Tổ chức Tầm nhìn Thế giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
World Vision International
World vision logo.jpg
Người sáng lập Robert Pierce[1]
Kiểu tổ chức Tổ chức phi chính phủ[2][3]
Thành lập 1950[1]
Trụ sở Monrovia, California, Hoa Kỳ (Partnership Office/Global Centre); Federal Way, Washington, Hoa Kỳ (U.S. Headquarters); Geneva, Switzerland (International Liaison); Nairobi, Kenya (Africa Region); Nicosia, Cyprus (Middle East and Eastern Europe Region); Bangkok, Thái Lan (Asia Pacific Region); San José, Costa Rica (Latin America and Caribbean Region)
Nhân vật quan trọng Dean Hirsch (International President)
Denis St. Armour (Chairperson Int'l Board)
Khu vực hoạt động 97 quốc gia
Trọng tâm Hành động vì phúc lợi của mọi người, đặc biệt là trẻ em.
Phương thức Phát triển để tiến bộ thông qua cứu trợ khẩn cấp, phát triển cộng đồng, sự sáng suốt và nhiệt tình cống hiến
Lợi nhuận 2, 79 tỉ đô la Mỹ (2011)
Nhân viên 44,500 (2011)[4]
Khẩu hiệu Tầm nhìn của chúng tôi hướng về tất cả trẻ em, cuộc sống với hạnh phúc đầy trọn; lời cầu nguyện của chúng tôi dành cho mọi người, ước nguyện biến chúng thành hiện thực.
Trang web www.worldvision.org www.wvi.org

Tầm nhìn Thế giới hoặc Hoàn cầu Khải tượng là một tổ chức Tin Lành[5] chuyên về cứu trợ, phát triển, và bảo trợ bằng cách đồng hành với trẻ em, các gia đình, và cộng đồng để giúp họ vượt qua sự nghèo khó và bất công. Được soi dẫn bởi các giá trị Cơ Đốc, Tầm nhìn Thế giới hướng về mục tiêu dấn thân để chia xẻ với những người dễ bị tổn thương nhất trên thế giới, và phục vụ mọi người không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, hoặc giới tính.[6]

Kể từ lúc Bob Pierce thành lập Tầm nhìn Thế giới năm 1950,[1] tổ chức này đã phát triển để trở thành một trong những tổ chức từ thiện và phát triển lớn nhất thế giới với tổng thu nhập bao gồm các khoản quyên góp, sản phẩm, và đóng góp từ nước ngoài lên 2, 79 tỉ USD năm 2011.[7][8]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức Cơ Đốc về cứu trợ và phát triển này hoạt động với tôn chỉ giúp đỡ trẻ em và cộng đồng của chúng trên khắp thế giới đã tận dụng mọi tiềm năng của mình trong nỗ lực giải quyết căn nguyên của nạn nghèo đói. Tầm nhìn Thế gới được thành lập năm 1950 bởi Tiến sĩ Bob Pierce, một mục sư trẻ tuổi đang làm việc tại Trung HoaHàn Quốc cho tổ chức Tuổi trẻ vì Chúa Cơ Đốc (Youth for Christ); trong khi thi hành mục vụ Pierce có cơ hội tiếp xúc với nhiều trẻ em bất hạnh và tình cảm nhân ái của ông bắt đầu hướng về chúng. Pierce dành tất cả những gì ông có cho một bé gái tên Bạch Ngọc, đến từ một gia đình Trung Hoa nghèo khổ. Bé gái này bị đánh đập và tước đoạt mọi thứ sau khi em quyết định trở thành một tín hữu Cơ Đốc. Số tiền 5 USD của Pierce chỉ đủ để cho em thức ăn, quần áo và cơ hội đến trường, nhưng ông hứa mỗi tháng sẽ gởi cho em tiền trợ cấp. Hành động tự nguyện này là sự khởi đầu cho các chương trình bảo trợ của Tầm nhìn Thế giới trên toàn cầu.

Năm 1967, Pierce từ nhiệm khỏi Tầm nhìn Thế giới; năm 1970, ông nhận lãnh đạo một tổ chức trợ giúp nạn nhân đói kém, sau này trở thành tổ chức từ thiện Quỹ Người Samaria nhân lành (Samaritan’s Purse). Bob Pierce qua đời năm 1978.

