Tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay dựa theo Điều lệ Đảng, các văn bản của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hệ thống chính trị và xã hội. Các tổ chức của đảng hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập năm 1930, Điều lệ tóm tắt của Đảng đã quy định đảng được tổ chức gồm 5 cấp: Trung ương, Xứ bộ, tỉnh bộ hay đặc biệt bộ, huyện bộ, thị bộ hay là khu bộ và chi bộ. Tại cấp trung ương có Ban Chấp hành và Ban Thường vụ. Cấp xứ có Xứ ủy và Ban Thường vụ. Sau đó Ban Chấp hành Trung ương lâm thời thành lập. Ba xứ Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ thành lập Xứ ủy. Bí thư Xứ ủy Bắc kỳ đầu tiên là Nguyễn Đức Cảnh, Bí thư Xứ ủy Trung kỳ đầu tiên là Nguyễn Phong SắcBí thư Xứ ủy Nam Kỳ đầu tiên là Ngô Gia Tự.

Cho đến năm 1934, nhiều tổ chức đảng bị Pháp khủng bố và phá vỡ, nhiều thành viên Ban Chấp hành trung ương bị bắt và giết hại, Đảng tổ chức ra Ban lãnh đạo của Đảng ở ngoài nước. Đến Đại hội I của đảng năm 1935, tổ chức của đảng gồm 6 cấp. Giúp việc cho Ban Chấp hành Trung ương có các bộ (ban): Bộ Tuyên truyền huấn luyện TW, Bộ Tài chính, Văn phòng TW (thay Ban đảng vụ), Bộ Tổ chức -Kiểm tra TW (thay Bộ Tổ chức kiêm giao thông TW).

Năm 1948 hệ thống tổ chức của đảng có sự thay đổi. Tổ chức đảng ở Bắc BộTrung Bộ có 5 cấp, ở Nam Bộ có 6 cấp, có Xứ ủy Miên và Xứ ủy Lào. Tháng 10 năm 1948 Ban Kiểm tra TW được thành lập, Trưởng ban ban đầu là ông Trần Đăng Ninh. Bộ Tổ chức TW cũng được tổ chức lại tháng 12 cùng năm. Trường Nguyễn Ái Quốc TW được thành lập năm 1949. Sau Đại hội II năm 1951, hệ thống đảng có 6 cấp. Giúp việc cho Trung ương đảng có các ban: Tuyên huấn, Tổ chức, Mặt trận, Kinh tế, tài chính và 6 tiểu ban: Miên- Lào, Công vận, Nông vận, Thanh vận, Phụ vận.

Thời kỳ 1954-1975 tổ chức đảng có nhiều thay đổi. Ở Miền Nam năm 1954 lập lại Xứ ủy Nam Bộ và 3 liên khu ủy. Năm 1961 Ban Thống nhất Trung ương được thành lập. Một bộ phận của TW đảng tại miền nam lấy tên Trung ương Cục Miền Nam, và đảng bộ miền nam là Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam. Ban cán sự đảng ngoài nước cũng được thành lập.

Thời kỳ 1976-1986 tổ chức đảng có những thay đổi phù hợp, cơ bản tổ chức 4 cấp tương ứng với hệ thống tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước. Giải thể TW cục Miền Nam và cấp khu.

Sau Đại hội VI năm 1986, cơ quan tham mưu giúp việc cho đảng có 17 ban như khóa trước cộng thêm Ban Cương lĩnh chiến lược và 15 đơn vị sự nghiệp. Đến khóa VII chỉ còn 13 ban và 5 đơn vị sự nghiệp. Ngày 14 tháng 2 năm 1992 Bộ Chính trị ra quyết định thành lập lại đảng đoàn, ban cán sự ở các cơ quan nhà nước, đoàn thể cấp trung ương. Sau đó Ban Bí thư quyết định lập đảng đoàn, ban cán sự đảng ở các cơ quan cấp tỉnh và cấp huyện, lập thí điểm ban cán sự tại một số doanh nghiệp trọng yếu của nhà nước.

Tại Đại hội VIII, thành lập Ban Thường vụ Bộ Chính trị thay thế Ban Bí thư. Đến Đại hội IX, bỏ Ban Thường vụ Bộ Chính trị, lập lại Ban Bí thư, đồng thời bỏ Ban Cố vấn. Ở cấp trung ương, có 12 ban và 4 đơn vị sự nghiệp.

