Tống Cung Đế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Tống Cung Tông)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tống Cung Đế
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Song Gongdi.jpg
Tranh vẽ Tống Cung Đế.
Hoàng đế nhà Tống
Trị vì 12741276
Tiền nhiệm Tống Độ Tông
Kế nhiệm Tống Đoan Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Xem văn bản
Hậu duệ Xem văn bản
Tên thật Triệu Hiển (趙显)
Niên hiệu
Thụy hiệu Hiếu cung Ý Thánh hoàng đế
孝恭懿圣皇帝
Miếu hiệu Cung Tông (恭宗)
Triều đại Nhà Tống
Thân phụ Tống Độ Tông
Thân mẫu Toàn hoàng hậu
Sinh 1271
Mất 1323
Trung Quốc
Tôn giáo Phật giáo

Tống Cung Đế (chữ Hán: 宋恭帝, 2 tháng 11 năm 1271 - tháng 5 năm 1323[1]), hay còn gọi là Doanh Quốc công, Tống Đế Hiển (宋帝顯), tên thật là Triệu Hiển (趙㬎), là vị hoàng đế thứ 16 của vương triều nhà Tống trong lịch sử Trung Quốc. Ông nối ngôi sau cái chết của phụ thân Tống Độ Tông vào năm 1274. Trong thời gian Cung Tông trị vì, triều đại nhà Tống luôn bị điên đảo trước cuộc xâm lược mạnh mẽ của binh đoàn Mông - Nguyên. Lúc này, đội quân Mông Cổ đã vượt qua dòng sông Dương Tử (Trường Giang), và trên đường tiến chiếm lấy vùng Hàng Châu. Bị giặc ép buộc phải đầu hàng, Thái hoàng Thái hậu nhà Nam Tống phải buộc sang chầu Mông - Nguyên. Sau đó, tuy chính quyền Nam Tống ra sức tìm cách kháng Nguyên, nhưng trước thế mạnh đối phương, Tống Cung Tông bị bắt.

Sau khi bị bắt, đối phương không giết ông, mà giáng phong ông làm Doanh quốc công, và đến năm 1289, Khả hãn Mông Cổ là Hốt Tất Liệt (Khubilai Khan, sau này là Nguyên Thế Tổ, chiếm trọn Trung Hoa) đưa Tống Cung Tông đến sống ở miền Tây Tạng, bắt ông phải cắt tóc đi tu[2]. Trong thời gian làm nhà sư, Cung Tông đã có nhiều đóng góp to lớn với Phật giáo Trung Quốc[3], đặc biệt trong nửa cuộc đời còn lại của mình, ông chuyên tâm vào con đường dịch sách kinh của Phật giáo Tây Tạng thành tiếng Hoa để truyền bá cho dân tộc Trung Hoa về những giáo lý mới trong Phật giáo Lạt Ma Tây Tạng[3].

Nhưng, ông không bao giờ quên mình là Hoàng đế của Nam Tống, bản thân ông căm thù Mông Cổ, nhưng bất lực, nên ông tiêu khiển bằng cách làm thơ[2]. Các bài thơ của ông thể hiện sự ước ao yên bình cho triều đại Nam Tống của mình, thể hiện ý chí căm thù Mông Nguyên, quyết không phục họ; cũng vì vậy, mà bài thơ này đã chọc tức đến Hoàng đế Mông Nguyên[2]. Hậu quả là cái chết đã giáng xuống đầu ông vào năm 1323, lúc ông 53 tuổi.

Trước khi lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Hiển là con trai thứ của Tống Độ Tông Triệu Kì, mẫu thân ông là hoàng hậu Toàn thị. Trên ông còn có một người anh là Triệu Thị do Dương thục phi hạ sinh. Ông chào đời tại đại nội kinh thành Lâm An vào ngày Kỉ Sửu tháng 9 ÂL năm Hàm Thuần thứ 7 (2 tháng 11 năm 1271) thời Tống Độ Tông. Tháng 11 ÂL năm thứ 9 (1273), được nhận chức Tả Vệ thượng tướng quân, tước Gia quốc công[4].

Ngày Quý Mùi tháng 7 ÂL năm thứ 10 (12 tháng 8 năm 1274), Độ Tông băng hà ở điện Gia Phúc[5]. Quyền thần Giả Tự Đạo vào cung bàn chuyện lập vua mới. Quần thần đề nghị lập hoàng tử trưởng là Kiến Quốc công Triệu thị, nhưng Giả Tự Đạo muốn lập vua nhỏ tuổi để dễ khống chế, bèn lấy lí do lập đích tử, tôn Gia quốc công lên ngôi. Năm đó Triệu Hiển mới 4 tuổi, hoàng thái hậu Tạ thị lâm triều xưng chế[4][6].

