Chiến dịch tấn công Gorlice–Tarnów

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến dịch tấn công Gorlice-Tarnów
Một phần của Mặt trận phía Đông trong Chiến tranh thế giới thứ nhất
EasternFront1915b.jpg
Trận đột phá phòng tuyến Gorlice-Tarnów
và sự triệt binh của quân Nga
.
Thời gian 1 tháng 5tháng 12 năm 1915 (Chiến dịch tấn công chính yếu chấm dứt vào cuối tháng 8) [1]
Địa điểm Vùng GorliceTarnów, phía Đông Nam Kraków
Kết quả Thắng lợi quyết định của khối Liên minh Trung Tâm[2], phòng tuyến Quân đội Nga bị chọc thủng.[3] Liên quân Đức - Áo-Hung bắt đầu cuộc thọc sâu vào Ba Lan thuộc Nga và Nga.[4][5]
Tham chiến
 Đế quốc Nga Liên minh Trung tâm:
 Đế quốc Đức
 Đế quốc Áo-Hung
Chỉ huy
Flag of Russia Đại Công tước Nikolay
Flag of Russia Radko Dimitriev[6][7]
Cờ của Đế quốc Đức Erich von Falkenhayn
Cờ của Đế quốc Đức August von Mackensen[8]
Cờ của Đế chế Áo-Hung Franz Graf Conrad von Hötzendorf
Cờ của Đế chế Áo-Hung Joseph Ferdinand[9]
Lực lượng
Flag of Russia Tập đoàn quân số 3[4] (ban đầu[7][10]) Cờ của Đế quốc Đức Tập đoàn quân số 11
Cờ của Đế chế Áo-Hung Tập đoàn quân số 4 (ban đầu[10]) [12]
  • Theo John Powell: 300.000 quân [11]
  • Theo sách khác: 21 Sư đoàn Bộ binh và 1 Sư đoàn Kỵ binh [12]
    732 hỏa pháo và 70 súng cối [12]
  • Theo Hew Strachan: 334 siêu pháo, 12727 hỏa pháo các loại, 96 súng cối chiến hào [13]
Tổn thất
Nguồn 1: 259.000 quân thương vong,[14] trong số đó 90.000 quân bị bắt (có cả 30 tướng lĩnh). 1600 hỏa pháo bị lấy mất [15]
Nguồn 2: 140.000 quân bị bắt [16]
Nguồn 3: Hàng triệu quân thương vong [17]
Đức: 87.000 quân thương vong, trong số đó 12.000 quân tử trận [14]
.

Chiến dịch tấn công Gorlice–Tarnów, còn gọi là Trận Tarnów-Gorlice[7], là một chiến dịch nổi tiếng trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất.[18] Đây là một chiến dịch tấn công đại quy mô[19] của khối Liên minh Trung tâm (với 300.000 người và thế mạnh vượt trội về Pháo binh[11][12]) nhằm vào Quân đội Đế quốc Nga (với khoảng 200.000 người[11]), kết thúc với thắng lợi quyết định[2] của quân Liên minh Đức - Áo-Hung, đánh gục nỗ lực chiến tranh của người Nga.[1] Chiến dịch tấn công Gorlice–Tarnów được xem là một trong những trận đánh quyết định nhất, đồng thời là một trong những trận thắng lớn nhất trong cuộc chiến tranh.[20][21] Đại thắng tại Gorlice-Tarnów của người Đức đã giải cứu quân Áo-Hung khỏi nguy cơ bị người Nga đánh bại.[22] Chiến dịch này cũng được đánh giá là chiến thắng huy hoàng[17] nhất của lực lượng Quân đội Đức nói riêng và quân đội khối Liên minh Trung tâm nói chung trong suốt cuộc chiến,[23][24] và trở thành một trong những sự kiện nổi bật trong lịch sử quân sự Đức,[25] cũng như là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Đế quốc Nga không lâu sau đó.[26] Đại thắng tại Gorlice-Tarnów được xem là một chiến tích hiển hách của Thượng tướng Đức là August von Mackensen cùng với viên Sĩ quan Tham mưu của ông là Đại tá Hans von Seeckt, khiến cho Mackensen được thăng hàm Thống chế.[8] Với thảm họa Gorlice – Tarnów, chế độ Nga hoàng đã mất Ba Lan cùng với đất đai mà họ chiếm được trước đó.[27][28][29]

Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Đức là Erich von Falkenhayn đã lập kế hoạch đánh gục Quân đội Nga và cứu nguy Quân đội Áo-Hung. Ông cử Thượng tướng August von Mackensen làm chỉ huy Tập đoàn quân số 11 của Đức cùng với hai Tập đoàn quân Áo-Hung.[5] Trong cuộc tiến công sắp tới nhằm vào Tập đoàn quân số 3 của Nga, Tập đoàn quân số 11 của Đức và Tập đoàn quân số 4 của Áo-Hung[30] có chút lợi thế về quân số và đây là lần đầu tiên họ nằm dưới một Bộ Chỉ huy thống nhất.[5] Tham mưu trưởng Quân đội Áo-Hung là tướng Franz Graf Conrad von Hötzendorf cũng tham gia lập kế hoạch cho Chiến dịch tấn công Gorlice–Tarnów.[31] Trong khi ấy, Quân đội Nga được chuẩn bị rất sơ sài để đối phá với chiến dịch tấn công của quân Đức.[1] Những trận đánh sửa soạn trong chiến dịch tấn công này mở màn vào ngày 28 tháng 4 năm 1915, khi quân Liên minh Đức - Áo-Hung công kích phòng tuyến của quân Nga tại sông Biala.[5] Cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1915, Quân đội Đức và Quân đội Áo-Hung đã hoàn tất việc chuẩn bị cho chiến dịch.[12][13] Vào ngày 2 tháng 5 năm 1915, Mackensen đã ra lệnh pháo kích ồ ạt.[1] Lựu pháo của quân Áo-Hung góp công lớn cho đợt công pháo vô cùng khốc liệt này[5].[32] Quân Nga bị ngờ ngàng[33][34], gặp bất lợi và bị thiệt hại nặng nề,[35] trong khi các khẩu đội pháo của Nga hầu như là bất lực.[36] Sau đó, quân Bộ binh Đức và Áo-Hung tấn công dữ dội[37] và chiếm giữ tiền tuyến của địch thủ. Với sự hỗ trợ đắc lực của lực lượng Pháo binh, cuộc tiến công ban đầu của Tập đoàn quân số 11 của Đức đã giành chiến thắng vang dội, buộc quân Nga phải rút chạy. Liên quân Đức - Áo tiếp tục tấn công trong hai ngày sau[5][36][36][37][37][38] trong khi Bộ Chỉ huy Tối cao của Nga đã bị choáng ngợp và không thể nào cứu vãn cho Tập đoàn quân số 3[30]. Chiến lược của Hans von Seeckt trong Chiến dịch tấn công Gorlice–Tarnów đã được đánh giá là điển hình của một chiến lược đột phá thành công trong chiến tranh.[39] Cho đến ngày 4 tháng 5 năm 1915, một cuộc phản kích của quân Nga đã thất bại[40], mặt trận của quân Nga bị tan vỡ và Tập đoàn quân số 3 của họ đã bị tiêu diệt hoàn toàn.[1][4][41] Bước tiến mạnh mẽ của quân Đức về hướng Đông đã gây hiểm họa đến toàn bộ mặt trận Caparthia của quân Nga.[40] Thắng lợi chiến dịch to lớn của liên quân Đức - Áo-Hung[41] trong trận chiến Gorlice–Tarnów thậm chí còn gây lo ngại cho tướng Joseph Joffre của Pháp trên Mặt trận phía Tây.[42]

Với tổn thất nặng nề về nhân lực và khí giới,[41][43] quân Nga không chỉ thảm bại về cả chiến thuật lẫn chiến lược mà lại còn vấp phải khó khăn về tiếp tế.[44] Vào ngày 10 tháng 5 năm 1915, quân Áo tiến về Przemyśl. Liên quân Đức - Áo-Hung phát huy thắng lợi của cuộc tiến công[40] và đến tháng 6 năm 1915, tình hình càng trở nên thảm họa cho quân Nga.[45] Cho tới cuối tháng đó, quân Đức và quân Áo đã đánh đuổi hoàn toàn quân Nga ra khỏi Galicia.[46][47][48] Tiếp theo đó, liên quân Đức - Áo-Hung đã chuyển sang hướng Bắc trong Chiến dịch tấn công Bug, trong khi quân đội Nga phải tiến hành cuộc "Đại rút lui".[10][33][40][48][49] Chiến dịch Bug cùng với một đòn tấn công của Tập đoàn quân số 12 của Đức vào đầu tháng 7 đã góp phần buộc quân Nga phải từ bỏ Warszawa vào tháng 8.[1][50] Cho đến cuối tháng 9 năm 1915 thì họ đã quét sạch quân Nga ra khỏi Ba Lan, Litva, miền Tây Ukraina, đồng thời tiến sát đến Riga[51][52] Chiến thắng vẻ vang của phe Liên minh Trung Tâm trong chiến dịch này mang tầm quan trọng cỡ trận Tannenberg hồi năm 1914,[53] và tạo điều kiện quân Bulgaria nhảy vào tham chiến, đồng thời cũng góp phần ngăn ngừa România tham gia khối Hiệp Ước.