Tượng Hùng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tượng Hùng
tên tiếng Tạng
tiếng Tạng: ཞང་ཞུང་
Chuyển tự Wylie: zhang zhung
Phát âm theo IPA: [ɕaŋɕuŋ]
Bính âm tiếng Tạng (CHNDTH): Xangxung
THDL: Zhangzhung
Chuyển tự khác: Shangshung
tên tiếng Trung
Phồn thể: 象雄、羊同、楊同
Giản thể: 象雄、羊同、杨同
Bính âm: Xiàngxióng, Yángtóng

Tượng Hùng hay Zhang Zhung, Shang Shung, hay theo bính âm tiếng Tạng: Xang Xung, là một vương quốc và nền văn hóa cổ đại ở miền tây và tây bắc Tây Tạng, và là nền văn hóa tiền Phật giáo Tây Tạng tại Tây Tạng. Văn hóa Tượng Hùng có liên hệ với đạo Bon (Bổn), do đó, đã có ảnh hưởng đến triết học và việc tu luyện của Phật giáo Tạng. Tượng Hùng được đề cập thường xuyên trong các văn bản Tạng cổ, trong đó có ghi rằng đây là thế lực cai trị ban đầu của khu vực Trung và Tây của Tây Tạng. Trong các thập kỷ gần đây, các nhà khoa học đã tiếp cận để thực hiện công việc khảo cổ trong các khu vực từng nằm dưới quyền cai trị của Tượng Hùng.

Quy mô của các vương quốc Tượng Hùng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Biên niên sử hồ Manasarowar, tại một thời điểm, nền văn minh Tượng Hùng đã từng bao gồm 18 vương quốc ở phần phía tây và tây bắc của Tây Tạng. Văn hóa Tượng Hùng tập trung quanh núi thiêng Kailash và trải rộng về phía tây đến SarmatiaLadakh cùng Baltistan ngày nay, phía tây nam đến Jalandhar, phía nam đến Vương quốc Mustang tại Nepal, phía đông bao gồm miền trung của Tây Tạng, phía bắc vượt qua cao nguyên Changtangsa mạc Taklamakan đến Thiện Thiện. Do đó, văn hóa Tượng Hùng kiểm soát phần lớn "nóc nhà thế giới".

Về mặt truyền thống, Tượng Hùng gồm ba khu vực khác nhau: "sGob-ba, ngoại; Phug-pa, nội; và Bar-ba, trung. Phần ngoại bao gồm những phần mà ta có thể gọi là miền Tây của Tây Tạng, từ Gilgit ở phía tây đến Dangs-ra khyung-rdzong ở phía đông, gần hồ Namtso, và từ Khotan ở phía bắc đến Chu-mig brgyad-cu rtsa-gnyis ở phía nam. Vùng nội được cho là sTag-gzig (Tazig) [thường đồng nhất với Bactria], và phần trung rGya-mkhar bar-chod, một nơi chưa được định rõ." Trong khi chưa thể chắc chắn Tượng Hùng có thật sự lớn như vậy hay không, người ta mới chỉ xác định được rằng đây là một vương quốc độc lập bao trùm toàn bộ miền Tây của Tây Tạng.[1][2]

Kinh đô của Tượng Hùng được gọi là Khyunglung (Khyunglung Ngülkhar hay Khyung-lung dngul-mkhar), "Cung điện bạc của Kim sí điểu", tây nam của núi Kailash (Ti-se), với các cung điện được tìm thấy ở thượng du thung lũng Sutlej.[3]

Theo tác giả Rolf Alfred Stein, lãnh thổ Tượng Hùng không phải là một phần lịch sử của Tây Tạng mà là một lãnh thổ bên ngoài riêng biệt đối với người Tạng.[4], “…sau đó xa về phía tây, người Tạng chạm trán với một quốc gia nước ngoài riêng biệt. - Tượng Hùng, với kinh đô nằm tại Khyunglung. Núi Kailāśa (Tise ) và hồ Manasarovar tạo thành một phần của quốc gia này. Mặc dù vẫn chưa được xác định, dường như đây là người Ấn-Âu. …Về mặt địa lý, quốc gia này chắc chắn mở rộng tới Ấn Độ, qua Nepal và Kashmir cùng Ladakh. Kailāśa là một địa điểm thiêng liêng của người Ấn, họ thường hành hương tới đó. Không ai biết họ đã làm như vậy từ bao lâu, song lòng mộ đạo này có thể bắt đầu từ thời gian Tượng Hùng vẫn độc lập với Tây Tạng.