Vua mất nước[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày Giáp Thân (13 tháng 8), Tạ thái hậu phong vương cho các con của Độ Tông; tiến phong Kiến Quốc công Triệu Thị làm Cát vương, thực ấp 1000 hộ; Vĩnh quốc công Triệu Bính làm Tín vương, cũng có thực ấp 1000 hộ. Ngày Bính Tuất (15 tháng 8), tôn Tạ thái hậu là thái hoàng thái hậu, Toàn hoàng hậu trở thành hoàng thái hậu, sinh nhật của bà gọi là tiết Thiên Thụy[6]. Lúc này thì Tương Dương, Phàn Thành đã thất thủ, Lưỡng Hoài hầu như bị quân Nguyên kiểm soát. Kinh Hồ chế trí sứ Uông Lập Tín dâng thư lên Tự Đạo bàn về kế giữ nước, trong đó nêu ra hai kế sách: một là tuyển thêm quân để cự đích, giữ chặt 7000 dặm Duyện Giang, đóng thêm nhiều trại lính, mười trại thành một phủ do tổng đốc chỉ huy đồng thời canh giữ những nơi hiểm yếu, lúc giặc đánh tới thì đông tây hỗ trợ lẫn nhau; kế thứ hai là tạm sai sứ sang Nguyên dâng lễ vật cầu hòa, kéo dài thời gian để củng cố lại lực lượng. Nhưng Giả Tự Đạo giận dữ, bảo thằng mù nói bừa[7]. Rồi Tự Đạo phong cho Chu Tự Tôn làm Kinh Hồ, Tứ Xuyên chế trí sứ, kiêm tri Giang Lăng để giữ những vùng đất này.

Nguyên chủ Hốt Tất Liệt lấy cớ Giả Tự Đạo bội ước, tiếp tục chia quân đánh xuống phía nam. Cử Sử Thiên TrạchBá Nhan thống chế các lộ binh mã gồm 20 vạn quân, có hàng tướng Lưu ChỉnhLã Văn Hoán dẫn đường. Về sau Sử Thiên Trạch bị bệnh phải quay về miến bắc, toàn bộ đại quân Nguyên do Bá Nhan chỉ huy. Tháng 9 ÂL năm đó, Bá Nhan hội quân ở Tương Dương, phân quân tam đạo cùng nhau tiến quân, chuẩn bị vượt sông. Đích thân Bá Nhan cùng với A ThuậtTrương Hoằng Phạm vượt Hán Thủy đánh vào Dĩnh châu, có Lã Văn Hoán làm tiên phong. Trương Thế Kiệt đóng quân ở Dĩnh ra sức chống cự khiến quân Nguyên không sao công phá được, cuối cùng chúng quyết định bỏ qua Dĩnh châu, tiếp tục xuôi dòng Trường Giang đánh và chiếm được Hoàng Gia Loan Bảo. Trong khi đó thì Sách Đa dẫn một đao quân từ Tảo Dương vào Không Sơn, Trạch Chiêu Thảo từ núi Lão Nha đánh Kinh Nam. Triều Tống bại hết trận này đến trận khác, sĩ khí sút kém hẳn.

Tháng 10 ÂL, Tống triều cải niên hiệu năm tiếp theo gọi là Đức Hựu nguyên niên, lấy Chương Giám làm Xu mật viện sự, Trần Nghi Trung thiêm thư xu mật viện sựy[6]. Tháng 11 ÂL lại lấy Vương Dược, Chương Giám làm Tả Hữu thừa tướng; đó đều là quyết định của Giả Tự Đạo. Lúc này thì quân Nguyên đánh bại được tướng Triệu Văn Nghĩa. Quân Nguyên tiến chiếm Sa Dương, Tân Thành, các tướng Vương Hổ Thần, Vương Đại DụngBiên Cư Nghị tử tiết. Rồi thì các thành Vân An, La Củng, Cao Dương bị phá. Bá Nhan tiến vào Phúc châu, tri châu Địch Quý đầu hàng. Chỉ có Hoài Tây chế trí sứ Hạ Quỳ dùng vạn chiến thuyền đóng giữ ở các nơi hiểm yếu, Đô Thống chế Vương Đạt cầm cự ở Dương La Bảo, Kinh Hồ tuyên phủ sứ Chu Tự Tôn dùng quân du kích đánh địch mới tạm ngăn được bước tiến của quân Nguyên. Nhưng vận số của triều Tống đã hết, không thể chống giữ được bao lâu. Tháng 12 ÂL, Bá Nhan đưa quân từ Hán Khẩu, đánh bại quân Tống rồi đóng 10 vạn quân kị ở Giang Bắc. Bá Nhan lại sai A Lí Hải Nhai cùng Trương Hoằng Phạm tiến đánh Dương La Bảo, đánh bại quân của Vương Đạt và Hạ Quý; sau đó A Thuật dẫn đại quân vượt Trường Giang, Hạ Quý phải bỏ chạy. Quân Nguyên phá được Dương La Bảo, Vương Đạt tử trận. Bá Nhan lệnh A Lí Hải Nhai cùng bốn vạn quân giữ Ngạc châu và chuẩn bị lấy Kinh Hồ còn mình và A Thuật đưa quân thẳng tiến vào Lâm An. Cả thành Lâm An chấn động. Triều đình lo sợ, ba thái học sinh cùng đa số quần thân liên danh đề nghị sư tướng đốc quân. Giả Tự Đạo bị thúc ép, đành phải chấp nhận. Thái hậu hạ chiếu phong Tưj Đạo làm Đô đốc chư lộ quân mã, lấy Tôn Hổ Thần tổng thống chư quân, Hoàng Vạn Thạch làm Tham tán quân sự, mở kho lấy 10 vạn lạng vàng, 50 vạn lạng bạc, 1000 vạn tiến chuyển sang kho đô đốc để tiện sử dụng; lại hạ lệnh thiên hạ cần vương[4][6]. Sau đó lấy Cao Đạt làm Hồ Bắc chế trí sứ. Lúc này quân Nguyên đánh tới Hoàng châu, Duyện Giang chế trí sứ Trần Dịch cùng con là Nham ra hàng, Quản Cảnh Mô ở Kì châu cũng mở cửa thành nghênh đón quân Nguyên[8].