Tầm nhìn Thế giới bắt đầu chăm sóc trẻ mồ côi và những trẻ em khác đang cần trợ giúp trên khắp châu Á rồi lan dần đến hơn 90 quốc gia với tầm hoạt động được mở rộng sang các lãnh vực khác như phát triển cộng đồng và chăm sóc người nghèo như là một phần trong sứ mạng căn bản của tổ chức nhằm giúp trẻ em và gia đình của chúng kiến tạo một tương lai bền vững. Với hơn 20.000 nhân viên, năm 2005, Tầm nhìn Thế giới xúc tiến các chương trình hoạt động trên khắp thế giới ảnh hưởng đến cuộc sống của 100 triệu người, trong đó có 1,85 triệu người đang sống tại nước Mỹ. Có năm triệu người đóng góp, hỗ trợ và làm tình nguyện viên đồng hành với Tầm nhìn Thế giới để đạt đến những mục tiêu này.

Cơ cấu[sửa | sửa mã nguồn]

Cấu trúc tổ chức của Tầm nhìn Thế giới vận hành theo cách đồng công với các văn phòng độc lập tại mỗi quốc gia, những văn phòng này tự điều hành các ban quản trị hoặc hội đồng tư vấn tại chỗ. Một cương lĩnh chung và những giá trị cùng chia sẻ ràng buộc các văn phòng cộng tác và nhân viên. Các văn phòng thành viên cùng chịu chi phối bởi các chính sách và tiêu chuẩn chung, chịu trách nhiệm kiểm soát lẫn nhau qua một hệ thống kiểm tra đồng đẳng.

Các văn phòng thành viên - đặt tại Geneva, Bangkok, Nairobi, Kypros, Los AngelesSan José – có nhiệm vụ phối hợp điều hành chiến lược và đại diện cho Tầm nhìn Thế giới trên trường quốc tế. Mỗi văn phòng quốc gia đều có tiếng nói bình đẳng trong việc điều hành tổ chức, xoá bỏ sự phân biệt lâu đời giữa thế giới đã phát triển và thế giới đang phát triển.

Một ban giám đốc quốc tế quản lý Hệ thống Thành viên Tầm nhìn Thế giới. Toàn thể ban giám đốc họp hai lần mỗi năm để bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo, thông qua các kế hoạch chiến lược, thông qua ngân quỹ cũng như ấn định các chính sách quốc tế.

Chủ tịch ban giám đốc quốc tế là Denis St. Armour đến từ Canada. Chủ tịch quốc tế và CEO của Tầm nhìn Thế giới là Tiến sĩ Dean R. Hirsch.

Ngân quỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng 80% ngân quỹ của Tầm nhìn Thế giới đến từ khu vực tư, gồm có đóng góp từ các cá nhân, các câu lạc bộ Tầm nhìn Thế giới tại các trường học chẳng hạn như Trường Mỹ - Đài Loan, các công ty và các tổ chức. Phần còn lại là đóng góp đến từ các chính phủ và các cơ quan đa quốc gia. Ngoài những đóng góp bằng tiền mặt, Tầm nhìn Thế giới còn có những quyên góp bằng hiện vật, điển hình là thực phẩm, thuốc men và áo quần được quyên góp từ các công ty và các cơ quan chính phủ.

Xấp xỉ một nửa các chương trình hoạt động của Tầm nhìn Thế giới dành cho việc bảo trợ trẻ em. Những cá nhân, gia đình, giáo đoàn và các nhóm khác nhận bảo trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hoặc các đề án cộng đồng trong và ngoài nước. Nhà bảo trợ hằng tháng gởi tiền cung ứng sự trợ giúp cho trẻ em hoặc các đề án đang được bảo trợ.

Hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Tầm nhìn Thế giới nỗ lực đáp ứng nhu cầu con người trong năm lãnh vực chính: cứu trợ khẩn cấp, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, phát triển kinh tế, và cổ xuý công bằng xã hội. Hoạt động của Tầm nhìn Thế giới tập trung vào các chương trình như phát triển chuyển đổi, cứu trợ khẩn cấp, sáng kiến chiến lược, sự quan tâm của công luận và làm chứng nhân cho Chúa Cơ Đốc.

Chương trình Phát triển để chuyển đổi nhắm vào mục tiêu cải thiện đời sống trẻ em. Lúc ban đầu nhằm giúp người dân và cộng đồng của họ nhận ra nguồn lực của chính mình để học biết cách sử dụng chúng hầu thay đổi cuộc sống. Với sự hỗ trợ từ Tầm nhìn Thế giới, các cộng đồng có thể tự chuyển đổi bằng cách tiến hành các đề án phát triển trong các lĩnh vực như chăm sóc sức khoẻ, sản xuất nông nghiệp, cải thiện nguồn nước, giáo dục, phát triển kinh tế qui mô nhỏ và các chương trình cộng đồng khác.

