triều để viết:
- Tụng đáo bạch âu hoàng diệp cú,
- Cổ hoài tiêu sắt đới thu hàn...
(dịch nghĩa: "Đọc đến câu bạch âu hoàng diệp (của ông), nghe người ớn lạnh hơi thu...").
[sửa] Nhận xét chung
Tùng Thiện Vương nổi tiếng về thơ, do đó đương thời có câu truyền tụng: ”…Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường”. Cũng chính ông cùng với hai em là Tuy Lý Vương Miên Trinh, Tương An Quận vương (ông và 2 người em này được đời xưng tặng là “Tam Đường”).
Và sinh thời, ông là một ông hoàng có nhiều uy tín bởi đạo đức cao, tri thức rộng. Ông đến với mọi người đều bằng tấm lòng chân thực, khiêm tốn, phóng khoáng; không hề phân biệt địa vị, tuổi tác hay sang hèn. Nhờ vậy Tùng Vân xã (còn được gọi là Mặc Vân thi xã) mà ông là “Tao đàn nguyên suý” tập họp được nhiều danh sĩ, trong đó có cả Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát v.v. Về văn nghiệp, ông là một nhà thơ chữ Hán bậc thầy, được các danh sĩ đương thời, kể cả vua Tự Đức, nhờ duyệt thơ và được nhiều nhà thơ Trung Quốc đánh giá cao [2]
Cao Bá Quát, một nhân tài thời ấy, cũng là người cách biệt với ông về tầng lớp xuất thân, địa vị xã hội; khác về khuynh hướng lẫn đường đời nhưng hai người lại là đôi bạn thân thiết. Khi họ Cao bị giam cầm, ông là người duy nhất dám làm thơ khen là "cây tùng cây bá". Lúc Cao Bá Quát bị bắt đi hiệu lực ở Giang Lưu Ba, cũng chính ông là người duy nhất dám tỏ tình nhớ thương. Và ngày họ Cao được trở lại kinh đô, cũng chỉ mỗi mình ông dám "rút kiếm" vì bạn hát một khúc bi ca.
Trong bài đề tựa Thương Sơn thi tập của Tùng Thiện vương, Cao Bá Quát đã viết:
- "...Tôi theo Quốc công chơi đã lâu. Thơ của Quốc công đâu phải đợi đến ngày nay mới nói đến? Và cũng đâu phải đợi đến Quát này mới có thể nói được? Sáng ngày mai, đứng ở ngoài cầu Đốc Sơ trông về phía nam...đó chẳng phải là núi Thương Sơn ư? Mua rượu uống rồi, cởi áo ở nơi bắc trường đình, bồi hồi ngâm vịnh các bài thơ Hà Thượng của quốc công, lòng khách càng cảm thấy xa xăm man mác..."
[sửa] Chú thích
- ^ Thơ Tùng Thiện Vương, Lương An tuyển chọn, NXB Thuận Hoá 1994
- ^ Khi sứ thần nhà Thanh, Trung Quốc sang, vua Tự Đức muốn khoe nhân tài, mới sai tập hợp những thơ văn hay trong nước từ xưa cho đến lúc bấy giờ, làm thành một tập gọi là Hoàng Việt phong nhã thống biên, trong đó có rất nhiều thơ của Tùng Thiện Vương, cho sứ thần Trung Quốc xem và họ rất khâm phục ông, trong đó có tiến sĩ Lao Sùng Quang.

