Tội ác của Quân đội Hoa Kỳ và đồng minh trong chiến tranh Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trong Chiến tranh Việt Nam, quân đội Hoa Kỳ và các lực lượng đồng minh đã gây ra hàng loạt tội ác như giết người, đánh đập tù nhân, ném bom có chủ ý vào thường dân, rải chất độc da cam v.v... Nổi bật như các hành động thảm sát xảy ra trong liên tiếp nhiều năm. Tất cả đều có đầy đủ bằng chứng để chứng minh và buộc tội những "tác giả" của những hành động vô nhân tính trên cái cớ "nguyên nhân do chiến tranh" này.

Nạn nhân của vụ thảm sát Mỹ Lai năm 1968

Các lực lượng đóng quân[sửa | sửa mã nguồn]

Các lực lượng đồng minh của Việt Nam Cộng hòa tham gia đóng quân tại Nam Việt Nam bao gồm Hoa Kỳ, Australia, New Zeland, Hàn Quốc (Nam Triều), PhilippinesThái Lan. Đài Loan cũng từng gửi 31 chuyên gia đến Nam Việt Nam. Canada cũng đóng quân ở Việt Nam nhưng lại trung lập và nhằm mục đích gìn giữ hòa bình[cần dẫn nguồn].

Sự kiện Phật Đản năm 1963[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chính:Biến cố Phật giáo, 1963

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1950 Quốc trưởng Bảo Đại ban hành đạo dụ số 10 điều chỉnh các tổ chức hội đoàn. Điều 1 định nghĩa Hội: "Hội là Hiệp ước của hai hay nhiều người thỏa thuận góp kiến thức hay hành lực một cách liên tiếp để theo đuổi mục đích không phải là phân chia lợi tức, như là mục đích thuộc về tế tự, tôn giáo, chính trị, từ thiện, khoa học, văn học, mỹ nghệ, tiêu khiển, thanh niên, thể thao và đồng nghiệp ái hữu.". Như vậy tôn giáo được xem là một loại hiệp hội. Đạo dụ này đặt ra những hạn chế đối với các hiệp hội như sau:

  • Tổng trưởng Bộ Nội vụ, nếu hội hoạt động trong toàn quốc hoặc ngoài địa hạt một phần Việt Nam; hay Thủ Hiến, nếu hội chỉ hoạt động trong địa hạt một phần Việt Nam, có quyền bác khước không cho phép lập hội mà không cần phải nói lý do. Phép cho rồi có thể bãi đi vì trái điều lệ hay vì lẽ trị an. (Điều 7)
  • Không hội nào có quyền nhận tiền trợ cấp của Chính phủ, của các quỹ địa phương, quỹ hàng tỉnh và quỹ hàng xã, trừ những hội khoa học, mỹ nghệ, tiêu khiển, từ thiện, thanh niên và thể thao (Điều 14)
  • Các hội chỉ có quyền chiếm hữu, tạo mãi, quản trị, đứng làm sở hữu chủ những bất động sản thật cần thiết để đạt mục đích của hội (Điều 14)
  • Những người có liên quan và Công Tố viên có quyền xin toàn án hủy bỏ những việc tạo mãi bất động sản trái với điều này. Bất động sản ấy sẽ đem bán đấu giá và được bao nhiêu tiền sẽ sung vào quỹ hội (Điều 14)

Đặc biệt trong đạo dụ này có điều khoản 44 có quy định "Chế độ đặc biệt dành cho các Hội Truyền giáo Thiên Chúa và Gia Tô, các Hoa Kiều Lý Sự Hội, sẽ được ấn định sau.", đặt các hội truyền giáo Thiên Chúa và Gia Tô, các Hoa Kiều Lý Sự Hội ra ngoài sự điều chỉnh của đạo dụ này.

Năm 1954, theo Hiệp định Genève, 1954 thì Việt Nam bị chia cắt làm 2 miền và lấy vĩ tuyến 17 là ranh giới chia cắt và đây trở thành 1 khu vực phi quân sự (DMZ - Dimilitaried Zone). Ở miền Bắc, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo được nhân dân và các quốc gia Xã hội Chủ nghĩa ủng hộ (đặc biệt là Liên XôTrung Quốc). Còn ở miền Nam, chính quyền Việt Nam Cộng hòa được thành lập do tổng thống Ngô Đình Diệm đứng đầu và nhận được sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ và các nước Tư bản Chủ nghĩa. Lí do Ngô Đình Diệm được Mỹ mà cụ thể là CIA ưu ái đưa lên làm tổng thống là do: Thứ nhất, Diệm vô cùng sùng ái Thiên Chúa giáo. Thứ hai, Diệm là 1 kẻ chống cộng điên cuồng. Đây cũng chính là lí do gây ra biến cố tôn giáo năm 1963 - chính là sự thiên vị cho Thiên chúa giáo của Diệm.

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ Ngô Đình Diệm quy định cờ tôn giáo không được treo ngoài khuôn viên cơ sở tôn giáo (nhà thờ, chùa, thánh thất...) nhưng tất cả các tôn giáo đều không tuân thủ nghiêm túc quy định này. Trước khi xảy ra sự kiện Phật đản, chính phủ cũng không hề lưu tâm tới vấn đề các tôn giáo vi phạm quy định treo cờ.[1]. Ngày 6/5/1963, Phủ Tổng thống gởi Công điện số 5159 cho các tỉnh yêu cầu các địa phương bắt buộc các tôn giáo thực hiện nghiêm túc quy định của chính phủ về việc treo cờ tôn giáo trong khi ngày 6/5 đã là 13/4 âm lịch, tức chỉ còn 2 ngày nữa là đến lễ Phật Đản.

8-5-1963, 2 vạn dân Huế - trong đó có gần một vạn tăng ni và tín đồ Phật giáo - đấu tranh chống chính quyền Diệm khủng bố tôn giáo, cấm tổ chức lễ Phật đản và treo cờ Phật trong các chùa. Cuộc đấu tranh được sự đồng tình rộng rãi của các sĩ quan và nhân viên Thừa Thiên-Huế, kể cả một số sĩ quan và nhân viên cao cấp. Nhà cầm quyền đã huy động cảnh sát, công an có xe bọc sắt, đại bác 37 ly đến đàn áp, làm 13 người chết, nhiều người bị thương, gần 100 người bị bắt. Phong trào đấu tranh của đồng bào Phật giáo càng phát triển mạnh mẽ.

Buổi tối ngày 8/5/1963 đám đông Phật tử tụ tập trước đài phát thanh Huế chờ nghe bài diễn văn của Thượng tọa Thích Trí Quang đã được thu âm. Đài phát thanh từ chối phát bài diễn văn. Lúc 21 giờ số người tụ tập tại đài phát thanh Huế lên đến khoảng 6000 người[2]. Sau đó, Thượng tọa Trí Quang, Mật Nguyện, Mật Hiển và Đức Tâm đến đài phát thanh để hỏi lý do không phát thanh bài diễn văn. Tỉnh trưởng Thừa Thiên đến đài phát thanh để đối thoại với các chức sắc Phật giáo. Binh lính và xe bọc thép cũng được điều đến Đài phát thanh.