Đầu năm 1275, Giả Tự Đạo lấy Lã Sư Quỳ làm Tham tán đô đốc phủ quân sự, nhưng Sư Quỳ không nhận và cùng với Tiền Chân Tôn ở Giang châu hàng Nguyên. Quân Nguyên lại đánh vào Giang châu, tri An Đông quân Trần Nghiêm Dạ bỏ chạy tháo thân. Tri Thọ Xương quân Hồ Mộng Lân thấy không thể chống cự nổi đã tự sát, bọn Diệp Xương, Lai Hưng QuốcTào Minh dâng Giang châu hàng Nguyên. Phạm Văn Hổ lúc này là tri An Khánh quân cũng đã đầu hàng. Giả Tự Đạo trước đó mặt dù đã nhận lệnh ra trận đốc sư nhưng cứ nấn ná không dám đi. Đến lúc Lưu Chỉnh chết, Tự Đạo nghĩ quân Nguyên không còn người dẫn đường bèn ra quân đánh giặc. Tập trung 13 vạn tinh binh cùng lên đường. Tự Đạo liên hệ với Lã Sư Quỳ bàn việc nghị hòa nhưng không được. Tháng 2 ÂL năm đó, Hạ Quý đưa quân đến hội với Tự Đạo. Lại lấy Uông Lập Tín làm Giang Hoài chiêu thảo sứ, lệnh mộ binh ở Kiến Khang. Lập Tín nhận lệnh, đưa quân đến hội với Tự Đạo ở Vu Hồ. Tự Đạo sau đó cử Tống Kinh đến doanh trại quân Nguyên xin xưng thần, triều cống nhưng Bá Nhan không cho, nói

Trước kia ta chưa vượt sông thì sai sứ sang nghị hòa triều cống cũng có thể được. Nay mấy quận duyên hải Giang Châu đã thuộc về ta rồi thì còn gì đáng để nghị hòa nữa.[8]

Sau đó quân Nguyên tiếp tục tiến quân, vây khốn Trì châu, tri châu Vương Khởi Tông bỏ trốn, thông phán Xương Hóa Triệu Mão lên thay, nhưng cũ không chống nổi, cuối cùng Triệu Mão cùng vợ là Ung thị đã tuẫn tiết vì xã tắc. Giả Tự Đạo lựa chọn 7 vạn quân giao cho Tôn Hổ Thần chỉ huy, lệnh Hạ Quý đem 2500 chiến thuyền theo đường sông tiến đánh quân Nguyên, còn mình đóng ở Lỗ Cảng làm hậu ứng. Tôn Hổ Thần ra trận thất lợi, Hạ Quý ngồi nhìn không cứu. Bá Nhan cho pháo bắn vào Trung quân, A Thuật cùng mấy ngàn tay chèo theo dòng nước đến sát bên thuyền quân Tống. Tướng tiên phong bên Tống là Khương Tài liều sức chống trả, Hổ Thần sợ hãi, bỗng nhiên nhảy sang thuyền Khương Tài. Quân sĩ nghĩ Hổ Thần đã chạy nên rất hoảng loạn. Hạ Quý không đánh mà bỏ chạy. Giả Tự Đạo cũng thu quân về Chu Kim Sa, giữa đường bị quân Nguyên đuổi riết, thương vong vô số. Tự Đạo hỏi kế Hạ Quý, Hạ Quý đề nghị rút quân về Dương châu, nghênh giá ra biển, còn mình sẽ ở lại giữ Hoài Tây. Tự Đạo bèn cùng Tôn Hổ Thần lui về Dương châu, cho treo cờ triệu tập ba quân mà chả ai thèm đến[8]. Quân Nguyên đánh vào Nhiêu châu, cả nhà tri châu Đường Chấn tử tiết. Quân Nguyên đánh tiếp Lâm Giang, Trấn Giang, Ninh Quốc, Long Hưng, Giang Âm, các châu Thái Bình, Hòa châu lần lượt bị mất. Lúc này Giả Tự Đạo dâng sớ xin dời đô, thái hoàng thái hậu không theo, đến tháng 3 ÂL Hàn Chấn cũng dâng biểu, thái hoàng thái hậu mới triệu tập quần thần bàn định. Tể tướng Vương Dược muốn cố thủ, Hàn Chấn phản đối và bỏ đi. Khi đó có thái học sinh dâng biểu xin tử thủ Lâm An, việc dời đô mới phải hoãn lại. Lúc này chư lộ vẫn bất động chờ thời, không dám đưa quân cần vương, chỉ có Lý Đình Chi, Trương Thế Kiệt, Văn Thiên Trường, Lý Phất đem quân về cứu. Thế Kiệt đưa quân lấy lại Nhiêu châu thì Trần Nghi Trung nghi ngờ Thế Kiệt nên dời ông tới điều khiển tân quân. Hữu thừa tướng Chương Giám bỏ trốn[4], triều đình lấy Trần Nghi Trung tri Xu mật viện sự, Văn Cập Ông, Nghê Phổ Đồng làm Thiêm thư xu mật viện sự; Vương Dược được cử làm Chiết Tây, Giang Đông tuyên phủ sứ.