Tượng Hùng kéo dài xa về phía bắc, đông và tây bao xa vẫn là một bí ẩn…. Chúng tôi đã có cơ hội để nhận định rằng Tượng Hùng, bao quát núi thiêng Kailāśa của người Hindu, có thể từng có một tôn giáo chủ yếu vay mượn từ Ấn Độ giáo. Tình hình này thậm chí có thể đã diễn ra trong một thời gian dài. Trên thực tế, khoảng năm 950, vị vua Hindu của Kabul đã có một bức tượng Vişņu, loai phong cách Kashmir (ba đầu), bức tượng này được ông tuyên bố là do vua của Bhota (người Tạng) tặng cho ông, họ đã thu được nó từ Kailāśa.”

Lãnh thổ của Ladakh vào thời vua Nyimagon khoảng 975.- 1000 như mô tả trong "A History of Western Tibet" (Lịch sử của miền Tây Tây Tạng) của A.H. Francke, 1907
Đế quốc của vua Tsewang Rnam Rgyal 1., và của vua Jamyang Rnam Rgyal., khoảng 1560 và 1600

Một biên niên sử của Ladakh biên soạn vào thế kỷ 17 được gọi là La dvags rgyal rabs, nghĩa là Biên niên sử Hoàng gia của vua Ladakh chép rằng biên giới này là truyền thống và nổi tiếng. Phần đầu tiên trong biên niên sử viết vào các năm 1610 -1640, và nửa thứ hai là vào cuối thế kỷ 17. Tác phẩm được A. H. Francke dịch sang tiếng Anh và xuất bản năm 1926 rại Calcutta với tiêu đề “Antiquities of Indian Tibet” (Đời xưa tại Tây Tạng thuộc Ấn Độ). Trong quyển 2, biên niên sử Ladakh mô tả của Sykid-Ida-ngeema-gon phân chia vương quốc của mình cho ba người con trai, và sau đó biên niên sử mô tả quy mô lãnh thổ do ba người con đó nắm giữ.

Lịch sử Tượng Hùng[sửa | sửa mã nguồn]

Các phát hiện từ thời đồ đá cũ[sửa | sửa mã nguồn]

Các phân tích phấn hoa và vòng cây cho thấy cao nguyên Changtang xưa kia là một môi trường sống tốt hơn cho đến khi nó trở nên khô hạn và lạnh hơn bắt đầu từ khoảng năm 1500 TCN. Một giả thuyết cho rằng nền văn minh Tượng Hùng được hình thành trên cao nguyên khi điều kiện ít khắc nghiệt hơn, sau đó đã nó đã phải chế ngự điều kiện khí hậu dần dần xấu đi cho đến khi bị tiêu diệt hoàn toàn vào năm 1000. Khung thời gian này cũng tương ứng với sự nổi lên của các vương quốc Tạng tại các thung lũng miền Nam và điều này cũng có thể đã góp phần vào sự suy tàn của nền văn minh cao nguyên.

Văn hóa thời kỳ đồ sắt[sửa | sửa mã nguồn]

Các hoạt động khảo cổ gần đây trên cao nguyên Changtang đã tìm thấy bằng chứng về một nền văn hóa thời kỳ đồ sắt và trong đó có một số được xem là của Tượng hùng.[5] Đây là một nền văn hóa đáng chú ý với các đặc điểm sau:

  • Một hệ thống pháo đài hay thành quách đá trên đỉnh đồi, rất có thể được sử dụng để phòng thủ trước các bộ lạc thảo nguyên Trung Á, như người Scythia
  • Các khu phức hợp lăng mộ sử dụng các bia mộ thẳng đứng, đôi khi trong các dãy lớn, và trong đó có tới 10.000 ngôi mộ tại một vị trí
  • Các đền thờ bằng đá nằm tại các ngọn núi tiếp giáp với vùng đồng bằng, đặc trưng với các căn phòng không có cửa sổ, các mái đá có tay đỡ, và tường xung quanh
  • Bằng chứng về một cấu trúc phân tầng xã hội với các chỉ dấu về những môi mộ của hoàng gia
  • Các bức tranh khắc đá cho thấy nét văn hóa kị binh

Các đặc điểm này gần gũi hơn với văn hóa thời kỳ đồ sắt tại châu Âu và thảo nguyên châu Á hơn là Ấn Độ hay Đông Á, cho thấy đây là một nền văn hóa chịu ảnh hưởng từ phía tây bắc hơn là đông nam.