Trong khi lãnh đạo Phật giáo và tỉnh trưởng đang thảo luận, chính quyền dùng vòi rồng giải tán đám đông. Trong khuôn viên đài phát thanh xảy ra hai vụ nổ làm tình hình xấu đi bất ngờ. Các xe bọc thép và binh lính bắt đầu nổ súng.

Trật tự vãn hồi lúc 24h. Có 8 người chết (trong đó có 7 trẻ vị thành niên từ 12 đến 17 tuổi) cùng nhiều người khác bị thương nằm ở ngoài phòng Chương trình và trong khuôn viên đài phát thanh. Xe cứu thương đến chở người chết và bị thương đi bệnh viện. Chính quyền đến trước đài phát thanh loan báo: "Chính quyền được tin đêm nay Việt Cộng sẽ xâm nhập phá hoại một vài cơ quan công quyền trong thành phố, chính quyền đã ban hành lệnh giới nghiêm, vậy yêu cầu đồng bào giải tán"

Bác sĩ người Ðức Erich Wulff, nhân chứng của vụ nổ súng ở Huế. Ông kể: "Chúng tôi nghe khoảng 10 phát súng nổ kêu vang và khô khan... Tôi có thể nhìn thấy rõ ràng đầu ngọn lửa phát ra từ họng súng của hai chiếc xe án ngự nơi bồn tròn nằm phía đầu cầu Tràng Tiền. Sau tiếng súng là một chập im lặng... Từng nhóm từ mười đến hai mươi người vung tay lên bày tỏ sự bất bình của mình. Ðúng vào lúc đó một loạt súng trường bắt đầu nhả đạn. Một chiếc thiết giáp bắt đầu tìm cách phân tán những đám nhỏ này. Thiếu tá Sỹ lệnh cho chúng tôi phải rời đi, ông ta là một người Kitô quá khích và là người thân tín của Tổng giám mục Thục". Ông cho biết những nạn nhân có những vết thương nghiêm trọng do đạn bắn chứ không phải như Đặng Sỹ nói: "Dưới ánh sáng yếu ớt của đèn bạch lạp, chúng tôi thấy có bảy thân người đầy máu me được đặt trên ba bàn khám nghiệm bằng đá. Từ chân đến ngực thân thể họ còn nguyên vẹn. Nhưng năm cái xác – tất cả là trẻ em - thì không còn đầu. Nơi một người phụ nữ thì có những vết đạn bắn vào cánh tay, vai và cổ. Các xe thiết giáp đã bắn nát đầu các em thiếu nhi, có lẽ vào lúc các em leo qua hàng rào của Ðài phát thanh và nhô đầu ra trước"[3]

Chiều ngày 9/5/1963, văn phòng Tổng Trị Sự Giáo Hội Tăng Già Việt Nam nhận được báo cáo về việc xảy ra tại đài phát thanh Huế đêm 8/5/1963, do Phật giáo Trung phần chuyển tới. Ngày 10/5/1963, các vị lãnh đạo Phật giáo họp tại chùa Từ Đàm, hoạch định đường lối và phương pháp tranh đấu bảo vệ Phật giáo và đòi hỏi công bằng xã hội. Một bản Tuyên Ngôn được soạn thảo, nêu ra năm nguyện vọng của Phật giáo. Ngày 17/5/1963, Phật giáo cho trưng bày hình ảnh biến cố đài phát thanh Huế trong đêm Phật Đản tại chùa Ấn Quang (Sài Gòn). Ngày 20/5/1963, Phật giáo gửi chính quyền một tài liệu 45 trang trong đó liệt kê những vụ đàn áp, bắt bớ và thủ tiêu.

Ngày 21/5/1963, khắp nơi trên toàn quốc tổ chức cầu siêu cho các nạn nhân tại Huế. Tại Sài Gòn, khoảng 1000 tăng ni tập trung tại chùa Ấn Quang để hành lễ sau đó diễu hành rước linh vị các nạn nhân về chùa Xá Lợi. Cùng lúc đó, một đoàn gồm 350 tăng ni diễu hành từ chùa Xá Lợi về trụ sở Quốc Hội. Những cuộc diễu hành này diễn ra tốt đẹp.

Nhưng đến cuối tháng 5, các tăng ni phật tử và cả nhiều học sinh, sinh viên và viên chức bắt đầu biểu tình và tuyệt thực. Trước giờ tuyệt thực, Đoàn Sinh Viên Phật Tử Huế công bố một lá thư kêu gọi sinh viên học sinh toàn quốc ủng hộ cuộc đấu tranh của Phật giáo. Tại Sài Gòn, Đoàn Sinh Viên Phật Tử lập tức hưởng ứng lời kêu gọi. Cảnh sát đã tấn công cuộc biểu tình và tuyệt thực bằng lựu đạn hơi cay, lự đạn khói và chó nghiệp vụ. Nhiều người bị đánh đập và bắt bớ.

Ngày 3 tháng 6 năm 1963, Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã phun hóa chất và khí gas gây độc vào đầu những nhà sư đang cầu nguyện ở Huế làm 67 người chết và bị thương, chủ yếu là tăng ni. Ngày 11/6/1963, tại ngã tư đường Lê Văn Duyệt - Phan Đình Phùng, đúng 10 giờ sáng, hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu trong tư thế kiết già trước sự chứng kiến của hàng trăm quần chúng và Phật tử.[4]

Cuộc biểu tình tiếp tục kéo dài sang tháng 7, Chính quyền dùng xe bọc thép, xe tăng tấn công đám người biểu tình, nổ súng bừa bãi thậm chí cán chết nhiều người. Ngày 11/7/1963. Ủy Ban Liên Bộ thông báo cho Ủy Ban Liên Phái biết theo điều tra của Bộ Nội Vụ thì vụ thảm sát ở Huế ngày 8/5/1963 do cộng sản gây ra. Phía Phật giáo buộc tội chính quyền bưng bít sự thật và cáo buộc cuộc thảm sát là do chính phủ Cộng hòa gây ra chứ không liên quan đến lực lượng Cộng sản ở Miền Nam Việt Nam. Sang tháng 8, các Tăng ni, Phật tử tự thiêu và tự chặt tay. Hàng nghìn người đã đến bảo vệ thi hài của các tăng ni tự thiêu như thiền sư Thanh Tuệ 18 tuổi ở chùa Phước Duyên, thiền sư Tiêu Diêu 71 tuổi tự thiêu tại chùa Từ Đàm còn Ni sư Diệu Quang 27 tuổi tự thiêu tại quận Ninh Hòa, Khánh Hòa thì lại bị bọn cảnh sát mang thi hài đi. Hàng nghìn có khi đến hàng chục nghìn người đã tham gia cầu siêu cho những người đã khuất, những tăng ni phật tử tự thiêu trong cuộc đàn áp và thảm sát của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Ngày 21/8/1963, tổng thống Ngô Đình Diệm họp nội các để thông báo đã thiết quân luật trên toàn quốc đồng thời đánh chiếm các chùa và bắt giữ "bọn tăng ni làm loạn". Bộ trưởng Ngoại giao Giáo sư Vũ Văn Mẫu phát biểu phản đối hành động của chính quyền rồi rời cuộc họp. Sau đó ông cạo đầu và từ chức bộ trưởng bộ Ngoại giao. Vũ Văn Mẫu cùng một số giáo sư đại học thành lập Phong trào Trí Thức Chống Độc Tài.[5]. Cuộc biểu tình đến đầu tháng 9 mới gần chấm dứt hoàn toàn.

Hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Đến lúc này thì tất cả các lực lượng bất mãn với chính phủ Ngô Đình Diệm đã đoàn kết thành một khối coi chính phủ Ngô Đình Diệm là độc tài, gia đình trị, phân biệt tôn giáo, không thể chấp nhận được cho miền Nam Việt Nam. Cuộc đấu tranh chính trị lan rộng sang cả khối học sinh, sinh viên, tiểu thương, trí thức và các lực lượng khác. Chính phủ Ngô Đình Diệm đã mất hết đồng minh trong nước và quốc tế. Dư luận thế giới và cả Hoa Kỳ đều phản đối chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã đàn áp Phật giáo.

Việc chính phủ Ngô Đình Diệm bất lực trong đấu tranh chống Cộng sản, lại mất uy tín trong nước và trên thế giới làm méo mó hình ảnh thế giới tự do trong chiến lược toàn cầu chống cộng sản của Hoa Kỳ tất yếu sẽ làm Hoa Kỳ phải xem xét lại quan hệ với chính phủ này. Ngày 20 tháng 8 năm 1963 chính phủ dùng vũ lực tấn công Phật giáo thì ngay hôm sau Hoa Kỳ cử đại sứ mới là Cabot Lodge đến Sài Gòn với chính sách hoàn toàn mới đối với chính phủ Ngô Đình Diệm. Các lãnh đạo Quân lực Việt Nam Cộng hoà liên hệ với các lực lượng chính trị bất mãn và các giới chính trị và tình báo Hoa Kỳ để tham khảo một giải pháp loại bỏ anh em Diệm – Nhu – Cẩn.

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, Quân lực Việt Nam Cộng hoà đã làm đảo chính thành công lật đổ chính phủ Tổng thống Ngô Đình Diệm, giết chết Tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu, sau đó mở phiên toà xử tử cố vấn Trung phần Ngô Đình Cẩn. Cuộc đảo chính này chấm dứt nền Đệ nhất Cộng hoà của miền Nam Việt Nam.

Trong một diễn biến khác, nhà báo Arthur Dommen và Ellen Hammer đã từng suy đoán CIA có thể đã hậu thuẫn Diệm trong vụ thảm sát một cách bí mật vì ở một số nơi tại Huế, nhiều khối thuốc nổ dạng dẻo đã phát nổ làm bị chết và bị thương nhiều người, nó được xác định chính là thuốc nổ C4. Vào lúc đó thì chỉ có Mỹ sở hữu loại thuốc nổ này chứ Quân Việt Nam Cộng hòa lẫn Quân Giải phóng chưa hề có loại thuốc nổ này.[6]

Theo sự tiết lộ của Giáo sư Trần Hữu Thế, cựu bộ trưởng Giáo dục đối với GS Vũ Văn Mẫu, chính Ngô Đình Thục đã ra lệnh cho Thiếu tá Đặng Sỹ phải "dẹp" đám đông Phật tử tại đài Phát thanh Huế tối 8/5/1963. Trích:

"Chính tối hôm Phật đản cũng đã có một bữa tiệc tại nhà Ngô Đình Cẩn với sự hiện diện của Tổng giám mục Thục, một số bộ trưởng và nhiều nhân vật cao cấp trong chính phủ. Đang giữa bữa ăn thì Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng và Phó Tỉnh trưởng Đặng Sĩ hốt hoảng xin vào trình bày tình hình rất căng thẳng vì mấy ngàn Phật tử đang tụ họp trước Đài Phát thanh. Vì phụ trách các vấn đề an ninh, Thiếu tá Đặng Sĩ xin chỉ thị để đối phó.
Ngô Đình Cẩn ngồi yên không nói gì, hay không muốn nói có lẽ vì đã đoán trước được ý kiến của ông anh Ngô Đình Thục thế nào cũng chống đối thái độ hòa hoãn của ông ta trong vụ này. Sau báo cáo của Đặng Sĩ, Tổng giám mục Ngô Đình Thục đang ăn bỗng ngưng lại, giơ tay ra hiệu cho Thiếu tá Đặng Sĩ: "Dẹp…!".
Tỉnh trưởng và Phó Tỉnh trưởng lãnh chỉ thị lui ra. Sau đó thì các sự việc xảy ra như bác sĩ Erich Wulff đã tường thuật rõ ràng các điều mắt thấy tai nghe tại chỗ[7]

Thảm sát Mỹ Lai 1968[sửa | sửa mã nguồn]

(Lưu ý: một số phần được trích trong bài Thảm sát Mỹ Lai)

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Thảm sát Mỹ Lai hay gọi là thảm sát Sơn Mỹ là một trong những tội ác của quân đội Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Vụ thảm sát xảy ra vào ngày 16 tháng 3 năm 1968 tại thôn Mỹ Lai, làng Sơn Mỹ, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Đơn vị gây nên vụ thảm sát là đại đội C (charlie), tiểu đoàn 1, trung đoàn 4, lữ đoàn bộ binh số 11, sư đoàn Americal (Sư đoàn bộ binh số 23), thuộc Lục quân Hoa Kỳ. Vụ việc chỉ xảy ra chưa đầy 1 tháng sau sự kiện Tết Mậu thân do tình báo Mỹ cung cấp thông tin là có 1 tiểu đoàn của quân giải phóng rút về đây.

Sáng 16 tháng 3, pháo binh và trực thăng bắt đầu đợt bắn phá ngắn dọn đường cho quân Mỹ tiến vào Sơn Mỹ. Trong làng không có bất cứ 1 lính Việt Cộng nào trong làng mà chỉ có mỗi phụ nữ và trẻ em. William Calley - chỉ huy đơn vị bắt đầu cho binh lính mình nã súng vào vị trí mà ông gọi là "địa điểm tình nghi có đối phương". Mức độ dã man ngày càng tăng lên, người hay gia súc đều bị giết. Lính Mỹ dùng lựu đạn, lưỡi lê và súng trường giết người 1 cách rất "thoải mái", cả những người đầu hàng cũng bị giết. Từ trẻ đến già, từ bé đến lớn, không kể người hay súc vật, tất cả đều bị giết.

