Tề Hiến Vương hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vương hậu Tề Hiến
Vưong hậu của Triều Tiên
Tại vị 14761477
Thông tin chung
Phu quân Triều Tiên Thành Tông
Sinh
quận Hàm An
Mất ngày 16 tháng 8 năm 1482

Vương hậu Tề Hiến, Vương hậu Thế Hiến, hay Vương hậu Jeheon (hangul: 폐비윤씨, hanja: 废妃尹氏, ?-1482) là vị Vương phi thứ hai của Triều Tiên Thành tông và là mẹ ruột của vị vua thứ 10 của nhà Triều Tiên Yên Sơn Quân. Tuy nhiên về sau bà bị phế truất và lưu đày nên còn được gọi là Phế phi. Bà là vị Vương phi đầu tiên của nhà Triều Tiên bị phế truất.

Thân thế cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm sinh của bà không rõ, chỉ biết bà là người quận Hàm An, thuộc gia tộc Yun (윤, Doãn), hậu duệ đời thứ 11 của tướng quân Yun Kwan (윤관). Tuy nhiên, đến đời của bà thì gia cảnh sa sút bần cùng. Sau khi phụ thân qua đời, mẫu thân bà đưa bà tiến cung làm thiếp cho Vương tử I Hyeol (이혈, Lý Huyện), người về sau đăng cơ trở thành vua Triều Tiên Thành Tông. Năm Thành tông thứ 4 (1473), bà được phong tước Thục nghi, đứng hàng tòng nhị phẩm trong Nội mệnh phụ. Tương truyền, bà là người có nhan sắc diễm lệ nên rất được Thành tông sủng ái. Năm Thành tông thứ 5, (1474) Vương phi Gonghye (공혜, Cung Huệ, tức chính thất của nhà vua) qua đời, ngôi chính phi bỏ trống, vì vậy, 2 năm sau đó, bà được lập thành Vương phi vào ngày 9 tháng Tám năm Thành tông thứ 7 (1476). Tháng 11 năm đó, bà hạ sanh Vương tử I Yung (이융, Lý Long), người sau này trở thành vua thứ 10 của nhà Triều TiênYên Sơn Quân.

Vương phi Tề Hiến được lập làm Chánh thất nhờ vẻ đẹp của mình, tuy nhiên bà lại được lịch sử ghi chép là có tính hay ghen với các người thiếp khác của Thành tông, thường hay mang theo người tì sương, một chất kịch độc nhằm sát hại phi tần, cung nhân của Thành tông. Bên cạnh đó bà còn xung khắc với Đại phi Insu (Nhân Túy Đại phi), mẹ đẻ của vua. Do vua chịu ảnh hưởng rất lớn từ phía mẹ đẻ nên bà ngày càng bị ghẻ lạnh. Một vài tài liệu tham khảo, không thể kiểm chứng còn cho rằng bà đã đầu độc một phi tần vào năm 1477 làm vị thục nghi này mất đi long thai và dùng bùa ếm cả Đại phi Insu.

Tháng 3 năm 1477, với lý do tàng trữ độc dược và tà thư trong buồng ngủ nên bà bị Thành tông giáng làm cung tần[1]. Mặc cho các đại thần như Lư Tư Thận, Nhâm Sĩ Hồng (임사홍, 任士洪), Thẩm Quái, Lý Thừa Triệu v.v. ra sức can ngăn nhưng Thành Tông vẫn không đổi ý[2].

Ngày 1 tháng 6 năm 1479, nhân ngày sinh nhật của Doãn thị, vua Thành tông ghé lại nơi bà ở. Khi cơn ghen tuông lên tới cực điểm, Doãn thị đã vô tình làm Thành tông bị thương và để lại một vết sẹo trên má ông, mặc dù ông rất cố gắng che giấu, nhưng Đại phi Insu vẫn phát hiện ra và ra lệnh điều tra. Ngày hôm sau, bà bị phế truất làm thứ nhân (dân thường)[3] và phải sống lưu đày. Tình hình còn trở nên tồi tệ hơn khi ngày 12 tháng 6 năm đó người con trai bé do bà sinh hạ cũng chết[4]. Tháng 11 năm sau, Thành tông lập người cùng nhập cung một ngày với bà là Thục nghi Doãn thị (tức Trinh Hiển Vương hậu sau này) làm Vương phi. Như thế hy vọng phục vị của bà đã tan biến.

