Tống Mỹ Linh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tống Mỹ Linh

Tống Mỹ Linh
Đệ nhất phu nhân Trung Hoa Dân Quốc
Sinh 5 tháng 3, 1897
Thượng Hải, Trung Quốc
Mất 23 tháng 10, 2003 (106 tuổi)
New York, Hoa Kỳ
Đối tác Tưởng Giới Thạch (chồng)
Cha mẹ Tống Gia Thụ
Tống Mỹ Linh và Tưởng Giới Thạch trong ngày cưới 1927

Tống Mỹ Linh, cũng được gọi là Bà Tưởng Giới Thạch (Trung văn giản thể: 宋美龄; Trung văn phồn thể: 宋美齡; bính âm: Sòng Měilíng, sinh ngày 5 tháng 3 năm 1897 tại Thượng Hải, Trung Quốc, qua đời ngày 23 tháng 10 năm 2003 tại New York, Mỹ, hưởng thọ 106 tuổi; là một trong 3 chị em họ Tống và được mô tả là người yêu quyền lực. Bà là phu nhân của Tưởng Giới Thạch (tổng thống Trung Hoa Dân quốc), người lãnh đạo Quốc dân Đảng Trung Quốc nắm giữ chính quyền ở Trung Quốc từ năm 1925 - 1949 và sau này ở Đài Loan; bà đã đóng một vai trò quan trọng trong chính trị của Trung Hoa Dân quốc. Bà là người bảo trợ Ủy ban Chữ Thập đỏ quốc tế, Chủ tịch danh dự của Quỹ Viện trợ thống nhất Vương quốc Anh, Thành viên danh dự Hội Kỷ niệm Bản Tuyên ngôn nhân quyền. Vào cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, Bà là một trong mười phụ nữ được ngưỡng mộ nhất nước Mỹ và là người phụ nữ thứ hai được đọc diễn văn trước Quốc hội Mỹ.

Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Tống Mỹ Linh là con thứ 3 trong gia đình 6 con. Tống Mỹ Linh được sinh ra tại thành phố Thượng Hải[1] trong gia đình của Tống Gia Thụ, một mục sư Hội Giám lý người Khách Gia và là một người kinh doanh làm giàu nhờ bán Kinh Thánh ở Trung Quốc. Tống Mỹ Linh đã theo học trường Motyeire, một trường tư Mỹ ở Thượng Hải vào lúc lên 8. Gia đình Mỹ Linh có các con sau: chị cả Tống Ái Linh, chị hai Tống Khánh Linh, anh trai Tống Tử Văn, Tống Mỹ Linh, sau đó là các em trai Tống Tử Lương và em út Tống Tử An.

Tống Mỹ Linh bắt đầu college tại trường các chị đã học, Wesleyan CollegeMacon, Georgia, nhưng lại chuyển qua Wellesley College và tốt nghiệp hạng cao năm 1917 với chuyên ngành chính là văn học Anh và chuyên ngành phụ là triết học. Do được giáo dục ở Hoa Kỳ, bà nói tiếng Anh với giọng của người tiểu bang Georgia và điều này đã giúp bà liên hệ với thính giả Mỹ[2]. Bà tốt nghiệp ngày 19 tháng 6 năm 1917, và là một trong 33 người được học bổng Durant Scholars.

Tưởng Phu Nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tống Mỹ Linh đã gặp Tưởng Giới Thạch năm 1920. Do bà thua Tưởng Giới Thạch 11 tuổi, Tưởng đã kết hôn và là một người theo Phật giáo, mẹ của Tống Mỹ Linh kịch liệt phản đối cuộc hôn nhân này nhưng cuối cùng đồng ý sau khi Tưởng đã chứng minh mình đã ly hôn và hứa sẽ chuyển từ đạo Phật qua Kitô giáo. Tưởng nói với mẹ vợ tương lai rằng mình không thể một sớm một chiều thay đổi tôn giáo được vì tôn giáo cần phải giác ngộ từ từ, không phải nhanh như uống một viên thuốc. Trong khi nhiều nhà viết tiểu sử xem cuộc hôn nhân này là một trong những cuộc hôn nhân vì tình yêu vĩ đại nhất mọi thời đại, những nhà viết tiểu sử khác lại coi đây là một cuộc hôn nhân vụ lợi. Hai vợ chồng Tống Mỹ Linh không bao giờ có con do trước khi cưới hai bên đã giao ước sẽ không có con với nhau.

Bà Tưởng đã khởi xướng Phong trào nếp sống mới và đã trở nên tích cực trong hoạt động chính trị Trung Hoa. Bà là một nghị sỹ của Viện Lập pháp từ năm 1930 đến năm 1932 kiêm Tổng Thư ký của Ủy bản Vụ hàng không Trung Quốc từ năm 1936 đến năm 1938. Năm 1945, bà đã trở thành ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Quốc Dân Đảng. Khi chồng bà lên chức Tổng tư lệnh kiêm lãnh đạo của Quốc Dân Đảng, bà Tưởng đã làm phiên dịch tiếng Anh kiêm thư ký và cố vấn cho Tưởng Giới Thạch. Bà là Nàng thơ, đôi mắt, đôi tai và đặc biệt là nhà quán quân trung thành nhất của Tưởng. Trong thời kỳ Thế chiến thứ hai, bà đã cố gắng xúc tiến sự nghiệp của Trung Hoa và xây dựng một di sản cho chồng mình ngang hàng với Roosevelt, ChurchillStalin. Do am hiểu sâu về văn hóa Trung Hoa và phương Tây, bà đã trở nên nổi tiếng ở Trung Quốc và ở nước ngoài. Sự nổi bật của bà đã khiến Joseph Stilwell nói châm biếm rằng đáng lẽ ra phải bổ nhiệm bà làm bộ trưởng quốc phòng.

Ở Hoa Kỳ, bà đã thu hút một đám đông 30.000 khán thính giả và bà được lên trang bìa của tạp chí TIME, đầu tiên với chồng mình với danh hiệu là "Vợ chồng trong năm" và lần thứ hai là với danh hiệu Dragon Lady. Cả hai vợ chồng thân với các người chủ biên chính của Time và người đồng sáng lập Henry Luce, những người thường cố tập hợp tiền và ủng hộ từ công chúng Mỹ cho Quốc Dân Đảng. Ngày 18 tháng 2 năm 1943, bà đã trở thành người quốc tịch Trung Quốc đầu tiên và là người phụ nữ thứ hai đọc diễn văn trước Quốc hội Hoa Kỳ.

Sau thất bại của chính phủ chồng bà trong cuộc Nội chiến Trung Quốc vào năm 1949, bà đã theo chồng đến Đài Loan, còn chị gái của bà là Tống Khánh Linh ở lại Đại Lục, đứng về phía những người cộng sản. Khi Tổng tư lệnh Tưởng trở nên suy yếu vì tuổi già, bà đã nắm lấy quyền lực bằng cách tiếp nhận vai trò "phiên dịch". Bà tiếp tục đóng một vai trò quốc tế nổi bật. Bà là một người bảo trợ của Ủy ban Chữ thập Đỏ Quốc tế, chủ tịch danh dự của Quỹ Viện trợ Thống nhất Anh quốc cho Trung Hoa, thành viên danh dự thứ nhất của Hội Kỷ niệm Bản tuyên ngôn Nhân quyền. Suốt cuối thập niên 1960 bà đã là một trong 10 người phụ nữ được ngưỡng mộ nhất Mỹ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]