[54][55][56] Thất bại thê lương của quân Nga trong Chiến dịch tấn công Gorlice–Tarnów góp phần khiến năm 1915 trở nên một năm thảm họa của phe Hiệp Ước.[57] Thắng lợi toàn diện của họ trong Chiến dịch tấn công Gorlice–Tarnów cũng thể hiện sức mạnh của Quân đội Đức trong chiến dịch,[24] và mang lại thế thượng phong cho họ trong suốt giai đoạn đó của cuộc chiến tranh.[58] Không những thế, sau thắng lợi huy hoàng này, nước Áo đã có thể tiếp tục nỗ lực chiến tranh của mình và Bộ Tổng Chỉ huy Đế quốc Áo-Hung đã trở nên lệ thuộc vào guồng máy chiến tranh của Đế quốc Đức dưới quyền Tướng Erich von Falkenhayn[22].[24] Trong khi đó, lực lượng Pháo binh Đức sau chiến thắng vang dội trong Chiến dịch tấn công Gorlice–Tarnów đã có được sự tín nhiệm của Falkenhayn.[59] Ngoài ra, sau đại thắng của liên quân Đức - Áo-Hung trong Chiến dịch tấn công Gorlice–Tarnów, người Nga đã nghi kỵ và triệt để bài xích dân Do Thái.[60]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d Spencer Tucker, Priscilla Mary Roberts, World War I: A Student Encyclopedia, các trang 796-797.
  2. ^ a ă Robert Michael Citino, The German Way of War: From the Thirty Years' War to the Third Reich, trang 242
  3. ^ J. M. Winter, National World War I Museum at Liberty Memorial, The legacy of the Great War: ninety years on, trang 69
  4. ^ a ă â G.J. Meyer, A World Undone: The Story of the Great War, 1914-1918, các trang 320-328.
  5. ^ a ă â b c d Stanley Sandler, Ground warfare: an international encyclopedia, Tập 1, trang 330. Louis Decimus Rubin, Jerry Leath Mills, A writer's companion, trang 172.
  6. ^ Spencer Tucker, World War I: A - D., Tập 1, trang 356
  7. ^ a ă â Lawrence Sondhaus, World War One: The Global Revolution, các trang 143-144.
  8. ^ a ă Ronald Pawly, The Kaiser's warlords: German commanders of World War If, trang 52
  9. ^ Milan N. Vego, Joint Operational Warfare Theory and Practice and V. 2, Historical Companion, trang 44
  10. ^ a ă â The Great Retreat, Eastern Front 1915
  11. ^ a ă â b John Powell, Magill's Guide to Military History: Cor-Jan,t rang 608
  12. ^ a ă â b c d David F. Burg, L. Edward Purcell, Almanac of World War I, trang 60
  13. ^ a ă â Hew Strachan, The First World War, Tập 3, trang 142
  14. ^ a ă R. L. DiNardo, Breakthrough: the Gorlice-Tarnów campaign, 1915, trang 99
  15. ^ R. L. DiNardo, Breakthrough: the Gorlice-Tarnów campaign, 1915, trang 130
  16. ^ Tony Jaques, Dictionary of Battles and Sieges: F-O, trang 404
  17. ^ a ă Benjamin Frankel, Dennis E. Showalter, History in Dispute: World War I: second series, Tập 9, trang 61
  18. ^ Encyclopaedia Britannica, inc, The New Encyclopaedia Britannica: Micropædia, trang 643
  19. ^ Sir James Edward Edmonds, Graeme Chamley Wynne, Archibald Frank Becke, Military operations, France and Belgium, 1915..., trang 3
  20. ^ Albert J. Fyfe, Understanding the First World War: illusions and realities, trang 94
  21. ^ David F. Burg, L. Edward Purcell, Almanac of World War I, trang 269
  22. ^ a ă Michael S. Neiberg, Warfare & society in Europe: 1898 to the present, trang 41
  23. ^ Bruce I. Gudmundsson, On artillery, trang 57
  24. ^ a ă â Graydon Allen Tunstall, Blood on the snow: the Carpathian winter war of 1915, trang 27