Binh lính bắt đầu nổi điên, họ xả súng vào đàn ông không mang vũ khí, đàn bà, trẻ em và cả trẻ sơ sinh. Những gia đình tụm lại ẩn nấp trong các căn lều hoặc hầm tạm bị giết không thương tiếc. Những người giơ cao hai tay đầu hàng cũng bị giết... Những nơi khác trong làng, nỗi bạo tàn (của lính Mỹ) mỗi lúc chồng chất. Phụ nữ bị cưỡng bức hàng loạt; những người quỳ lạy xin tha bị đánh đập và tra tấn bằng tay, bằng báng súng, bị đâm bằng lưỡi lê. Một số nạn nhân bị cắt xẻo với dấu "C Company" ("Đại đội C") trên ngực. Đến cuối buổi sáng thì tin tức của vụ thảm sát đến tai thượng cấp và lệnh ngừng bắn được đưa ra. Nhưng Mỹ Lai đã tan hoang, xác người la liệt khắp nơi.[8]

Những người phụ nữ Việt Nam với các em nhỏ tại Mỹ Lai ngày 16 tháng 3 năm 1968. Họ bị lính Mỹ giết gần như ngay sau khi bức ảnh được chụp

Duy nhất chỉ có chuẩn úy Hugh Thompson - phi công lái trực thăng OH-23 cũng tổ bay của mình là những người ngăn cản đồng đội thực hiện việc giết chóc và cứu họ. Chính mắt Thompson đã nhìn thấy đại úy Medina đã bắn thẳng vào đầu 1 phụ nữ, khi bị buộc tội thì ông ta biện hộ: "người phụ nữ đang cầm 1 quả lựu đạn !".

"Có thể nói đa phần lính trong đơn vị tôi không coi dân Việt Nam là người". Chuẩn úy Thompson nói.[9]

Hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

"Quang cảnh phía dưới trông như một bể máu! Cái quái gì đang xảy ra vậy?" Một phi công Mỹ nói.[10]

Tổng cộng đã có 347 người bị giết theo nguồn tin của Mỹ và 504 người bị giết theo nguồn tin của Việt Nam. Nạn nhân nhỏ nhất là 1 tuổi và lớn nhất là 82 tuổi. Chỉ có 16 người được đội bay của Thompson giải cứu trong đó có 1 đứa trẻ. Ngay sau đó, Hugh đã báo cáo tình trạng khẩn cấp đối với thiếu tá Watke, lệnh ngừng bắn được đưa ra. Làng Mỹ Lai đã tan hoang, xác người nằm la liệt khắp nơi. Lính Mỹ duy nhất bị thương trong vụ thảm sát là binh nhất Carter, người tự bắn vào chân mình để không tham gia vụ giết chóc.

Binh nhất Carter, người duy nhất "bị thương" trong vụ thảm sát vì tự bắn vào chân

Sự che giấu trong điều tra[sửa | sửa mã nguồn]

"Khi rời làng, tôi chẳng còn thấy một ai sống sót". Binh nhất Robert Maplesn nói [11]

Những báo cáo đầu tiên của các đơn vị lính Mỹ đã tuyên bố rằng "128 Việt Cộng và 22 dân thường !" bị giết tại làng sau "cuộc đọ súng ác liệt". Theo báo Stars and Stripes của Lục quân Hoa Kỳ vào thời điểm đó đưa tin thì "Bộ binh Hoa Kỳ đã giết 128 Cộng sản sau một trận đánh đẫm máu kéo dài 1 ngày"!

Cuộc điều tra đầu tiên về chiến dịch Mỹ Lai được thiếu tướng George H. Young giao cho đại tá Henderson, sĩ quan chỉ huy của Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 11 phụ trách. Henderson đã thẩm vấn một số binh lính tham gia vụ thảm sát, sau đó đưa ra một báo cáo vào cuối tháng 4 ghi nhận rằng khoảng 22 dân thường đã bị giết hại một cách không cố ý trong chiến dịch. Quân đội Mỹ lúc này vẫn coi sự kiện ở Mỹ Lai là một chiến thắng quân sự khi lính Mỹ đã tiêu diệt được 128 lính đối phương.

Sáu tháng sau, Tom Glen, một binh sĩ 21 tuổi của Lữ đoàn 11, đã viết một lá thư cho tướng Creighton Abrams, tổng chỉ huy mới của các lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam. Trong lá thư Glen buộc tội Sư đoàn Americal, tức Sư đoàn bộ binh số 23 (và toàn bộ các đơn vị lính Mỹ khác) liên tục sử dụng bạo lực chống lại dân thường Việt Nam, lá thư không trực tiếp nhắc tới vụ Mỹ Lai vì Glen không biết nhiều về vụ tàn sát. Một trong các sĩ quan được giao phân tích lá thư là Colin Powell. Trong báo cáo phân tích, Powell viết: "Điều phản bác lại những gì miêu tả trong bức thư là sự thật rằng quan hệ giữa binh sĩ Hoa Kỳ và người dân Việt Nam là tuyệt vời", một vài nhà quan sát cho rằng cách thức Powell xử lý lá thư đồng nghĩa với việc rửa sạch sự tàn bạo của quân đội Hoa Kỳ ở Mỹ Lai[12]. Tháng 5 năm 2004, Powell, khi này đã là Ngoại trưởng Hoa Kỳ, đã trả lời trong chương trình của Larry King trên đài CNN: "Ý tôi là, tôi đã ở trong đơn vị chịu trách nhiệm về vấn đề Mỹ Lai. Tôi ở đó sau khi sự kiện xảy ra. Mà trong chiến tranh thì những vụ việc kinh khủng như vậy vẫn xảy ra, và chúng ta vẫn phải ân hận về chúng"[13].

Vụ thảm sát Mỹ Lai có lẽ sẽ tiếp tục bị che giấu nếu không có bức thư thứ hai của Ron Ridenhour. Ridenhour, một thành viên cũ của Đại đội Charlie và biết về vụ thảm sát qua lời kể của đồng đội, vào tháng 3 năm 1969 đã gửi một lá thư trình bày chi tiết sự kiện Mỹ Lai cho tổng thống Richard M. Nixon, Lầu Năm Góc, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Bộ Tham mưu Liên quân và một số thành viên của Quốc hội Hoa Kỳ[14]. Phần lớn những người được nhận thư đã bỏ qua tầm quan trọng của nó.