Chinh phục Tượng Hùng[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ thể hiện Tượng Hùng và kinh đô Kyunglung dưới thời Thổ Phồn

Có một số mâu thuẫn về việc vương triều tại miền Trung Tây Tạng đã chinh phục Tượng hùng vào thời trị vì của Tùng Tán Cán Bố (Songtsän Gampo, 605 hay 617? - 649) hay thời Ngật-lật-song Đề-tán (Trisong Detsen), (trị vì 755 cho đến 797 hay 804).[6] Tuy nhiên, theo Cựu Đường Thư thì dường như những sự kiện này xảy ra vào thời Tùng Tán Cán Bố vì sử liệu này viết rằng vào năm 634, Dương Đồng (Tượng Hùng) và các bộ lạc người Khương "hoàn toàn chịu quy phục ông ta." Sau này thống nhất đất nước của ông ta với Dương Đồng để đánh bại 'Azha hay Thổ Cốc Hồn, và sau đó chinh phục hai bộ lạc người Khương nữa trước khi đe dọa Tùng Châu với một đội quân 20 vạn người. Ông sau đó cử một sứ thần đến với quà tặng gồm vàng và lụa cho hoàng đế nhà Đường, yêu cầu Đường gả cho công chúa để kết hôn và khi bị từ chối, ông đã đánh Tùng Châu. Cuố cùng, ông dường như đã rút lui và tạ lỗi còn hoàng đế nhà Đường đã đáp ứng yêu cầu của ông.[7][8]

Các ghi chép ban đầu của Tây Tạng thuật lại rằng tán phổ Thổ Phồn và vua của Tượng Hùng đã kết hôn với em gái của nhau để hình thành liên minh chính trị. Tuy nhiên, người vợ Tạng của vua Tượng Hùng đã than phiền về các đối xử tệ từ người vợ chính của nhà vua. Chiến tranh đã xảy ra sau đó, và qua sự phản bội của công chúa người Tạng, "Vua Ligmikya của Tượng Hùng, trên đường tới Sum-ba (Amdo) đã bị quân lính của Tùng Tán Can Bố phục kích và giết chết. Kết quả là Vương quốc Tượng Hùng bị sáp nhập vào Bod [Trung Tây Tạng]. Sau đó vương quốc mới được hình thành với việc thống nhất Tượng Hùng và Bod được gọi là Bod rGyal-khab."[9][10][11] R. A. Stein places the conquest of Zhangzhung in 645.[12]

Nổi dậy Tượng Hùng năm 677[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Hùng nổi dậy ngay sau cái chết của tán phổ Mang Tùng Mang Tán (Mangsong Mangtsen) hay Trimang Löntsän (Khri-mang-slon-rtsan, trị vì 650-677), con trai của Tùng Tán Can Bố, nhưng sau đó lại được đưa vào tầm kiểm soát của Thổ Phồn bằng "sự cai quản vững chắc của lãnh đạo vĩ đại của gia tộc Mgar".[13]

Tiếng Tượng Hùng[sửa | sửa mã nguồn]

Một số ít các bản văn Tượng Hùng và văn bản Thổ Phồn song ngữ vào thế kỷ 11 đã chứng nhận về một thứ tiếng Tượng hùng có liên hệ với tiếng Kinnaur. Bonpo tuyên bố rằng hệ thống chữ viết Tây Tạng có nguồn gốc từ bản chữ cái Tượng Hùng, trong khi các sử gia hiện đại công nhận nguồn gốc rõ ràng của chữ viết Tây Tạng là từ một loại chữ viết Bắc Ấn Độ, phù hợp với các miêu tả tiếng Tạng phi Bon.

Một ngôn ngữ Kinnaur được gọi cùng tên (phát âm địa phương là Jangshung) được 2.000 người nói tại thung lũng SutlejHimachal Pradesh và những người này tuyên bố là hậu duệ của Tượng Hùng.[14]