Quân Nguyên đánh vào Gia Định, đô thống Hầu Hưng Lực tử trận. Rồi Bá Nhan kéo quân vào Kiến Khang, Uông Lập Tín lui về Cao Bưu tính kế giữ Giang Hán, nhưng gần hết các châu Giang Hán lúc này đã hàng Nguyên. Lập Tín viết biểu báo tạ tam cung, không lâu sau qua đời. Vương Vinh, Ông Phúc dâng thành Kiến Khang hàng Nguyên. Bá Nhan chiếm được Kiến Khang và chiêu hàng được Quảng Đức quân, Vương Vinh ở Từ châu, Triệu Dữ Khả ở Ninh Quốc, Ngô Ích ở Hàng Hưng, Vương Thiện ở Hòa châu, Lưu Quyền ở Vô Vi quân, Tôn Tự Vũ ở Liên châu, Vương Ứng Long ở Trừ châu, Triệu Dữ Giám ở Thường châu, Tiềm Thuyết Hữu ở phủ Bình Giang phủ, Lệnh Hồ Khải ở Quảng Đức quân... đều bỏ trốn hoặc đầu hàng. Lúc này Giả Tự Đạo bí thế, đã phải xin trả lại ấn tín. Trần Nghi Trung tưởng Tự Đạo đã chết nên dâng sớ kể tội. Thái hoàng thái hậu miễn chức Bình chương chính sự của Tự Đạo, giáng Lễ Toàn quan sứ. Mọi việc làm hại dân của Tự Đạo trước kia đều xóa bỏ, ruộng trả về điền chủ.

Triều đình dùng Vương Dược làm Tả thừa tướng, Trần Nghi Trung làm Hữu thừa tướng kiêm Xu mật sứ; hai người cùng nhau làm Đô đốc chư lộ quân mã. Lại theo sự tố cáo của ngự sử Vương Ứng Lân, tước quan chức của Chương Giám, đuổi về vườn. Thị ngự sử Trần Quá, giám sát ngự sử Phan Văn Khanh ... xin giết Giả Tự Đạo và trị tội đám bè đảng. Thái hoàng thái hậu cho giam Ông Ứng Long vào ngục rồi đánh trượng đày ra Cát Dương quân, bãi chức Oánh Trung, Vương Đình, Lưu Lương Quý, Trần Bá Đại, Du Vấn, Chu Tuấn, Đổng Phác ..., phóng thích những người bị Tự Đạo hãm hại, phục quan chức cho Ngô TiềmHướng Sĩ Bích. Lại sai người đến chỗ Lã Văn Phúc lệnh đem quân về bảo vệ Lâm An, Văn Phúc chém sứ giả, không nhận lệnh, sau đó hàng Nguyên. Quân Nguyên đã tới rất gần, toàn thành Lâm An được đặt trong tình trạng giới nghiêm, các đại thần lần lượt bỏ trốn. Thái hoàng thái hậu thấy vậy, tự tay viết chiếu răn đe

Triều ta trải qua được 300 trăm nay có dư, đó là do sĩ đại phu biết giữ lễ. Nay ta và tự quân trong tình thế nguy cấp thế này mà chưa hề thấy đại thần nào đóng góp công sức hay kế hay để cứu nước. Bên trong thì quan lại lần lượt bỏ đi, ngoài thì biên tướng vứt ấn bỏ thành, tai nghe mắt thấy những điều đó thật là đau lòng thay. Chấp chánh không biết dâng biểu bày mưu mà lại lo co giò bỏ chạy, đó là việc làm của những kẻ mà ngày thường đọc sách thánh hiền sao? Nếu cứ như vậy mà ở trên đời, sống còn mặt mũi đâu mà nhìn người, chết rồi lấy mặt mũi đâu mà nhìn tiên đế. Thiên mệnh chưa đổi, quốc pháp vẫn còn; những văn võ đại thần trong triều phụ lòng quốc gia mà bỏ trốn, thì quan ngự sử hãy giết chết để răn đe.