Mặc dù bà đã bị phế làm thứ nhân, nhưng Thành tông vẫn lo sợ sau khi mình chết thì bà với tư cách là mẹ đẻ của vị vua mới sẽ gây ra nhiều điều nguy hại cho xã tắc nên ngày 16 tháng 8 năm 1482 ông quyết định sai Tả thừa chỉ Lý Thế Tá tới nhà riêng của bà để ban cái chết cho bà bằng thuốc độc. Tuy vậy vào năm 1489, Thành tông vẫn ban chiếu chỉ cho bà được hưởng các nghi lễ cúng tế dành cho phi tần[5].

Vương tử I Yung kế vị ngai vàng vào năm 1494 mà không biết bất cứ một chuyện gì về cái chết của mẹ mình. Sau này, một số đại thần thất sủng như Im Sa Hong và Yoo Ja Gwang đã cho ông biết sự thật. Vì căm hận những người gây nên cái chết của bà, Yên Sơn Quân trực tiếp ra lệnh thực hiện hai cuộc thanh trừng nho sĩ lớn nhất Mậu Ngọ sĩ họa (Muo Sahwa, 무오사화) và Giáp Tý sĩ họa (Kapcha Sahwa, 갑자사화), để trả thù cho mẹ mình. Việc ông trở thành một bạo chúa và cái chết của Phế chúa Yên Sơn phần lớn từ nguyên nhân cái chết của bà.

Phim ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Jang Seo Hee (장서희, Trương Thụy Hi) đóng trong phim "Hàn minh quái" (한명회, Han Myung Hoe), sản xuất năm 1994, trình chiếu trên KBS2.
  • Kim Seong-ryeong (김성령, Kim Thành Linh) đóng trong phim "Vương dữ phi" (왕과비, Wang Gwa Bi), sản xuất 1998, trình chiếu trên KBS1.
  • Park Bo-young (박보영, Phác Bảo Anh, vai thời niên thiếu) và Gu Hye-seon (구혜선, Cụ Huệ Thiện) trong phim "Bí mật nội phủ" (왕과나, Wang Gwa Na), sản xuất năm 2007, trình chiếu trên SBS, tên trong phim của nhân vật là Yun So-hwa (윤소화, Doãn Tố Hoa).
  • Ji Jin-hee (진지희, Trần Trí Hi, vai thời niên thiếu) và Jeon Hye-bin (전혜빈, Toàn Tuệ Bân) trong phim "Nhân Túy Đại phi" (인수대비, Insoo Dae-bi), sản xuất năm 2011, trình chiếu trên JTBC.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Triều Tiên vương triều thực lục - Thành Tông thực lục - quyển 78: Thành Tông năm thứ 8, ghi chép ngày 30 tháng 3, đoạn 1.
  2. ^ Triều Tiên vương triều thực lục - Thành Tông thực lục - quyển 78: Thành Tông năm thứ 8, ghi chép ngày 30 tháng 3, đoạn 3.
  3. ^ Triều Tiên vương triều thực lục - Thành Tông thực lục - quyển 105: Thành Tông năm thứ 10, ghi chép ngày 02 tháng 6, đoạn 1.
  4. ^ Triều Tiên vương triều thực lục - Thành Tông thực lục - quyển 105: Thành Tông năm thứ 10, ghi chép ngày 12 tháng 6, đoạn 3.
  5. ^ Triều Tiên vương triều thực lục - Thành Tông thực lục - quyển 228: Thành Tông năm thứ 20, ghi chép ngày 20 tháng 5, đoạn 7.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]