Độc lập với chính phủ, nhà báo Seymour Hersh đã tiến hành cuộc điều tra về vụ Mỹ Lai thông qua các cuộc nói chuyện với Calley. Ngày 12 tháng 11 năm 1969 vụ việc Mỹ Lai vỡ lở. Ngày 20 tháng 11, các tạp chí lớn như Time, LifeNewsweek đồng loạt đăng lên trang bìa vụ thảm sát Mỹ Lai, đài truyền hình CBS cũng phát sóng cuộc phỏng vấn với Paul Meadlo. Tờ Plain DealerCleveland còn mạnh dạn hơn khi đăng các bức ảnh mô tả những dân thường bị giết trong vụ thảm sát. Tháng 11 năm 1969, tướng William R. Peers được chỉ định điều tra về sự kiện Mỹ Lai và các hành động che giấu của Lục quân Hoa Kỳ. Bản báo cáo cuối cùng, bản báo cáo Peers (Peers Report[15]), được công bố tháng 3 năm 1970, đã chỉ trích mạnh mẽ việc các sĩ quan cấp cao che giấu vụ việc cũng như những hành động của các sĩ quan thuộc Đại đội Charlie tại làng Mỹ Lai 4[16]. Theo đó:

"Các binh lính (thuộc tiểu đoàn 1) đã giết ít nhất từ 175 đến 200 đàn ông, phụ nữ và trẻ em Việt Nam. Dù trong số bị giết có người ủng hộ hoặc thân với Việt Cộng (họ không mang vũ khí, gồm đàn ông, phụ nữ và trẻ em) nhưng nhiều bằng chứng đã xác nhận rõ chỉ có 3-4 người đích thực là Việt Cộng (VC). Một lính của đại đội được ghi nhận đã vô ý bị thương lúc nạp đạn".[17][18] [19]

Phi công trực thăng Hugh Thompson

Các phiên tòa[sửa | sửa mã nguồn]

Trung úy Calley, trên bìa tạp chí là dòng chữ "Lời thú tội (hay tuyên bố) của trung úy Calley"

Ngày 17 tháng 3 năm 1970, Lục quân Hoa Kỳ đã buộc tội 14 sĩ quan, bao gồm cả thiếu tướng Samuel W. Koster, sĩ quan chỉ huy Sư đoàn Americal (Sư đoàn bộ binh số 23), về việc che giấu thông tin liên quan tới sự kiện Mỹ Lai. Phần lớn các lời buộc tội sau đó đã được hủy bỏ. Chỉ huy lữ đoàn Henderson là sĩ quan duy nhất phải ra tòa án binh về tội che giấu thông tin, dù vậy ông này cũng được tuyên bố trắng án ngày 17 tháng 12 năm 1971[20]

Sau phiên tòa 10 tháng, mặc dù đã tuyên bố mình chỉ tuân theo mệnh lệnh của sĩ quan cấp trên (đại úy Medina), Calley bị tòa tuyên là có tội ngày 10 tháng 9 năm 1971 với các tội danh giết người có chủ ý và ra lệnh cho cấp dưới nổ súng. Ban đầu Calley bị tuyên án chung thân nhưng chỉ 2 ngày sau tổng thống Nixon đã ra lệnh thả Calley. Sau cùng Calley chỉ phải chịu án 4 tháng rưỡi ngồi tù quân sự tại Fort Leavenworth, Kansas, trong thời gian này anh ta vẫn được bạn gái thăm nuôi không hạn chế[21]. Trong một phiên tòa khác, Medina phủ nhận việc ra lệnh thảm sát, và được tuyên trắng án ở tất cả các lời buộc tội. Vài tháng sau phiên tòa, Medina thừa nhận đã che giấu bằng chứng và nói dối Henderson về con số dân thường bị giết[22]. Phần lớn các binh lính có dính líu tới vụ thảm sát Mỹ Lai khi phiên tòa xảy ra đã giải ngũ, vì vậy họ được miễn truy tố. Trong số 26 người bị buộc tội, chỉ có duy nhất Calley bị kết án.

Calley cho rằng anh ta nên đặt nhiệm vụ mà Tổ quốc giao cho lên trên cái tôi của mình. Khi tiến vào Mỹ Lai, tất cả đàn ông ở đâu? Thôn Mỹ Lai toàn là phụ nữtrẻ em, không có thanh niên nào cả. Điều đó có nghĩa là cha chúng xa nhà đi chiến đấu. Calley tuyên bố những phụ nữ và trẻ em mà anh ta sát hại "chắc chắn là Việt Cộng"[23]. [24]

Lực lượng Mãnh Hổ[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng Mãnh Hổ tại Thung lũng Dak Tan Kan, tháng 6 năm 1966

Lực lượng Mãnh Hổ là 1 đơn vị đặc nhiệm được thành lập bởi Lục quân Hoa Kỳ năm 1965, do đại tá David Hackworth chỉ huy.Lực lượng này được thành lập để gia nhập lực lượng đặc nhiệm Oregon theo lệnh của tướng William Westmoreland, trở thành một phần của tiểu đoàn 1/327 bộ binh, và đã có mặt tại Quảng Ngãi từ ngày 3 tháng 5 năm 1967 với mục tiêu do thám và ngăn chặn bước chân của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đơn vị này chỉ bao gồm 1 trung đội 45 người, có nhiệm vụ xác định mục tiêu, vị trí của đối phương để bộ binh và không quân tấn công. Binh lính của trung đội này đều mặc binh phục vằn da hổ[25]. Đây là một trong những đơn vị của Hoa Kỳ chịu nhiều tổn thất nhất trong chiến tranh.

Tội ác[sửa | sửa mã nguồn]

Những tội ác mà đơn vị này phạm phải là:

  • Thường xuyên tra tấn và hành quyết tù nhân[26]
  • Thường xuyên cố ý bắn giết thường dân Việt Nam, bao gồm đàn ông, phụ nữ, trẻ em và người già[27]
  • Thường xuyên thực hiện cắt tai sưu tập tai của các nạn nhân[28]
  • Mang vòng cổ làm từ xâu chuỗi tai nạn nhân[29]
  • Lột và sưu tập da đầu nạn nhân[30]
  • Sự kiện một người mẹ trẻ bị đánh thuốc mê, hãm hiếp rồi bị giết[31]
  • Sự kiện một binh sỹ giết một trẻ nhỏ rồi chặt đầu, sau khi mẹ đứa trẻ đã bị giết[32]

Vào tháng 10 năm 2003, báo Toledo Blade đã vạch trần tội ác bằng cách đăng loạt bài điều tra về việc các binh lính của lực lượng này đã phạm một loạt tội ác chiến tranh[33].

Thảm sát Thạnh Phong[sửa | sửa mã nguồn]

Bob Kerry năm 2006

Thảm sát Thạnh Phong là sự kiện xảy ra ngày 25 tháng 2 năm 1969 tại Khâu Băng (ấp Thạnh Hòa, xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre), lực lượng biệt kích đặc nhiệm hải quân SEAL của quân đội Mỹ, do Bob Kerrey chỉ huy, giết hại 21 thường dân gồm người già, phụ nữ và trẻ em trong khi truy tìm một cán bộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.