Chiếu ban ra nhưng tình trạng quan lại bỏ trốn cũng không sao ngăn cấm được[8]. Lúc này quân Nguyên công đánh Nhạc châu, An phủ sứ Cao Thế Kiệt hội quân ba châu Nhạc, Phức, Dĩnh cùng quân ở thượng lưu Trường Giang và 1000 chiến thuyền giữ chặt Giang Khẩu, A Lí Hải Nhai đem quân đánh giết được Thế Kiệt, Tổng chế Nhạc châu Mạnh Tử Tấn dâng thành hàng Nguyên. Triều đình lại phải hạ lệnh xá miễn cho những tướng đã hàng giặc, ra điều kiện nếu ai thu phục lại được 1 châu sẽ cho làm tri châu, thu phục lại 1 huyện cho làm tri huyện, sở bộ liêu lại và tướng sĩ, thổ hào theo giúp đều có thưởng, nhưng chẳng ai hưởng ứng. Quân Nguyên nhanh chóng chiếm được Trừ châu, Chân châu, phủ Ninh Quốc, Quảng Đức quân. Chu Tự TônCao Đạt dâng Giang Lăng đầu hàng nốt. Lúc này Tống triều lấy Cao Tư Đắc làm Thiêm thư Xu mật viện sự, Lý Đình Chi Tham tri chính sự. Vào tháng 7 ÂL, thai gian thị thần và ba thái học sinh xin giết Tự Đạo, thái hoàng thái hậu không theo. Tự Đạo dâng biểu xin bảo toàn tính mạng và đổ tội cho Hạ Quý, Tôn Hổ Thần. Triều đình bắt Giả Tự Đạo phải về đất Việt chịu tang mẹ, Tự Đạo nấn ná ở Dương châu không đi. Vương Dược dâng sớ kể tội Tự Đạo bất trung bất hiếu; thái hoàng thái hậu hạ lệnh giáng Tự Đạo ba cấp quan, đày ra Vụ châu. Giám sát ngự sử Tôn Vinh Tẩu không chịu, lại dâng sớ nói Tự Đạo tội nặng mà phạt nhẹ, nên Tự Đạo lại bị phát vãng ra phủ Kiến Ninh. Triều đình lại hạ lệnh chém đầu Ông Ứng Long, đày Vương Đình, Oánh Trung ra Lĩnh Nam[8]. Lại giáng Tự Đạo làm Cao châu Đoàn luyện sứ, phát vãng ra Tuần châu, tịch biên gia sản. Phúc vương Dữ Nhuế vốn oán Tự Đạo, nên sai Trịnh Hổ Thần làm giám áp ban lo việc áp giải rồi thừa cơ giết chết Tự Đạo trên đường[9]. Lúc này hai tể tướng xin từ chức, thái hoàng thái hậu cố lưu lại, phong Vương Dược là Bình chương quân quốc trọng sự, một tháng hai lần tới Kinh diên, năm ngày lên triều một lần; Trần Nghi Trung, Lưu Mộng Viêm đổi làm Tả, Hữu thừa tướng kiêm Xu mật sứ, đô đốc chư lộ quân mã. Vương Dược đề nghị cho hai tể tướng ra đốc sư Ngô Môn, Trần Nghi Trung tìm cớ trì hoãn. Lúc này đại thần Lưu Cửu Cao dâng sớ kể tội Nghi Trung là bè đảng của Giả Tự Đạo và làm hỏng việc nước, Nghi Trung tức giận bỏ đi. Lưu Cử Cao liền bị tống vào ngục, thái hoàng thái hậu bảo mẹ Nghi Trung là Dương thị gọi Nghu Trung về. Còn Vương Dược xin bãi chức Bình chương, được đổi phong thiếu bảo, Quan Văn điện học sĩ, Lễ tuyền quan sứ, ít lâu sau thì qua đời. Trương Thế Kiệt được cử làm Tổng đô đốc phủ chư quân, chống cự với quân Nguyên, Hạ Quý làm Xu mật phó sứ, Lưỡng Hoài tuyên phủ đại sứ; Chu Hoán hỗ trợ, Lý Đình Chi được lệnh về triều. Hạ Quý không phụng chiếu, Đình Chi không về. Trần Văn Long trở thành đồng Thiêm thư Xu mật viện sự thay cho Cao Tư Đắc, Văn Thiên Trường là Binh bộ thượng thư. Quân Nguyên lúc này đã tới rất gần. Khi đó quân Tống có thu phục lại một số đất đai nhưng chẳng thấm tháp vào đâu so với các phần đã bị mất.

Triều đình cử Văn Thiên Trường làm Đô đốc phủ tham tán quân, tổng tam lộ binh, tri Bình Giang. Thiên Trường xin lập ra bốn trấn, Trần Nghi Trung không cho. Lúc này thì Bá Nhan chia quân tiến vào Lâm An. Thái châu thất thủ, Tôn Hổ Thần tự sát. Khương Tài ở Dương châu đem 5000 quân kị công quân Nguyên ở Loan Đầu bảo nhưng bị A Thuật đánh bại. Quân Nguyên công phá Lữ Thành, dụ hàng tướng Trương Ngạn rồi đánh tiếp Thường châu. Triều đình dùng Trương Thế Kiệt làm Duyện Giang chiêu thảo sứ, Lưu Sư Dũng làm Phúc châu quan sát sứ, tổng thống xuất thú binh. Vào tháng 10 ÂL, Lưu Mộng ViêmTrần Nghi Trung được phong làm Tả, Hữu thừa tướng kiêm Xu mật sứ, Đô đốc chư lộ quân mã, sau đó Trần Văn Long làm Đồng tri Xu mật viện sự, Hoàng Dung đồng Thiêm thư Xu mật viện sự[10] Lúc đó các châu quận Giang Tây lần lượt thất thủ. Vào cuối năm 1275, Thường châu thất thủ. Quân Nguyên lại đánh Độc Tùng quan, tướng Trương Nhu bỏ trốn. Văn Thiên TrườngVương Thế Kiệt tính kế, coi Hoài đông là tường chẳn, quyết giữ bằng được Mân, Quảng để tính kế khôi phục. Trần Nghi Trung lại không chấp nhận. Tả thừa tướng Lưu Mộng Viêm lúc này bỏ trốn luôn, triều đình dùng Ngô Kiên làm Thiêm thư Xu mật viện sự, Trần Văn Long làm Tham tri chính sự, Hoàng Dung kiêm Quyền tham tri chính sự. Sau đó Ngô Kiên được phong lên chức Tả thừa tướng thay cho Lưu Mộng Viêm.