  25. ^ James S. Corum, The roots of Blitzkrieg: Hans von Seeckt and the German military reform, trang 27
  26. ^ Colin S. Gray, Seapower and strategy
  27. ^ Timothy C. Dowling, The Brusilov Offensive, trang 33
  28. ^ Walther Kirchner, An outline-history of Russia, trang 206
  29. ^ William II (German Emperor), The Kaiser's memoirs: Wilhelm II, trang 136
  30. ^ a ă William R. Griffiths, The Great War, trang 55
  31. ^ Stewart Ross, Leaders of World War I, trang 46
  32. ^ Spencer Tucker, Laura Matysek Wood, The European powers in the First World War: an encyclopedia, trang 325
  33. ^ a ă Richard C. Hall, Consumed by War: European Conflict in the 20th Century, trang 40
  34. ^ Milan N. Vego, Joint Operational Warfare Theory and Practice and V. 2, Historical Companion, trang 108
  35. ^ Spencer Tucker, Priscilla Mary Roberts, World War I: A Student Encyclopedia, trang 578
  36. ^ a ă â R. L. DiNardo, Breakthrough: the Gorlice-Tarnów campaign, 1915, trang 55
  37. ^ a ă â Robert T. Foley, German strategy and the path to Verdun: Erich von Falkenhayn and the development of attrition, 1870-1916, các trang 137-138.
  38. ^ Lawrence Sondhaus, Franz Conrad Von Hötzendorf: Architect of the Apocalypse, trang 174
  39. ^ Edward Mead Earle, Gordon Alexander Craig, Felix Gilbert, Makers of modern strategy: military thought from Machiavelli to Hitler, trang 201
  40. ^ a ă â b Battle of Gorlice-Tarnow, 2-10 May 1915
  41. ^ a ă â Milan N. Vego, Joint Operational Warfare Theory and Practice and V. 2, Historical Companion, trang 57
  42. ^ Robert A Doughty, Pyrrhic Victory: French Strategy and Operations in the Great War, trang 161
  43. ^ Nik Cornish, The Russian Army 1914-18, trang 7
  44. ^ World War I: A - D., Tập 1, trang 496
  45. ^ Zachary C. Shirkey, Is This a Private Fight Or Can Anybody Join?: The Spread of Interstate War, trang 122
  46. ^ Geoffrey Parker (biên tập), The Cambridge History of Warfare, trang 288
  47. ^ Spencer C. Tucker, Priscilla Mary Roberts, World War I: A Student Encyclopedia, trang 738
  48. ^ a ă Rodney P. Carlisle, Joe H. Kirchberger, World War I, trang 118
  49. ^ Spencer C. Tucker, Priscilla Mary Roberts, The Encyclopedia of World War I [5 Volumes]: A Political, Social, and Military History, các trang 238-239.
  50. ^ Spencer Tucker, Priscilla Mary Roberts, World War I: A Student Encyclopedia, trang 387
  51. ^ Stanley Sandler, Ground Warfare: An International Encyclopedia, Tập 1, trang 960
  52. ^ Vejas Gabriel Liulevicius, The German Myth of the East:1800 to the Present: 1800 to the Present, các trang 134-135.
  53. ^ Mario Morselli, Caporetto, 1917: victory or defeat?, trang VII
  54. ^ Richard C. Hall, Balkan Breakthrough: The Battle of Dobro Pole 1918, trang 38
  55. ^ Matthias Strohn, The German Army and the Defence of the Reich: Military Doctrine and the Conduct of the Defensive Battle 1918-1939, trang 90
  56. ^ Zachary C. Shirkey, Is This a Private Fight Or Can Anybody Join?: The Spread of Interstate War, trang 101
  57. ^ Michael J. Lyons, World War I: a short history, các trang 144-150.
  58. ^ Norman Stone, Europe transformed, 1878-1919, trang 267
  59. ^ Jonathan B. A. Bailey, Field artillery and firepower, trang 246
  60. ^ William Kelleher Storey, The First World War: A Concise Global History, các trang 56-57.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]