Tầm nhìn Thế giới cung ứng sự hỗ trợ khẩn cấp cho những người đang bị đe doạ bởi các loại thảm hoạ hay đang kẹt trong các vùng tranh chấp; những người này cần có sự trợ giúp khẩn cấp được tổ chức hiệu quả. Tầm nhìn Thế giới hoặc là tự mình tìm cách đáp ứng các tình huống khẩn cấp qui mô lớn trên khắp thế giới hoặc hợp tác với các tổ chức từ thiện khác trong nỗ lực giảm nhẹ đau thương và tổn thất cho nạn nhân thảm hoạ như nạn đóiEthiopiaBắc Triều Tiên, bão lở đấtTrung Mỹ, sóng thần tại các quốc gia Ấn Độ Dương, động đấtEl Salvador, Ấn Độ, Đài LoanThổ Nhĩ Kỳ, người tị nạn chiến tranh tại Kosovo, Chechnya, Sierra Leone, AngolaĐông Timor.

Tầm nhìn Thế giới cũng lên tiếng đánh động công luận về các nhân tố phức tạp và có hệ thống góp phần kéo dài nạn nghèo đói và đề ra giải pháp bằng cách cổ xuý công lý. Tầm nhìn Thế giới ủng hộ những nỗ lực tập thể của các cộng đồng cáo giác những bất công xã hội với mục tiêu hành động để thay đổi cuộc sống. Tầm nhìn Thế giới cũng lên tiếng về các vấn đề như lao động trẻ em, xoá nợ cho các nước nghèo, sử dụng trẻ em chiến đấu trong các cuộc tranh chấp có vũ trang. Tầm nhìn Thế giới Quốc tế ủng hộ Bản Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tếCông ước Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em như là những thể hiện nền tảng về tự do và trách nhiệm nên thực hiện tại mỗi quốc gia. Tầm nhìn Thế giới tìm kiếm cơ hội giảm thiểu các nguy cơ xung đột và đóng góp các giải pháp ôn hòa nhằm giải quyết sự thù địch bằng đàm phán và hoà giải.

Là một tổ chức Cơ Đốc, Tầm nhìn Thế giới, cùng các tín hữu và các nhà lãnh đạo Cơ Đốc thuộc mọi giáo phái, tham gia vào các sáng kiến chiến lược thông qua những hội nghị, tư vấn, các chương trình huấn luyện và những cơ hội giáo dục. Tầm nhìn Thế giới là một tổ chức có khuynh hướng hiệp nhất hội thánh mong muốn hợp tác với mọi giáo hội Cơ Đốc.

Tầm nhìn Thế giới khuyến khích công luận quan tâm đến những nhu cầu của người khác, nguyên do của nạn nghèo đói, và bản chất của những đáp ứng phát xuất từ lòng nhân ái. Những nỗ lực này bao gồm sự hợp tác với các phương tiện truyền thông và phương pháp tham gia cộng đồng (community participation) trong công tác gây quỹ. Với mọi phương tiện hiện có, Tầm nhìn Thế giới cố nêu lên vấn đề nhân phẩm của các nạn nhân là trẻ em cùng gia đình của chúng trong nỗ lực giải thích nguyên nhân và hậu quả của nạn nghèo đói, chiến tranh, bị ruồng bỏ và lạm dụng.

Tầm nhìn Thế giới tin rằng làm chứng nhân cho Chúa Cơ Đốc là nền tảng cho công tác cứu trợ với niềm xác tín rằng Thiên Chúa, trong thân vị của Chúa Giê-xu, ban cho con người niềm hi vọng được đổi mới, phục hồi và hoà giải. Tầm nhìn Thế giới trình bày thông điệp này qua "đời sống, hành động, cử chỉ và lời nói" trong tinh thần tôn trọng các niềm tin khác. Chủ trương của tổ chức này là không tìm cách lôi kéo hoặc ép buộc người khác qui đạo dưới bất cứ hình thức nào. Các chương trình và dịch vụ của Tầm nhìn Thế giới phục vụ mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tínhtôn giáo. Tất cả nhân viên làm việc cho Tầm nhìn Thế giới tại Hoa Kỳ được yêu cầu ký vào một bản xưng nhận đức tin vào Chúa Giê-xu, mặc dù những người làm việc theo hợp đồng hoặc những đối tác không cần phải có niềm tin Cơ Đốc. Tại các văn phòng ở nhiều nước trên thế giới, không có đòi hỏi nào về niềm tin tôn giáo đối với việc tuyển dụng nhân viên.