Từ năm 1982 thành lập 10 đảng bộ khối cơ quan trung ương, đến khóa IX còn có 7 khối: Khối I cơ quan Trung ương, Khối Kinh tế, Khối Tư tưởng, Khối Khoa giáo, Khối Nội chính, Khối Đối ngoại, Khối Dân vận. Mỗi khối có Đảng ủy. Ở các địa phương cũng tổ chức các Đảng bộ khối. Đến sau đại hội X năm 2006 bộ máy đảng được kiện toàn, có nhiều thay đổi, đáng kể nhất là sáp nhập một số ban và tổ chức lại các đảng bộ khối cơ quan Trung ương.

Tổ chức đảng hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống tổ chức đảng các cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống tổ chức của Ðảng được lập tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước.[1]

Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Ðảng là Ðại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Ðảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp ủy). Cấp ủy mỗi cấp thành lập Ban thường vụ. Riêng Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị, thành lập Ban Bí thư. Mỗi cấp cũng thành lập Ủy ban kiểm tra.

Cấp trung ương[sửa | sửa mã nguồn]

Các đảng bộ trực thuộc trung ương gồm có:

Cấp địa phương[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức cơ sở đảng được lập tại đơn vị cơ sở hành chính, sự nghiệp, kinh tế hoặc công tác, đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh.

Tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ðảng ủy Quân sự Trung ương (gọi tắt là Quân ủy Trung ương) do Bộ Chính trị chỉ định, gồm một số Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương công tác trong quân đội và một số Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương công tác ngoài quân đội, đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương mà thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Cấp ủy đảng trong bộ đội chủ lựcbộ đội biên phòng ở cấp nào do đại hội cấp đó bầu; Ðảng ủy quân khu, Ðảng ủy quân sự tỉnh, thành, huyện, quận, thị xã.

Tổ chức đảng trong Công an Nhân dân Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ðảng ủy Công an Trung ương do Bộ Chính trị chỉ định gồm một số Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương công tác trong Công an nhân dân và một số Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương công tác ngoài Công an Nhân dân, một số đồng chí công tác thuộc Ðảng bộ Công an Trung ương, đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương mà thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Cấp ủy công an cấp nào do đại hội cấp đó bầu, trường hợp thật cần thiết do cấp ủy cấp trên chỉ định.Tổ chức đảng công an nhân dân địa phương cấp nào đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt của cấp ủy cấp đó. Ðảng ủy công an tỉnh, thành, huyện, quận, thị xã do đại hội đảng bộ cùng cấp bầu.

Đảng lãnh đạo Nhà nước, đoàn thể thông qua Ban cán sự đảng và Đảng đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

Tại các cơ quan Nhà nước, đoàn thể cấp trung ương và cấp tỉnh cấp ủy thành lập đảng đoàn và ban cán sự đảng nhiệm vụ chính lãnh đạo các thành viên trong tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Ðảng.

Trong cơ quan lãnh đạo của Nhà nước và đoàn thể chính trị - xã hội cấp Trung ương và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, do bầu cử lập ra, cấp ủy cùng cấp lập đảng đoàn. Hiện nay có Đảng đoàn Quốc hội, Đảng đoàn Hội đồng nhân dân tỉnh, thành, Đảng đoàn các đoàn thể cấp trung ương và cấp tỉnh (Mặt trận, Tổng Công đoàn, Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh). Riêng Đoàn Thanh niên không thành lập Đảng đoàn.

Trong cơ quan hành pháp, tư pháp cấp Trung ương và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cấp ủy cùng cấp lập ban cán sự đảng. Hiện nay có Ban cán sự đảng Chính phủ, Ban cán sự các bộ, ngành, Ban cán sự đảng Tòa án, Ban cán sự đảng Viện kiểm sát ở cấp trung ương và cấp tỉnh, Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân các tỉnh thành.

Ngoài ra còn thành lập Đảng đoàn tại một số hội quần chúng (tổ chức xã hội) và thành lập Ban cán sự đảng tại một số tổng công ty.

Cơ quan tham mưu giúp việc[sửa | sửa mã nguồn]

Sau sự hợp nhất một số ban của đảng theo QĐ45-QĐ/TW của Bộ Chính trị, đến nay Trung ương đảng có các ban giúp việc và đơn vị sự nghiệp sau:

Ở cấp tỉnh có Ban Tuyên giáo, Ban Tổ chức, Văn phòng, Ban Dân vận, Ủy ban Kiểm tra, ban nội chính Báo đảng tỉnh và Trường Chính trị. Cấp huyện có Ban Tuyên giáo, Ban Tổ chức, Văn phòng, Ban Dân vận, Ủy ban Kiểm tra, Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị. Riêng cấp chỉ có Ban Tuyên giáo, Ban Tổ chức, Văn phòng và Ủy ban Kiểm tra.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]