Tập đoàn quân 3 (Đế quốc Nhật Bản)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tập đoàn quân 3
Japanese 11 inch siege gun shells Port Stanley 1904.jpg
Tập đoàn quân 3 tại cảng Lữ Thuận, 1904
Hoạt động Tháng 5 năm 1904 - Tháng 8 năm 1945
Quốc gia Cờ của Nhật Bản Đế quốc Nhật Bản
Quân chủng War flag of the Imperial Japanese Army.svg Lục quân Đế quốc Nhật Bản
Phân loại Bộ binh
Chức năng Tập đoàn quân
Bộ chỉ huy Mãn Châu quốc
Tên khác Iwa (đá)
Tham chiến Chiến tranh Nga-Nhật

Tập đoàn quân 3 (第3軍, Dai-san gun) là một tập đoàn quân thuộc Quân đội Đế quốc Nhật Bản. Là một lực lượng đồn trú tại Mãn Châu quốc, đặt dưới sự chỉ huy của Đạo quân Quan Đông. Nhưng phần lớn tham gia vào cuộc chiến tranh Nga-Nhật.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tập đoàn quân 3 được tung vào cuộc chiến tranh Nga-Nhật dưới sự chỉ huy của tướng Nogi Maresuke. Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến, nhiệm vụ chính của tập đoàn quân 3 là bao vây cảng Lữ Thuận (cảng Arthur). Sau sự sụp đổ của đế quốc Nga, Tập đoàn quân 3 được điều về phía bắc, tại đây Tập đoàn quân 3 góp một phần quan trọng trong trận Phụng Thiên (Mukden). Sau khi cuộc chiến kết thúc, Tập đoàn quân 3 được giải tán.

Ngày 13 tháng 1 năm 1938, Tập đoàn quân 3 một lần nữa được thành lập tại Mãn Châu quốc, đây là một lực lượng phòng thủ phía đông biên giới với Liên Xô, nhằm chống lại các cuộc tấn công của Hồng quân Liên Xô. Tháng 7 năm 1942, tập đoàn quân 3 là một trong 2 tập đoàn quân nằm trong biên chế Phương diện quân 1 (Đế quốc Nhật Bản). Với tình hình ngày càng xấu đi với Quân đội Nhật Bản, các đơn vị có kinh nghiệm và cùng nhiều trang thiết bị của tập đoàn quân 3 được chuyển tới cho các đơn vị khác.

Trong cuộc tấn công của Liên Xô vào Mãn Châu quốc, các lực lượng đào tạo kém cùng trang thiết bị thiếu thốn đã không thể đương đầu với các đơn vị thiện chiến, dày dặn kinh nghiệm của Hồng quân. Và tập đoàn quân 3 rút về tỉnh Kirin và một số tỉnh biên giới Hàn Quốc, vào cuối cuộc chiến, tập đoàn quân 3 đã đầu hàng ở tỉnh Yanji và Hunchun.

Danh sách chỉ huy[sửa | sửa mã nguồn]

Tư lệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Từ Đến
1 Đại tướng Nogi Maresuke Tháng 8, 1904 20 tháng 10, 1919
2 Đại tướng Yamada Otozō 13 tháng 1, 1938 10 tháng 12, 1938
3 Đại tướng Hayao Tada 10 tháng 12, 1938 12 tháng 9, 1939
4 Đại tướng Kamezo Suetaka 12 tháng 9, 1939 1 tháng 3, 1941
5 Đại tướng Masamitsu Kawabe 1 tháng 3, 1941 17 tháng 8, 1942
6 Trung tướng Eitaro Uchiyama 17 tháng 8, 1942 7 tháng 2, 1944
7 Trung tướng Hiroshi Nemoto 7 tháng 2, 1944 22 tháng 11, 1944
8 Trung tướng Murakami Keisaku 22 tháng 11, 1944 tháng 9, 1945

Tham mưu trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Từ Đến
1 Thiếu tướng Ijichi Kōsuke Tháng 8, 1904 Tháng 1, 1905
2 Thiếu tướng Masatoshi Matsunaga Tháng 2, 1905 Tháng 3, 1905
3 Thiếu tướng Ichinohe Hyoe Tháng 3, 1905 Tháng 1, 1906
4 Trung tướng Akita Nakamura 20 tháng 1, 1938 14 tháng 4, 1938
5 Trung tướng Teiichi Suzuki 14 tháng 4, 1938 10 tháng 12, 1938
6 Trung tướng Maeda Masami 10 tháng 12, 1938 9 tháng 3, 1940
7 Trung tướng Toshimichi Uemura 9 tháng 3, 1940 1 tháng 4, 1941
8 Trung tướng Takezo Numata 1 tháng 4, 1941 1 tháng 7, 1942
9 Thiếu tướng Akio Doi 1 tháng 7, 1942 11 tháng 3, 1943
10 Thiếu tướng Tatsuhiko Takashima 11 tháng 3, 1943 16 tháng 12, 1944
11 Trung tướng Hanjiro Ikeya 16 tháng 12, 1944 Tháng 9, 1945

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • Frank, Richard B (1999). Downfall: The End of the Imperial Japanese Empire. New York: Random House. ISBN 0-679-41424-X. 
  • Jowett, Bernard (1999). The Japanese Army 1931-45 (Volume 2, 1942-45). Osprey Publishing. ISBN 1841763543. 
  • Madej, Victor (1981). Japanese Armed Forces Order of Battle, 1937-1945. Game Publishing Company. ASIN: B000L4CYWW. 
  • Marston, Daniel (2005). The Pacific War Companion: From Pearl Harbor to Hiroshima. Osprey Publishing. ISBN 1841768820. 
  • Glantz, David (2003). The Soviet Strategic Offensive in Manchuria, 1945 (Cass Series on Soviet (Russian) Military Experience, 7). Routledge. ISBN 0-7146-5279-2.