Địa bàn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2004, Tầm nhìn Thế giới hoạt động tích cực tại các quốc gia sau:

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “World Vision International - History”. World Vision International. 10 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2012. 
  2. ^ Group exempt letters from IRS to World Vision International and World Vision, Inc. Feb. 13, 2009, (accessed on Aug. 11, 2011)
  3. ^ see also entry "World Vision International" in California Secretary of State Business Database
  4. ^ Kristof, Nicholas D. (28 tháng 2 năm 2010). “Learning From the Sin of Sodom”. The New York Times. 
  5. ^ see also:
    • Katharina Hofer: Afrika im hektischen Missionsfieber. In: Deutscher Bundestag (Hrsg.), Das Parlament Nr. 10 vom 1. März 2004 (Online-Text).
    • Mark R. Amstutz / Andrew S. Natsios: Faith-Based NGOs and U.S. Foreign Policy, in: Elliott Abrams (Hg.): The influence of faith. Religious groups and U.S. foreign policy, Rowman & Littlefield Publishers, Inc., Lanham, Maryland 2001, S. 175-189 (Amstutz) / S. 189-200 (Natsios);
    • Steve Brouwer, Paul Gifford, Susan D. Rose: Exporting the American gospel. Global Christian fundamentalism, Routledge, New York 1996, S. 184 (online);
    • James K. Wellman, Jr.: Art. Evangelicalism, in: Thomas Riggs (Hg.): Worldmark Encyclopedia of Religious Practices, Bd. 1: Religions and Denominations, Thomson Gale, Farmington Hills, Michigan 2006, S. 183-188, hier S. 187f.
    • Evangelical Manifesto Steering Committee EIN EVANGELIKALES MANIFEST. Eine Erklärung zur evangelikalen Identität und zum öffentlichen Engagement, Washington, D.C., 7. Mai 2008, Übersetzung des Instituts für Ethik & Werte, Gießen.
    • Derek Michaud / YunJung Moon / Mark Mann: Art. Carl F. H. Henry (1913-2003), in: Boston Collaborative Encyclopedia of Western Theology, mit Bezug auf Edith L. Blumhofer / Joel A. Carpanter: Twentieth-Century Evangelicalism. A Guide to the Sources, Garland Publishing, New York - London 1990, S. xi.
    • Charles van Engen: Opportunities and Limitatons, in: Gary Corwin, Kenneth B. Mulholland (Hgg.): Working together with God to shape the new millennium, Evangelical Missions Society, Pasadena, California 2000, S. 82-122, hier S. 98.
    • Interhemispheric Ressource Center: Report World Vision, 1991, hier zitiert nach Stephen A. Kent: The French & German vs. American Debate over 'New Religions', Scientology, and Human Rights, in: Marburg Journal of Religion 6/1 (2001), Online-Text.
    • William A. Dyrness: Evangelical theology and culture, in: Timothy Larsen, Daniel J. Treier (Hgg.): The Cambridge Companion to Evangelical Theology, Cambridge University Press, Cambridge 2007, S. 145-160, hier S. 151.
    • Kai M. Funkschmidt: Art. World Vision / World Vision International, in: Hans Dieter Betz et al. (Hgg.): Die Religion in Geschichte und Gegenwart, 4. A., Bd. 8, Mohr Siebeck, Tübingen 2005, Sp. 1694f.
    • Julie Hearn: The 'Invisible' NGO. US Evangelical Missions in Kenya, in: Journal of Religion in Africa 32/1 (2002), S. 32-60, hier S. 34.53.
    • D. Michael Lindsay: Faith in the halls of power. How evangelicals joined the American elite, Oxford University Press, Oxford 2007, ISBN 0195326660, S. 259.
    • David Stoll: Is Latin America Turning Protestant? The Politics of Evangelical Growth, University of California Press, Oxford 1990, ISBN 0520076451, S. 289 (vgl. z.B. S. 155 u.ö.).
    • Hans-Jürgen Prien: Der Protestantismus in Lateinamerika im (18.-20. Jh.), in: Anuario de historia de la Iglesia 9 (2000), S. 171-195, hier S. 188.
  6. ^ http://wvi.org/wvi/wviweb.nsf/maindocs/3F50B250D66B76298825736400663F21?opendocument
  7. ^ Holtzman, Clay, World Vision donors dig deep, Puget Sound Business Journal (Seattle), February 6, 2009
  8. ^ WVI Accountability Report 2011

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]