Tống Khánh Linh
|
|
Bài hoặc đoạn này cần được wiki hóa theo các quy cách định dạng và văn phong Wikipedia. Xin hãy giúp phát triển bài này bằng cách liên kết trong đến các mục từ thích hợp khác. |
| Tống Khánh Linh 宋慶齡 / 宋庆龄 |
|
Tống Khánh Linh |
|
| Chủ tịch Danh dự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa | |
|---|---|
| Nhiệm kỳ | 16 tháng 5, 1981 – 28 tháng 5, 1981 |
| Thủ tướng | Triệu Tử Dương |
| Tiền nhiệm | Diệp Kiếm Anh |
| Kế nhiệm | Diệp Kiếm Anh |
| Đại biểu Quốc hội | |
| Nhiệm kỳ | 15 tháng 9, 1954 – 28 tháng 5, 1981 |
| Khu vực | Đại biểu Thượng Hải |
| Quyền Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội | |
| Nhiệm kỳ | 6 tháng 7, 1976 – 5 tháng 3, 1978 |
| Tiền nhiệm | Chu Đức |
| Kế nhiệm | Diệp Kiếm Anh |
| Quyền Chủ tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa | |
| Nhiệm kỳ | 31 tháng 10, 1968 – 24 tháng 2, 1972 Đồng nhiệm với Đổng Tất Vũ |
| Thủ tướng | Chu Ân Lai |
| Tiền nhiệm | Lưu Thiếu Kỳ |
| Kế nhiệm | Đổng Tất Vũ (quyền) |
| Phó Chủ tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa | |
| Nhiệm kỳ 1 | 1 tháng 10, 1949 – 27 tháng 9, 1954 Quyền đồng nhiệm với Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ, Lý Tế Thâm, Trương Lan và Cao Cương |
| Chủ tịch | Mao Trạch Đông |
| Thủ tướng | Chu Ân Lai |
| Kế nhiệm | Chu Đức |
| Nhiệm kỳ 2 | 27 tháng 4, 1959 – 24 tháng 2, 1972 Đồng nhiệm với Đổng Tất Vũ |
| Chủ tịch | Lưu Thiếu Kỳ |
| Tiền nhiệm | Chu Đức |
| Kế nhiệm | Ô Lan Phu (乌兰夫) |
| Đảng | Ủy ban Cách mạng Quốc Dân Đảng (1948-1981) |
| Sinh | 27 tháng 1, 1893 Hoàng Phố, Thượng Hải, Nhà Thanh |
| Mất | 29 tháng 5, 1981 Bắc Kinh, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa |
| Dân tộc | Khách Gia |
| Tôn giáo | |
| Hôn phu | Tôn Trung Sơn |
| Học tập | Đại học Wesleyan |
Tống Khánh Linh (giản thể: 宋庆龄; phồn thể: 宋慶齡; bính âm: Sòng Qìnglíng; Wade-Giles: Sung Ch'ing-ling) (ngày 27 tháng 1, 1893 – ngày 29 tháng 5, 1981) là một trong ba chị em họ Tống-ba chị em có 3 người chồng là một trong những nhân vật chính trị nổi bật nhất Trung Quốc của đầu thế kỷ 20. Tống Khánh Linh là phu nhân của Tôn Dật Tiên, tổng thống đầu tiên của Trung Hoa Dân Quốc. Sau khi người cộng sản toàn thắng trên Trung Hoa lục địa năm 1949, bà ở lại Trung Quốc và trở thành Phó Chủ tịch Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Bà còn có tên tiếng Anh là Rosamond.
Bà được sinh ra trong gia đình một nhà kinh doanh và mục sư giàu có Tống Gia Thụ tại quận Hoàng Phố, Thượng Hải, theo học trường Motyeire dành cho nữ sinh ở Thượng Hải, và tốt nghiệp từ Wesleyan College ở Macon, Georgia, Hoa Kỳ.
Bà kết hôn với Tôn Dật Tiên ở Nhật Bản vào ngày tháng 10 năm 1915 nhưng Tôn Dật Tiên trước đó đã kết hôn với Lô Mộ Trinh. Bố mẹ Tống Khánh Linh kịch liệt phản đối cuộc hôn nhân này do Tôn Dật Tiên lớn hơn Tống Khánh Linh 26 tuổi. Sau khi Tôn Dật Tiên mất năm 1925, bà đã được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương của Trung Hoa Quốc Dân Đảng năm 1926. Tuy nhiên, bà tự lưu vong ở Moskva sau khi Quốc Dân Đảng thanh lọc, đàn áp, giết hại những người thân cộng, thiên tả trong đảng này năm 1927.