Ảnh hưởng của văn hóa Tượng Hùng tại Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Có điều cần lưu ý rằng truyền thống Bonpo cho là nó được hình thành nên bởi một nhân vật giống như Phật tên là Tonpa Shenrab Miwoche,[15] người này được gán cho các giáo lý tương tự như các giáo lý được cho là của Tất-đạt-đa Cồ-đàm. Bonpo tuyên bố rằng Tonpa Shenrab Miwoche sống cách đây khoảng 18.000 năm, và viếng thăm Tây Tạng từ vùng đất Tagzig Olmo Lung Ring, hay Shambhala. Bonpo cũng khẳng định trong thời gian đó, giáo lý của chúa Shenrab Miwoche đã lan tỏa ra toàn bộ tiểu lục địa và một phần chịu trách nhiệm cho sự phát triển của tôn giáo Vệ Đà. Một ví dụ cho sự liên kết này được cho là núi Kailash, là một trung tâm của văn hóa Tượng Hùng, và cũng là ngọn núi thiên liêng nhất đối với người Hindu. Kết quả là, Bonpo cho rằng phần lớn giáo lý về sau ít nhất là có nguồn gốc gián tiếp từ Tonpa Shenrab Miwoche.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Karmey, Samten G. (1979). A General Introduction to the History and Doctrines of Bon, p. 180. The Toyo Bunko, Tokyo.
  2. ^ Stein, R. A. (1972). Tibetan Civilization. Stanford University Press, Stanford, California. ISBN 0-8047-0806-1 (cloth); ISBN 0-8047-0901-7.
  3. ^ Allen, Charles. (1999). The Search for Shangri-La: A Journey into Tibetan History. Abacus Edition, London. (2000), pp. 266-267; 273-274. ISBN 0-349-11142-1.
  4. ^ Tibetan Civilization by R.A. Stein Faber and Faber
  5. ^ Source: [1] (accessed: Wednesday April 14, 2010)
  6. ^ Karmey, Samten G. (1975). "'A General Introduction to the History and Doctrines of Bon", p. 180. Memoirs of Research Department of The Toyo Bunko, No, 33. Tokyo.
  7. ^ Lee, Don Y. (1981). The History of Early Relations between China and Tibet: From Chiu t'ang-shu, a documentary survey, pp. 7-9. Eastern Press, Bloomington, IN.
  8. ^ Pelliot, Paul. (1961). Histoire ancienne du Tibet, pp. 3-4. Librairie d'Amérique et d'orient, Paris.
  9. ^ Norbu, Namkhai. (1981). The Necklace of Gzi, A Cultural History of Tibet, p. 30. Information Office of His Holiness The Dalai Lama, Dharamsala, H.P., India.
  10. ^ Beckwith, Christopher I. (1987). The Tibetan Empire in Central Asia, p. 20. Princeton University Press, Princeton, NJ. Fourth printing with new afterword and 1st paperback version. ISBN 0-691-02469-3.
  11. ^ Allen, Charles. The Search for Shangri-La: A Journey into Tibetan History, pp. 127-128. (1999). Reprint: (2000). Abacus, London. ISBN 0-349-11142-1.
  12. ^ Stein, R. A. (1972). Tibetan Civilization, p. 59. Stanford University Press, Stanford California. ISBN 0-8047-0806-1 (cloth); ISBN 0-8047-0901-7.
  13. ^ Beckwith, Christopher I. The Tibetan Empire in Central Asia. A History of the Struggle for Great Power among Tibetans, Turks, Arabs, and Chinese during the Early Middle Ages, 1987, Princeton: Princeton University Press. ISBN 0-691-02469-3, p. 43.
  14. ^ Ethnologue 14 report for language code:JNA
  15. ^ http://www.ligmincha.org/bon/founder.html

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Allen, Charles. (1999) The Search for Shangri-La: A Journey into Tibetan History. Little, Brown and Company. Reprint: 2000 Abacus Books, London. ISBN 0-349-11142-1.
  • Bellezza, John Vincent: Zhang Zhung. Foundations of Civilization in Tibet. A Historical and Ethnoarchaeological Study of the Monuments, Rock Art, Texts, and Oral Tradition of the Ancient Tibetan Upland. Denkschriften der phil.-hist. Klasse 368. Beitraege zur Kultur- und Geistesgeschichte Asiens 61, Verlag der Oesterreichischen Akademie der Wissenschaften, Wien 2008.
  • Hummel, Siegbert. (2000). On Zhang-zhung. Edited and translated by Guido Vogliotti. Library of Tibetan Works and Archives. Dharamsala, H.P., India. ISBN 81-86470-24-7.
  • Karmey, Samten G. (1975). A General Introduction to the History and Doctrines of Bon. Memoirs of the Research Department of the Toyo Bunko, No. 33, pp. 171–218. Tokyo.
  • Stein, R. A. (1961). Les tribus anciennes des marches Sino-Tibétaines: légends, classifications et histoire. Presses Universitaires de France, Paris. (In French)
  • Zeisler, Bettina. (2010). "Ëast of the Moon and West of the Sun? Approaches to a Land with Many Names, North of Ancient India and South of Khotan." In: The Tibet Journal, Special issue. Autumn 2009 vol XXXIV n. 3-Summer 2010 vol XXXV n. 2. "The Earth Ox Papers", edited by Roberto Vitali, pp. 371–463.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bellezza, John Vincent. (2010). "gShen-rab Myi-bo, His life and times according to Tibet’s earliest literary sources." Revue d’Etudes Tibétaines Number 19 October 2010, pp. 31–118.
  • Blezer, Henk. (2010). "Greatly Perfected, in Space and Time: Historicities of the Bon Aural Transmission from Zhang zhung." In: The Tibet Journal, Special issue. Autumn 2009 vol XXXIV n. 3-Summer 2010 vol XXXV n. 2. "The Earth Ox Papers", edited by Roberto Vitali, pp. 71–160.
  • Zeisler, Bettina (2010). “East of the Moon and West of the Sun? Approaches to a Land with Many Names, North of Northern India and South of Khotan.” In: The Earth Ox Papers. Special Issue. The Tibet Journal, Autumn 2009 vol XXXIV n 3-Summer 2010 vol. SSSV n. 2. Edited by Roberto Vitali. Library of Tibetan Works and Archives, Dharamsala, H.P., India. pp. 371–463.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]