Sau cuộc thảm sát, Bob Kerrey được tặng thưởng huân chương Sao Đồng (Bronze Star) do "kết quả của cuộc tuần tiễu là 21 Việt Cộng bị giết, hai căn nhà bị phá hủy, và thu được 2 vũ khí !"

Năm 2001, Tạp chí New York Times và chương trình 60 Minutes II của đài truyền hình Mỹ CBS đã thực hiện một loạt phóng sự về sự kiện trên. Theo lời kể của 1 số nhân chứng thì đội của ông đầu tiên đã tấn công và dùng dao giết nhiều người trong một ngôi nhà mà trong đó chỉ có người già và trẻ em, sau đó họ nã súng vào giữa làng giết nhiều phụ nữ. Cuối cùng, Bob Kerrey đã phải nhận tội với tư cách là chỉ huy đội biệt kích. Lời biện hộ của ông là: "Quy trình tiêu chuẩn là phải loại bỏ những người mà chúng tôi chạm trán" (Standard operating procedure was to dispose of the people we made contact with)[34].

Chiến dịch Speedy Express[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến dịch Speedy Express (tiếng Anh: Operation Speedy Express) là một chiến dịch do quân đội Hoa Kỳ mở ra vào đầu tháng 12 năm 1968 đến ngày 11 tháng 5 năm 1969 tại địa phận các tỉnh Định Tường, Kiến HòaGò Công. Mục tiêu của chiến dịch là tấn công các đơn vị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nhằm ngăn chặn can thiệp vào các nỗ lực bình định của Quân đội Mỹ ở khu vực và cắt đứt đường dây liên lạc của đối phương. Cuộc tấn công có quy mô khá lớn: 8.000 lính lục quân, 50 pháo, 50 trực tăng và ném bom tăng cường. Không quân Hoa Kỳ đã cho tiến hành 3.381 phi vụ tấn công chiến thuật bằng máy bay tiêm kích ném bom nhằm phục vụ chiến dịch. Cuộc tấn công theo Hoa Kỳ là đã "thành công mỹ mãn" với tổn thất của quân đội Hoa Kỳ chỉ là 40 tử trận, 312 bị thương còn thương vong của Quân Giải Phóng theo Hoa Kỳ lên tới 10.889. Tuy chiến dịch đã gây tổn thất cho Mặt Trận nhưng 1 vụ bê bối đã nổ ra khi số liệu thống kê không phù hợp: Mỹ tuyên bố có 10.889 quân Giải phòng bị tiêu diệt nhưng họ chỉ thu được 748 vũ khí. Theo các nhà bình luận, ít nhất đã có 5000 thường dân bị giết hại, tức chiếm 50% số lượng "địch bị giết" trong báo cáo của Mỹ, báo chí đã so sánh chiến dịch với vụ thảm sát Mỹ Lai.[35]

Trong số báo ra ngày 1 tháng 12 năm 2008 trên tạp chí Nation, tác giả Nick Turse đã viết bài báo có nhan đề "A My Lai a Month (Một Mỹ Lai một tháng)" theo đó ông cho rằng Chiến dịch Speedy Express là để thảm sát dân thường.[36]

Thảm sát Bình Hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Vụ thảm sát Bình Hoà do quân đội Hàn Quốc thực hiện vào các ngày 3, 5, 6 tháng 12 năm 1966 tại 5 địa điểm: buồng đất nhà ông Trắp, hố bom Truông Đình, Dốc Rừng, Đồng Chồi Giữa, đám ruộng giếng xóm Cầu, xã Bình Hòa, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi.

Nhằm trả đũa du kích Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam bắn tỉa, núp trong dân thường, lính Hàn Quốc đã thực hiện một cuộc càn quét. Trong vụ thảm sát này, lính Hàn Quốc đã giết hại 430 người, trong đó có 269 phụ nữ (có 12 phụ nữ bị cưỡng hiếp đến chết), 104 người già, 174 trẻ em, 3 gia đình bị giết sạch không còn một ai.[37]

Thảm sát Hà My[sửa | sửa mã nguồn]

Tương tự như Thảm sát Bình Hòa, thảm sát làng Hà My nay thuộc thôn Hà My Tây tại xã Điện Dương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam do Quân đội Hàn Quốc gây ra vào ngày 25 tháng 2 năm 1968 tại khu vực Hà My, tỉnh Quảng Nam. Các đơn vị của Hàn Quốc đã giết hại nhiều phụ nữ, trẻ em không có vũ khí trong tay.

Thảm sát Phong Nhất và Phong Nhị[sửa | sửa mã nguồn]

Một phụ nữ 21 tuổi đang hấp hối sau khi bị lính Thủy quân Lục chiến Nam Triều (Hàn Quốc) cắt vú tại làng Phong Nhi, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam ngày 12 tháng 2 năm 1968
Nạn nhân vụ thảm sát Phong Nhi

Thảm sát Phong Nhất và Phong Nhị là một tội ác chiến tranh của Quân đội Hàn Quốc gây ra trong thời gian Chiến tranh Việt Nam. Vào ngày 12 tháng 2 năm 1968 tại khu vực Phong Nhị, tỉnh Quảng Nam, các đơn vị quân đội Hàn Quốc đã thảm sát hàng loạt thường dân không có vũ khí, trong đó phần lớn là phụ nữtrẻ em.[38][39]

Nạn nhân vụ thảm sát Phong Nhi

Chiến dịch Phụng Hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến dịch/Kế hoạch/Chương trình Phụng Hoàng/Phượng Hoàng (tiếng Anh: Phoenix Program) (1968-1975) là một chiến dịch ám sát hay có thể nói là khủng bố do tình báo Việt Nam Cộng hòa phối hợp với Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) thực hiện, mục tiêu của chiến dịch là ám sát các cán bộ cách mạng của Mặt trận giải phóng.

Mục đích của kế hoạch[sửa | sửa mã nguồn]

Mục đích cụ thể của kế hoạch thứ nhất là nhằm trả đũa các hành động bắt cóc, ám sát những người làm việc tích cực cho Việt Nam Cộng hòa về mặt quân sự và những người thân Mỹ của mặt trận giải phóng, những người mà mặt trận gọi là những tên "chỉ điểm ", "có tội với dân". Mục đích thứ hai là tiêu diệt, bắt giam hoặc thay đổi tư tưởng của những người cộng sản.[40]

Tác dụng và tác hại[sửa | sửa mã nguồn]

Tờ rơi tuyên truyền chiến dịch

Chiến dịch vừa mang lợi vừa cho hại, nhưng có vẻ nó mang hại đến nhiều hơn là lợi.

Lợi ích của chiến dịch:

  • Chiến dịch gây khó khăn cho hoạt động trong thôn xóm, thành phố của Mặt trận.
  • Làm suy yếu hệ thống cơ sở cách mạng, góp phần tiêu diệt và phá hoại đến 95% cơ sở cách mạng ở một số khu vực tại miền Nam Việt Nam.
  • Góp phần làm thay đổi hình thức chiến tranh của Mặt trận là giảm hoạt động du kích, tăng cường các cuộc tấn công quy mô lớn mà thành phần chủ yếu là bộ đội chủ lực.