Dù Tống Khánh Linh hòa giải với Quốc dân Đảng trong Chiến tranh Trung-Nhật (1937-1945), bà đã đứng về phe Cộng sản trong Nội chiến Trung Quốc. Bà đã không vào Đảng Cộng sản Trung Quốc mà lập ra Ủy ban cách mạng Quốc Dân Đảng Trung Quốc, một phần của Mặt trận thống nhất (hiện nay Ủy ban cách mạng Quốc Dân Đảng Trung Quốc vẫn tồn tại ở Trung Quốc, là chính đảng đứng thứ hai sau Đảng Cộng sản).
Năm 1939 bà đã thành lập Liên đoàn Phòng vệ Trung Hoa (China Defense League), sau này trở thành Viện Phúc lợi Trung Hoa (China Welfare Institute). Ủy ban của viện hoạt động chủ yếu về các vấn đề sức khỏe bà mẹ và trẻ em, giáo dục mầm non, và các hoạt động liên quan đến trẻ em.
Đầu thập niên 1950, bà đã thiết lập tạp chí China Reconstructs, nay có tên China Today, với sự trợ giúp của Israel Epstein. Tạp chí này được xuất bản hành tháng (nguyệt san) bằng 6 thứ tiếng (tiếng Hoa, tiếng Anh tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Ả rập, tiếng Tây Ban Nha).
Sau khi thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bà đã trở thành Phó chủ tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Chủ tịch Hội Hữu nghị Trung-Xô kiêm Chủ tịch danh dự của Liên đoàn Phụ nữ toàn Trung Hoa. Năm 1951 bà đã được trao Giải thưởng Hòa bình Stalin, (Giải thưởng Hòa bình Lenin sau khi Stalin bị phủ định), và vào năm 1953 một bộ sưu tập các bài viết của bà, Đấu tranh cho nước Trung Hoa mới, đã được xuất bản. Từ 1968 đến 1972 bà đã giữ chức đồng nguyên thủ quốc gia với Đổng Tất Vũ (董必武).
Ngày 16 tháng 5 năm 1981, hai tuần trước khi mất, bà đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc và đã được ban danh hiệu Chủ tịch danh dự Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa. Bà là người duy nhất được ban danh hiệu này.
Trong khi tất cả các anh chị em trong gia đình bà đều theo phe Trung Hoa Quốc dân Đảng, chẳng hạn cô em Tống Mỹ Linh, người đứng về phe chồng là Tưởng Giới Thạch và chạy ra Đài Loan cùng với chính quyền Trung Hoa Quốc Dân Đảng, hoặc bà chị là Tống Ái Linh lấy chồng là Khổng Tường Hy theo phe Quốc Dân Đảng, duy nhất Tống Khánh Linh ở lại Trung Quốc đại lục theo Đảng Cộng sản Trung Quốc và là một hình ảnh được yêu quý ở Trung Hoa Đại lục. Em trai bà là Tống Tử Văn từng làm Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng Tài chính và Thủ tướng Trung Hoa Dân Quốc.
Mục lục |
Hình ảnh trong phim ảnh[sửa]
Năm 1997 một bộ phim điện ảnh Hồng Kông có tên "Chị em nhà họ Tống" (宋家皇朝), bà được nữ diễn viên Trương Mạn Ngọc đóng vai.
Xem thêm[sửa]
Tham khảo[sửa]
- Jung Chang and Jon Halliday, Madame Sun Yat-Sen: Soong Ching-Ling (London, 1986); Penguin, ISBN 0-14-008455-X
- Seagrave, Sterling. The Soong Dynasty: 1996, Corgi Books, ISBN 0-552-14108-9
- Epstein, Israel. Woman in World History: The Life and Times of Soong Ching-ling: 1993, China Intercontinental press, ISBN 7-80005-161-7.
| Tiền nhiệm: Lưu Thiếu Kỳ |
Quyền Chủ tịch CHNDTH 1968–1972 với Đổng Tất Vũ |
Kế nhiệm: Đổng Tất Vũ (một mình) |
| Tiền nhiệm: Diệp Kiếm Anh (Chủ tịch Nhân đại) |
Chủ tịch CHNDTH (Chủ tịch danh dự) 1981 |
Kế nhiệm: Diệp Kiếm Anh (Chủ tịch Nhân đại) |
|
|||||||||
|
|||||||||||||||||||
| Sự kiện chính giai đoạn 1916-1920 | Sự kiện chính giai đoạn 1920-1930 | Miền Bắc | Miền Nam |
|---|---|---|---|
|
|
Khu vực: |
Liên kết ngoài[sửa]
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Tống Khánh Linh |