Tăng thống

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tăng thống (chữ Nho: 僧統) là chức vụ quản lý tăng sự được triều đình phong và coi là người đứng đầu Phật giáo cả nước thời phong kiếnquân chủ. Ngày nay, từ tăng thống được hiểu là người đứng đầu Phật giáo trong một nước, hoặc của một giáo hội và chức vụ này thường do các tổ chức giáo hội quyết định.

Tại Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Chức này có gốc từ Trung Hoa, được lập thời Bắc Nguỵ (北魏), cũng được gọi là Sa-môn thống (沙門統), Đạo nhân thống (道人統), Đô thống (都統), Chiêu Huyền thống (昭玄統).

Quyển trung của sách Đại Tống tăng sử lược ghi là đời Dao Tần, Dao Hưng (姚興, tại vị 393~416) bắt đầu lập Tăng quan (僧官) là các vị quan trông coi các vị sư, với chức danh Tăng chính (僧正) là người đứng đầu Phật giáo. Khi nhà Nguỵ lên ngôi miền Bắc (Bắc Nguỵ) đổi chức danh Tăng Chính thành Tăng thống để thống lĩnh tăng ni.

Vào khoảng Hậu Ngụy năm đầu (396~397), ở quận Triệu có Sa-môn tên là Pháp Quảgiới hạnh tinh nghiêm, mở trường thuyết pháp, được vua Thái Tổ nhà Hậu Ngụy vời (trưng bổ) làm Sa-môn thống.

Sau có vị Sa-môn người Kế Tân (罽賓) là Sư Hiền (師賢) đến Trung Hoa, du phương (đi chơi) đến đất Lương, sau đến kinh đô, nhằm lúc Phật pháp gặp nạn (440-451) bèn tạm giữ nghề bốc thuốc để không phải đổi đạo. Sau khi Phật pháp được trùng hưng, sư lại trở thành Sa-môn cùng với năm người bạn. Vua Nguỵ lúc đó là Văn Thành Đế kính mến, tự tay cắt tóc cho sư, chiếu lệnh phong làm Tăng thống. Vậy người giữ chức Tăng thống đầu tiên là Sư Hiền.

Theo một tác phẩm nhà Nguỵ khác là Thích Lão chí thì vào năm đầu tiên của Đạo Vũ Đế nhà Bắc Nguỵ, Pháp Quả bắt đầu nhận chức Đạo nhân thống. Không lâu sau lại chức này đổi thành là Sa-môn thống, do vị tăng Đàm Diệu (曇曜) giữ chức, cũng gọi là "Sa-môn đô thống" hoặc "Chiêu Huyền thống" vì gọi theo tên của cơ cấu tăng quan trung ương là Chiêu Huyền tự (昭玄寺, trước đó mang tên Giám Phúc Tào 監福曹). Sau đó các vị giữ chức đều được gọi là Chiêu Huyền thống.

Vào thời Bắc Tề năm 550, Văn Tuyên Đế cử 10 vị làm Chiêu Huyền thống và trong đó, Sa-môn Pháp Thượng đứng đầu, được gọi là Chiêu Huyền Đại thống và 9 người còn lại là Thông thống (通統), cùng nhau trông coi hơn 40.000 tăng ni. Năm 581, Tuỳ Văn Đế sắc phong cho Tăng Mãnh chức "Tuỳ Quốc Đại thống". Mười năm sau lại dùng chức Chiêu Huyền thống.

Từ đời nhà Đường trở đi, vương triều bỏ chức Tăng thống, lập chức Tăng lục (僧錄). Nhà Tống bỏ chức vụ này, nhưng nó lại được dùng lại đời nhà Nguyên với danh hiệu là Thích giáo tổng thống (釋教總統).

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam, Đinh Tiên Hoàng thiết trí chức Tăng thống nhưng cũng đồng thời giữ chức Tăng lục. Khuông Việt Đại sư được phong chức Tăng thống và sau đó, vào năm 971, Trương Ma Ni cũng được Đinh Tiên Hoàng phong chức Tăng lục. Đây là lần đầu tiên chức Tăng thống được nói đến trong lịch sử Việt Nam và sau này, cho đến thời nhà Trầnnhà Lê vẫn còn được sử dụng. Nhiệm vụ của người giữ chức này, tuy sử sách không ghi lại rõ ràng song vẫn có thể hiểu như một chức để quản lý các sư sãi ở trong nước.

Triều đình nhà Nguyễn đề cao Nho học, không lập chức Tăng thống.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất thành lập năm 1963, đã sử dụng lại danh vị này để gọi vị lãnh đạo cao nhất của giáo hội, theo đó có 5 vị Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là:

Giáo hội Tăng Già Nguyên thủy Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam thành lập năm 1957, người đứng đầu cũng có danh hiệu Tăng thống

  • Tăng thống Hòa thượng Bửu Chơn (Từ 1957 đến 1961)
  • Tăng thống Hòa thượng Thiện Luật (từ 1961 đến 1965)
  • Tăng thống Hòa thượng Hộ Tông (Từ 1965 đến 1969)
  • Tăng thống Hòa thượng Giới Nghiêm (Từ 1969 đến 1973)
  • Tăng thống Hòa thượng Bửu Chơn (Từ 1973 đến 1977)
  • Tăng thống Hòa thượng Ẩn Lâm (Từ 1977 đến 1981)
  • Tăng thống Hòa thượng Giới Nghiêm (Từ 1981 đến 1984)

Theo cuốn Thắp lửa tâm linh của Minh Đức Triều Tâm Ảnh viết về cuộc đời và hành trạng của ngài Hộ Tông viết:

Ngày 15/4/1957, đánh dấu thời điểm thành lập Ban Chưởng Quản Lâm Thời Giáo Hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam: theo đó, đại đức Bửu Chơn là Tăng thống (lâm thời). "Đây chỉ mới là Ban Chưởng Quản Lâm thời, nó chỉ là cái sườn. Cái Ban này phải có nhiệm vụ sơ thảo điều lệ, nội dung để đệ trình lên Chính Phủ. Vào khoảng tháng 11,12 năm này, chúng ta phải tổ chức một đại hội, đầy đủ Chư tăng tỳ khưu khắp các chùa để bầu bán công bằng, dân chủ..." (trang 479)

Vào ngày 18/12/1957, một Hội đồng Tăng già Chưởng Quản Giáo Hội Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam, sau cuộc bầu bán và suy cử:

(Trang 495 sách đã dẫn)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lê Mạnh Thát: Nghiên cứu về Thiền Uyển Tập Anh, NXB TP HCM 1999.
  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ Điển. Phật Quang Đại Từ Điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)