Đầu năm 1276, Bá Nhan tiến chiếm Bình Giang, Trương Thế Kiệt đưa quân về triều hộ vệ. Triều đình bắt đầu tính việc nghị hòa. Trần Nghi Trung sao Tông chính thiếu khanh Lục Tú Phu, Binh bộ thị lang Lã Sư Mạnh cùng Liễu Nhạc đến trại quân Nguyên xin nghị hòa, xưng nước bác nước cháu, nếu không thì là nước ông nước cháu hay giả là nước cụ nước chắt chỉ xin bãi binh, Bá Nhan không nghe. Nghi Trung lại xin thái hoàng thái hậu dâng biểu cầu phong, xưng thần, cắt đất nộp thuế là 25 vạn, thái hậu đành phải chấp nhận. Khi đó Đàm châu đã thất thủ, Hồ Nam trấn phủ đại sứ Lý Phất tử tiết, quân Nguyên đã ở trước thành Lâm An. Trần Văn Long, Hoàng Dung cùng nhau bỏ trốn, triều đình lúc này chẳng còn bao nhiêu người. Ít lâu sau, Lưu Hán Kiệt ở phủ Gia Hưng cũng dâng thành hàng Nguyên, châu An Cát bị vây khốn[10]. Thái hoàng thái hậu sai Giám sát ngự sử Lưu Ba sang gặp Bá Nhan xin xưng thần, dâng tôn hiệu cho Nguyên chủ, cống nạp bạc lụa mỗi thứ 25 vạn, Bá Nhan không chịu, đòi vua tôi nhà Tống ra hàng. Tham tri chính sự Thường Mậu, Thiêm thư xu mật viện Hạ Sĩ Lâm lần lượt bỏ trốn, chỉ có ba thái học sinh quyết tử thủ Lâm An. Văn Thiên Trường xin dùng Cát vương, Tín vương ra trấn giữ Mân Quảng để tính việc khôi phục. Ban đầu thái hoàng thái hậu không chịu, đến đây tông thất nhiều người cầu xin nên mới chấp nhận, đổi Cát vương Thị là Ích vương giữ Phúc châu, Tín vương Bính làm Quảng vương giữ Tuyền châu, có phò mã đô úy Dương Trấn, em Dương thục phi là Dương Lượng Tiết, em Du tu dung là Du Như Khuê theo giúp hai vương[10]. Trần Nghi Trung dẫn đầu quần thần xin dời đô, thái hoàng thái hậu ban đầu không nghe nhưng sau suy nghĩ lại nên cho triệu Nghi Trung, Nghi Trung lại không đến. Văn Thiên Trường, Trương Thế Kiệt bàn việc tam cung ra biển, Nghi Trung từ chối và xin thái hoàng thái hậu sai giám sát ngự sử Dương Ứng Khuê đem ngọc tỉ truyền quốc đầu hàng, đồng ý bỏ đế hiệu chỉ xin bảo toàn tông miếu. Bá Nhan triệu Trần Nghi Trung đến bàn việc hàng phục nhưng ngay đêm đó Nghi Trung đã bỏ chạy về Ôn châu. Trương Thế Kiệt, Tô Lưu NghĩaLưu Sư Dũng thấy triều đình chưa đánh đã hàng thì thất vọng, lên thuyền ra biển. Thái hoàng thái hậu cử Văn Thiên Trường làm Hữu thừa tướng kiêm Xu mật sứ, đô đốc chư lộ quân mã, Gia Huyễn Ông và Giả Dư Khánh giữ chức Thiêm thư xu mật viện sự và để hai tướng Ngô, Văn sang Nguyên bàn bạc. Thiên Trường gặp Bá Nhan và nói

Bắc triều nếu coi Tống là một nước thì xin lui quân về Bình Giang hoặc Gia Hưng sau sẽ bàn tới việc khao sư triều cống. Bắc quân nếu toàn quân về nước là thượng sách. Nhược bằng muốn hủy tông miếu triều ta thì Hoài, Chiết, Mân, Quảng, dễ gì mà lấy được, có khi lại mang họa, thắng thua còn chưa biết.

Bá Nhan giữ Thiên Trường lại và để Ngô Kiên ra về, đổi Lâm An thành Lưỡng Triết đại đô đốc phủ, sai Mông Cổ Đại, Phạm Văn Hổ vào thành trị đô đốc sự. Cử Trình Bằng Phi ép thái hoàng thái hậu hạ chiếu cho tam tỉnh, Xu mật viện và các châu quận trong nước hàng phục, bãi lệnh triệu tập chư lộ cần vương. Bên ngoài, các châu Vụ, Xử, Thái và Quảng Đức quân cũng đã đầu hàng[10]. Tạ thái hậu sai Ngô Kiên làm Tả thừa tướng, Giả Dư Khánh làm Hữu thừa tướng và Gia Huyễn Ông đến gặp Bá Nhan xin sang Nguyên gặp Nguyên chủ. Bá Nhan để Ngô Kiên cùng Văn Thiên Trường lên bắc, còn mình đưa quân đến sông Tiền Đường. Thái hoàng thái hậu trong cung ngày đêm cầu khấn xin thần linh cho nước sông Tiền Đường dìm chết lũ quân Nguyên, nhưng lạ thay sóng lặng hơi trong ba ngày[4]. Sau đó ít lâu, Bá Nhan đưa quân tiến vào trong thành Lâm An, lệnh tả hữu tuần thú trong thành, thu hết cổn miện, khuê bích, phù tỉ cùng các đồ vật trong cung, bảo ngoạn, xa lộ, liễn thừa, lỗ bộ, huy trượng ... Bá NHan lên núi Sư Tử, Vân Phong ngắm nhìn toàn cảnh Lâm An. Lại sai Phạm Văn Hổ truy đuổi Ích vương và Cát vương ở Mân Quảng. Dương Trấn trở về Lâm An, Phúc vương Dữ Nhuế từ Thiệu Hưng tới, Bá Nhan dùng lời lẽ phủ dụ.

