Tống Cung Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tống Cung Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Song Gongdi.jpg
Tranh vẽ Tống Cung Tông.
Hoàng đế nhà Tống
Trị vì 12741276
Tiền nhiệm Tống Độ Tông
Kế nhiệm Tống Đoan Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Xem văn bản
Hậu duệ Xem văn bản
Tên thật Triệu Hiển (趙显)
Niên hiệu
Thụy hiệu Hiếu cung Ý Thánh hoàng đế
孝恭懿圣皇帝
Miếu hiệu Cung Tông (恭宗)
Triều đại Nhà Tống
Thân phụ Tống Độ Tông
Thân mẫu Toàn hoàng hậu
Sinh 1271
Mất 1323
Trung Quốc
Tôn giáo Phật giáo

Tống Cung Tông (宋恭宗) (1271 - 1323[1]), tên là Triệu Hiển, kế vị sau Tống Độ Tông. Trong giai đoạn trị vì 2 năm của Cung Tông có 1 niên hiệu là Đức Hữu (1275 - 1276). Cung Tông là hoàng đế thứ 16 của triều đại nhà Tống và cũng là hoàng đế thứ 7 của Nam Tống. Người kế vị ông là vua Tống Đoan Tông.

Cung Tông lên ngôi vào năm 1274, lấy niên hiệu vào năm sau, kế thừa ngai vị của vua cha.

Trong thời gian Cung Tông trị vì, triều đại nhà Tống luôn bị điên đảo trước cuộc xâm lược mạnh mẽ của binh đoàn Mông - Nguyên. Lúc này, đội quân Mông Cổ đã vượt qua dòng sông Dương Tử (Trường Giang), và trên đường tiến chiếm lấy vùng Hàng Châu. Bị giặc ép buộc phải đầu hàng, Thái hoàng Thái hậu nhà Nam Tống phải buộc sang chầu Mông - Nguyên. Sau đó, tuy chính quyền Nam Tống ra sức tìm cách kháng Nguyên, nhưng trước thế mạnh đối phương, Tống Cung Tông bị bắt.

Sau khi bị bắt, đối phương không giết ông, mà giáng phong ông làm Doanh quốc công, và đến năm 1289, Khả hãn Mông Cổ là Hốt Tất Liệt (Khubilai Khan, sau này là Nguyên Thế Tổ, chiếm trọn Trung Hoa) đưa Tống Cung Tông đến sống ở miền Tây Tạng, bắt ông phải cắt tóc đi tu[2]. Trong thời gian làm nhà sư, Cung Tông đã có nhiều đóng góp to lớn với Phật giáo Trung Quốc[3], đặc biệt trong nửa cuộc đời còn lại của mình, ông chuyên tâm vào con đường dịch sách kinh của Phật giáo Tây Tạng thành tiếng Hoa để truyền bá cho dân tộc Trung Hoa về những giáo lý mới trong Phật giáo Lạt Ma Tây Tạng[3].

Nhưng, ông không bao giờ quên mình là Hoàng đế của Nam Tống, bản thân ông căm thù Mông Cổ, nhưng bất lực, nên ông tiêu khiển bằng cách làm thơ[2]. Các bài thơ của ông thể hiện sự ước ao yên bình cho triều đại Nam Tống của mình, thể hiện ý chí căm thù Mông Nguyên, quyết không phục họ; cũng vì vậy, mà bài thơ này đã chọc tức đến Hoàng đế Mông Nguyên[2]. Hậu quả là cái chết đã giáng xuống đầu ông vào năm 1323, lúc ông 53 tuổi.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Tống Độ Tông Triệu Kỳ
  • Mẹ: Toàn hoàng hậu
  • Vợ:
    • Bột Nhi Chỉ Cân thị (công chúa nhà Nguyên, ghi chép trong Sử tập của Lạp Thi Đặc phần kỷ Hốt Tất Liệt hãn, Lưỡng sơn mặc đàm của Trần ĐìnhQuốc các của Đàm Thiên.
    • Hãn Lộc Lỗ Mại Lai Địch (Cháu của Hồi Hồi quận vương A Nhi Tư Lan, mẹ của Nguyên Thuận Đế). Tạp sử ghi là thiếp của Doanh quốc công, sau được Nguyên Minh Tông nạp vào cung.
  • Con trai:
    • Triệu Hoàn Phổ. Đi tu, không rõ sinh mất. Thời kỳ thuộc niên hiệu Chí Chính sống ở Sa Châu.
    • Nguyên Thuận Đế Bột Nhi Chỉ Cân Thỏa Hoàn Thiếp Mục Nhĩ. Tạp sử truyện ghi là con trai nhỏ của Cung Tông.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Các hoàng đế Trung Hoa" của Đặng Duy Phúc.
  2. ^ a ă â "Tống sử" của Thoát Thoát.
  3. ^ a ă "Các đời đế vương Trung Hoa" của Nguyễn Khắc Thuần.