Thái hoàng thái hậu và Cung Đế muốn gặp Bá Nhan nhưng Bá Nhan nói mình chưa vào triều thì chưa nên làm lễ tương kiến. Sau đó sai Tháp Ha và Mạnh Kì vào cung tuyên chiếu của Nguyên chủ đưa Cung Đế và thái hậu lên bắc. Thái hậu khóc, bảo Cung Đế bái tạ, sau đó Cung Đế, Toàn thái hậu, Phúc vương Dữ Nhuế, Nghi vương Dữ Du, Độ Tông mẫu Long Quốc phu nhân Hoàng thị cùng Dương Trấn, Tạ Đường, Cao Ứng Tùng và ba thái học sinh cùng ra khỏi cung, lên miền bắc. Riêng thái hoàng thái học tuổi đã cao thì được ở lại Lâm An. Đó là ngày 4 tháng 2 năm 1276. Các đại thần triều Tống ở miền nam về sau hợp sức chống Nguyên, lập ra một triều đình lưu vong do Tống Đoan Tông Triệu Thị và sau đó là Tống đế Bính đứng đầu, tiếp tục chiến đấu với quân Nguyên và tồn tại đến năm 1279 thì bị diệt. Đó cũng là lúc kết thúc triều đại nhà Tống. Còn theo ý kiến của sử gia Tất Nguyên trong Tục tư trị thông giám thì triều Tống kết thúc từ đây, hai vị vua còn lại không được công nhận là hoàng đế Trung Hoa.

Cuộc sống ở Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi quân Nguyên đưa Cung Đế vượt sông, các đại thần Lý Đình ChiMiêu Tái Thành tìm cách giải cứu cho ông nhưng thất bại. Tháng 3 ÂL năm đó, Cung Đế được đưa đến Đại Đô và đến tháng 5 ÂL thì đến Thượng Đô. Ngày Bính Thân, Cung Đế được đưa vào yết kiến Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt ở điện Đại An. Thế Tổ thương tình bé nhỏ vô tư nên rất hậu đãi, phong ông là Doanh quốc công, Khai phủ nghi đồng tam ti và gả công chúa, cho ông sống ở Đại Đô[11]. Năm Chí Nguyên 19 (1289), Nguyên Thế Tổ theo lời tấu của Trung thủ tỉnh, dời Doanh quốc công đến Thượng Đô. Nguyên Thế Tổ muốn bảo toàn tông tộc triều Tống, vào tháng 10 ÂL năm 1288 đã hạ lệnh Doanh quốc công đến sống ở đất Thổ Phiên[12], có thuyết cho rằng ông tự muốn đến Thổ Phiên để nghiên cứu Phật giáo. Tháng 12 ÂL, ông được đến Thoát Tư Ma[13] và sống trong chùa Tích Tát Tư Ca, hiệu là Mộc Ba giảng sư, sau trở thành trụ trì ở chùa này, pháp hiệu là Hợp Tôn. Trong thời gian làm nhà sư, Doanh quốc công đã có nhiều đóng góp to lớn với Phật giáo Trung Quốc[3], đặc biệt trong nửa cuộc đời còn lại của mình, ông chuyên tâm vào con đường dịch sách kinh của Phật giáo Tây Tạng thành tiếng Hoa để truyền bá cho dân tộc Trung Hoa về những giáo lý mới trong Phật giáo Lạt Ma Tây Tạng[3].

Vào giữa những năm Diên Hựu (1314 - 1320) đời Nguyên Nhân Tông, quốc vương Cao LyVương Chương lệnh Quyền Hán Công đi sứ nước Nguyên. Biết Doanh quốc công hiện vẫn còn sống, Vương Chương sáng tác bài Doanh quốc công đệ bồn mai để vịnh về cuộc đời của ông.

Nhưng, ông không bao giờ quên mình là Hoàng đế của Nam Tống, bản thân ông căm thù Mông Cổ, nhưng bất lực, nên ông tiêu khiển bằng cách làm thơ[2]. Các bài thơ của ông thể hiện sự ước ao yên bình cho triều đại Nam Tống của mình, thể hiện ý chí căm thù Mông Nguyên, quyết không phục họ; cũng vì vậy, mà bài thơ này đã chọc tức đến Hoàng đế Mông Nguyên[2]. Theo Phật Tổ lịch đại thông tái thì vào năm Chí Trị thứ ba thời Nguyên Anh Tông (1323), tháng 4 ÂL, Doanh quốc công bị giết chết ở Hà Tây[14]. Các sử gia thời nhà Minh cho rằng cái chết này là do văn thơ của ông kích động lòng tự tôn dân tộc ở người Hán, đánh động đến sự thống trị của chính quyền nhà Nguyên, do vậy ông bị khép tội xúi giục dân chúng mưu phản và bị chém đầu. Sách Sơn Am tạp lục dẫn thơ

Kí ngữ Lâm Hòa tĩnh/Mai khai kỉ độ hoa/Hoàng kim đài thượng khách/Vô phục đắc hoàn gia.

Đào Tông Nghi trong Xuyết canh lục dẫn khác một chút

Kí ngữ Lâm Hòa tĩnh/Mai hoa kỉ độ khai/Hoàng kim đài hạ khách/Ứng thị bất quy lai.

Cừ Hựu trong Quy điền thi thoại lại dẫn là

Hoàng kim đài thượng khách/Để sự hựu tư gia/Quy vấn Lâm Hòa tĩnh/Hàn mai kỉ độ hoa.

Sau đó Doanh quốc công đem những lời thơ này trao đổi với Uông Nguyên Lượng và cuối cùng bài thơ lọt vào tay vua Nguyên. Cũng trong tháng 4 năm 1323, Nguyên Anh Tông lại hạ lệnh điều tra các sư tăng trong nước để tìm ra những người có lời lẽ kích động như vậy mà trị tội.

Nghi vấn về huyết thống với Nguyên Thuận Đế[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu thế có lời lan truyền về việc Nguyên Thuận Đế Thỏa Hoàn Thiếp Mộc Nhĩ chính là con trai nhỏ của Tống Cung Đế. Theo Thuận Đế kỉ trong Nguyên sử thì vào năm 1330, Thỏa Hoàn đã từng bị chú là Nguyên Văn Tông đày đến Cao Ly rồi Tĩnh Giang[15]. Có lời đồn rằng việc Thuận Đế bị lưu đày là do ông ta không phải là dòng dõi triều Nguyên. Nguyên Văn Tông dẫn lời người chồng của nhũ mẫu Thỏa Hoàn rằng Thỏa Hoàn không phải là con của Nguyên Minh Tông Hòa Thế Lạt rồi bố cáo trong ngoài về việc này, sau đó lưu đày Thỏa Hoàn. Sử gia Nhân Quyền Hành vào cuối thời Nguyên, đầu thời Minh viết quyển Canh Thân ngoại sử, trong đó kể lại rằng lúc Doanh Quốc công ở chùa Thập Tự (tức Trương Dịch Đại tự) đã thành thân với một nữ tử có tên là Hồi Hồi. Tháng 4 ÂL năm Diên Hựu thứ 7 đời Nguyên Anh Tông (tức 25 tháng 5 năm 1320), Hồi Hồi sinh một người con trai chính là Thỏa Hoàn Thiếp Mục Nhĩ. Lúc này con trai trưởng của Nguyên Vũ Tông là Chu vương Hòa Thế Lạt, tức Nguyên Minh Tông về sau, lưu vong ở miền Tây Bắc có ghé qua chùa này và gặp được người con trai nhỏ của Doanh Quốc công, cảm thấy vui mừng nên nhận làm con mình, sau đó lấy luôn người mẹ[16]. Vào thời Minh người ta bàn luận rất nhiều về sự việc này. Quyển Tứ Khố đề yếu viết vào thời nhà Thanh cho rằng việc Nguyên Thuận Đế là con của Tống Cung Đế thực ra chỉ là câu chuyện bịa đặt của những người dân Tống mất nước, họ níu giữ một hi vọng rằng người ngự trên ngai vàng vẫn mang dòng máu họ Triệu, còn bọn người thời Minh lại ra sức làm cho câu chuyện lan truyền rộng hơn. Các học giả cận đại lập luận rằng nếu câu chuyện có thật thì Doanh quốc công có lẽ trước lúc đến sống tại Cam châu đã từng đến địa giới Cát Tư, Cát Lợi của Khiêm Châu[17] và lúc đó Chu vương Hòa Thế Lạt từ Thiểm Tây đến A Nhĩ Thái Sơn (Kim Sơn) lưu vong tại đất phong của Sát Hợp Đài là vùng tiếp cận với Khiêm châu.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Tống Độ Tông Triệu Kỳ
  • Mẹ: Toàn hoàng hậu
  • Vợ:
    • Bột Nhi Chỉ Cân thị (công chúa nhà Nguyên, ghi chép trong Sử tập của Lạp Thi Đặc phần kỷ Hốt Tất Liệt hãn, Lưỡng sơn mặc đàm của Trần ĐìnhQuốc các của Đàm Thiên.
    • Hãn Lộc Lỗ Mại Lai Địch (Cháu của Hồi Hồi quận vương A Nhi Tư Lan, mẹ của Nguyên Thuận Đế). Tạp sử ghi là thiếp của Doanh quốc công, sau được Nguyên Minh Tông nạp vào cung.
  • Con trai:
    • Triệu Hoàn Phổ. Đi tu, không rõ sinh mất. Thời kỳ thuộc niên hiệu Chí Chính sống ở Sa Châu.
    • Nguyên Thuận Đế Bột Nhi Chỉ Cân Thỏa Hoàn Thiếp Mục Nhĩ. Tạp sử truyện ghi là con trai nhỏ của Cung Tông.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Các hoàng đế Trung Hoa" của Đặng Duy Phúc.
  2. ^ a ă â b c "Tống sử" của Thoát Thoát.
  3. ^ a ă â b "Các đời đế vương Trung Hoa" của Nguyễn Khắc Thuần.
  4. ^ a ă â b c Tống sử, quyển 47
  5. ^ Tống sử, quyển 46
  6. ^ a ă â b Tục tư trị thông giám, quyển 180
  7. ^ Uông Lập Tín đã bị bắn chột một mắt
  8. ^ a ă â b c Tục tư trị thông giám, quyển 181.
  9. ^ Tống sử, quyển 474
  10. ^ a ă â b Tục tư trị thông giám, quyển 182.
  11. ^ Nay thuộc thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc
  12. ^ Nay là khu tự trị Tây Tạng, Trung Quốc
  13. ^ Nay thuộc châu trị trị Hải Nam, tỉnh Thanh Hải, Trung Quốc
  14. ^ Nay thuộc tỉnh Cam Túc, Trung Quốc
  15. ^ Nguyên sử, quyển 38
  16. ^ Nhân Quyền Hành, Canh Thân ngoại sử
  17. ^ Nằm vào khoảng thượng lưu Diệp Ni Tắc Hà