Tác hại:

  • Số người bị kết tội lớn đến nỗi không thể tin nổi: 22.013 đầu hàng, 24.843 bị giết, 26.369 bị bắt, tổng cộng là 73.225. Điều này chứng tỏ nhiều người bị giết không phải là cán bộ mặt trận mà chỉ là thường dân.[41]
  • Làm người dân xa lánh với chính quyền. Nhiều người từng ủng hộ việc chống cộng nay theo Quân Giải Phóng.
  • Nhiều người mượn tay quân đội Mỹ để trả thù cá nhân.
  • Vì phương pháp thưởng bổng của chính quyền là "Giết càng nhiều Việt Cộng càng tốt" nên nhiều tên "chỉ điểm" đã giết cả thường dân nhằm hưởng bổng lộc.
  • Hình thức tra tấn quá dã man. Gây ảnh hưởng xấu trong dư luận đặc biệt là báo chí.

Đánh đập, tra tấn tù nhân và người dân[sửa | sửa mã nguồn]

Biệt kích Hoa Kỳ đang "khoe" thủ cấp chặt được của binh sĩ Quân Giải phóng, ảnh chụp tháng 5 năm 1968.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng phát biểu: "Vì Mỹ mà đất nước chúng tôi bị chia cắt làm đôi, đồng bào miền Nam chúng tôi đang lâm vào tình cảnh đau thương, nước sôi lửa bỏng. Vì Mỹ mà miền Nam Việt Nam có những tòa án phát xít, những luật lệ bạo ngược, những máy chém lưu động giết người khắp thành thị và thôn quê, có những trại giam khổng lồ, giam cầm và tra tấn hàng chục vạn người, giết chết hàng vạn người yêu hòa bình và yêu Tổ quốc. Vì Mỹ mà có những sư đoàn, binh lính với máy bay, xe tăng và đại pháo Mỹ đi càn quét liên miên, giết hại thường dân, đốt phá làng mạc. Nói tóm lại vì Mỹ mà miền Nam Việt Nam biến thành địa ngục trần gian".

Dựa trên các tài liệu của quân đội Mỹ, do một lực lượng đặc nhiệm của quân đội chịu trách nhiệm điều tra tội ác chiến tranh thu thập và giải mật, bài báo cho biết trong báo cáo gửi Bộ Tổng tham mưu quân đội, một trung tá Mỹ đã tố cáo các binh sĩ Lữ đoàn không vận 173 tra tấn những người bị bắt giữ ở miền Nam Việt Nam. Các nhà điều tra thuộc lực lượng đặc nhiệm trên đã phát hiện hàng loạt những vụ bạo hành của quân sĩ Mỹ, Trong các tài liệu này còn có báo cáo chi tiết về 142 vụ bắt giữ và ngược đãi tù nhân, trong đó có 127 trường hợp liên quan đến lữ đoàn 173. Tuy nhiên các giới chức lãnh đạo của Hoa Kỳ đã cố gắng che giấu các thông tin này.[42] Tờ Los Angeles Times đã đăng bài viết tố cáo các chỉ huy quân đội Mỹ đã che giấu tội ác của cấp dưới trong chiến tranh ở Việt Nam và phần lớn các quân nhân phạm tội đã không bị trừng phạt, hoặc chỉ bị phạt rất nhẹ, trong khi người tố cáo lại bị ngược đãi.[43]

Các vụ việc được chứng minh trong hồ sơ có thể kể đến: 7 vụ thảm sát từ 1967 đến 1971, trong đó có ít nhất 137 dân thường bị giết; 78 vụ tấn công khác nhau vào những người không tham chiến, trong đó ít nhất 57 người bị giết, 56 người bị thương và 15 vụ cưỡng hiếp; 141 vụ tra tấn những người tình nghi hoặc tù binh chiến tranh.[44]

Các nhà điều tra đã xác định được bằng chứng chống lại 203 lính Mỹ bị cáo buộc giết hại dân thường Việt Nam hoặc tù binh. 57 người trong số họ đã bị đưa ra tòa án quân sự và 22 người đã bị kết án. 14 người đã nhận án từ 6 tháng đến 20 năm nhưng hầu hết đều được giảm án đáng kể trong phiên phúc thẩm. Nhiều vụ việc khác đã bị đóng lại vô thời hạn.[44]

Ngoài 320 vụ việc được xác minh, hồ sơ còn có những tài liệu có liên quan đến hơn 500 hành động tàn ác mà các điều tra viên chưa thể chứng minh hoặc không được quan tâm đến.[45]

Ngoài ra, Hoa KỳViệt Nam Cộng hòa còn xây dựng 1 hệ thống nhà tù trên miền nam Việt nam, một số nhà tù được xây mới như Nhà tù Phú Lợi hay sử dụng lại các nhà tù cũ của Pháp ví dụ là Nhà tù Côn ĐảoNhà tù Phú Quốc,chúng dùng để giam giữ những người tù chính trị cộng sản hoặc binh lính Quân Giải Phóng, Quân đội Nhân dân. Ở đây, tù nhân gần như không được coi là người.Ví dụ như ở nhà tù Côn Đảo,tù nhân phải nằm trên nền xi măng ẩm thấp, không có giường ngủ,đa số bị mắc các bệnh liên quan đến đường hô hấp do nền nhà ẩm thấp,bị suy dinh dưỡng do không được cho ăn,được chữa bệnh 1 cách đầy đủ.Nhà tù Phú Quốc có những hình thức tra tấn ghê rợn:

  • "đóng kim": dùng những cây kim chích đã cũ, đóng từ từ vào 10 đầu ngón tay.[46]
  • "chuồng cọp kẽm gai": loại chuồng cọp làm toàn bằng dây kẽm gai, được đan chằng chịt xung quanh và trên nóc. Chuồng cọp này đặt ở ngoài trời trong phân khu. Mỗi phân khu có đến hai, ba chuồng cọp - loại nhốt 1 người và loại nhốt 3-5 người. Kích thước chuồng cọp rất đa dạng, có loại cho tù nhân nằm trên đất cát, có loại buộc tù nhân phải nằm trên dây kẽm gai, có loại chỉ nằm hoặc đứng; có loại chỉ ngồi lom khom; loại phải đứng lom khom, không đứng thẳng được mà ngồi xuống thì sẽ phải ngồi trên dây kẽm gai. Tù nhân phải cởi áo, quần dài, chỉ được mặc quần cụt để phơi nắng, phơi sương, dầm mưa suốt ngày đêm.[46]
  • "ăn cơm nhạt": tù nhân không được ăn muối, sau hai tháng mắt sẽ bị mờ, sau 5-6 tháng liền có người bị mù hẳn.[46]
  • "lộn vỉ sắt": các tấm vỉ sắt loại có lỗ tròn và đầy mấu để mắc vào nhau và lật ngửa làm "đường băng sân bay" rồi bắt tù binh cởi áo, cởi quần ngoài, chỉ còn chiếc quần đùi. người tù bị bắt cắm đầu xuống vỉ sắt lộn ra sau, sau vài lần là lưng người tù tóe máu, đầu bị bứt tóc, tróc da tơi tả.[46]
  • "gõ thùng": lấy thùng phuy úp lên tù nhân đang ngồi xổm, rồi gõ vào thùng. Tù nhân sẽ bị đau đầu, sẽ bị điếc vì tiếng gõ mạnh và sức ép không khí. Cũng bằng cách gõ vào thùng phuy đổ đầy nước, bên trong thùng là tù nhân. Kiểu tra tấn này có thể khiến tù nhân bị hộc máu vì sức ép của nước.[46]
  • "đục răng" và "bẻ răng": kê đục vào sát chân răng của người tù, dùng búa đóng làm răng gãy văng ra.[46]
  • "roi cá đuối": giám thị dùng những chiếc roi cá đuối dài, đem phơi để đánh tù. Trước khi bị đánh, tù nhân phải cởi áo để bị đánh vào da thịt trần. Roi cá đuối thường quấn lấy thân nạn nhân, rồi giật ra, làm da thịt bị đứt theo. Giám thị sau đó có thể lấy muối ớt xát vào da thịt nạn nhân. Đầu năm 1970, phái đoàn Hồng Thập Tự Quốc tế khi đến thị sát nhà tù Phú Quốc đã bắt gặp một chiếc roi cá đuối dính máu khô.[47]
  • "đóng đinh": những chiếc đinh 3 phân được dùng để đóng vào các ngón tay của tù binh trong quá trình tra tấn. Mỗi lần bị đóng đinh, xương ngón tay của người tù bị vỡ nát. Ngoài ra còn có loại đinh 7, 8 phân hoặc cả tấc để đóng vào thân người tù ở các vùng: cổ chân, khớp vai, mắt cá, ống quyển, đầu. Có người bị đóng đinh đến chết, sau này khi bốc mộ vẫn còn đinh găm trong hài cốt.[47]
  • Lấy bao bố trùm lên người tù rồi ném vào chảo nước sôi. Ba người tù ở phân khu C6 đã bị luộc chết.[47]
  • Dùng bóng đèn công suất lớn để sát mặt người tù trong thời gian dài cho nổ con ngươi.[47]
  • Dùng lửa đốt miệng, bộ phận sinh dục.[47]

Đã có 4.000 người chết trong khoảng thời gian tháng 6/1967 đến 3/1973,hàng chục ngàn người mang dị tật hay bị tàn phế cả đời.Tổ chức chữ thập đỏ đã đến Côn Đảo vào năm 1969 và 1972,họ đã nhận thấy sự tra tấn tù nhân 1 cách tàn bạo,có hệ thống và kéo dài[48], 1972[49]. Tháng 8 năm 1971, một điều tra viên của Sứ quán Mỹ tại Việt Nam Cộng hòa báo cáo về sự đánh đập tù nhân tại Phú Quốc vẫn tiếp diễn.Sau các kết quả điều tra của MACV và Sứ quán Mỹ, Tướng Cao Văn Viên, tổng chỉ huy QLVNCH, vẫn khẳng định rằng các đoàn kiểm tra của tổ chức Chữ thập Đỏ quốc tế đã báo cáo sai lệch về tình trạng ở nhà tù.[50] [51]

Vụ thảm sát tại nhà tù Phú Lợi[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 11 năm 1958, nhà tù đã bỏ thuốc độc vào khẩu phần ăn của tù nhân nhằm thủ tiêu các người tù cộng sản khiến hàng ngàn tù nhân bị trúng độc,đến ngày 1 tháng 12 năm 1958 số người tử vong đã lên đến hàng ngàn người.[52]. Trước tình hình đó, tổ chức Đảng Cộng sản trong nhà tù đã tổ chức cứu chữa cho tù nhân và lên tiếng phản đối hành động này. Các tù nhân đã tung nóc nhà giam, chiếm đài phát thanh, dùng các tấm tôn cuộn thành loa lên tiếng tố cáo. Vụ việc lan truyền rộng khắp, gây nên làn sóng căm phẫn không chỉ trong nước mà cả thế giới, cuối cùng nhà tù Phú Lợi buộc phải giải tán vào năm 1964.

Xem thêm:Nhà tù Phú Lợi,Nhà tù Côn Đảo,Nhà tù Phú Quốc,Thảm sát Phú Lợi

Ném bom[sửa | sửa mã nguồn]

Phần còn lại của chiếc B-52G số hiệu 58-0201 bị hạ đêm 18-12 được trưng bày tại Bảo tàng chiến thắng B-52 (Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội)

Không quân Hoa Kỳ gần như tham gia mọi trận đánh và chiến dịch trong Chiến tranh Việt Nam,nhiệm vụ của nó là yểm trợ,dọn đường bằng bom đạn,không kích phá hủy cơ sở hạ tầng ở miền Bắc.Vì vậy,Việt Nam là nơi chứa lượng bom đạn mà Hoa Kỳ rải nhiều nhất trên thế giới.

B-52 của Hoa Kỳ đang rải thảm

Một số trọng điểm như Đường Trường Sơn chịu 4.000.000 tấn bom; Khe Sanh tuy là khu vực chỉ có rộng 8 km² giữa hai bên trong trận Khe Sanh nhưng chịu 100.000 tấn bom đạn, biến nơi đây là nơi có mật độ bom đạn phải hứng chịu lớn nhất trong lịch sử; Khu phi quân sự Vĩ tuyến 17 (Vietnamese Demilitarized Zone - DMZ); Ngã ba Đồng Lộc; Chiến dịch Sấm Rền làm Mỹ tiêu tốn 864.000 tấn bom, 72.000 dân thường Việt Nam bị chết và bị thương, Quảng Trị và đặc biệt tại khu vực thành cổ và thị xã vào năm 1972 đã hứng chịu 28 nghìn tấn bom đạn, 9552 nghìn viên đạn pháo 105mm, 55 nghìn viên đạn pháo 155mm, 8164 viên đạn pháo 175mm, hơn 615 nghìn viên đạn hải pháo, sức công phá bằng 7 quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima, v.v., và còn nhiều nơi nữa tại Việt Nam mà mặt đất vẫn chứa đầy bom đạn.

Máy bay A-7 và F-4 của Hoa Kỳ đang ném bom

Không lực Hoa Kỳ ném bom bừa bãi khắp nơi, bất kể đó là mục tiêu dân sự hay quân sự thì chỉ cần nhận được tin tình báo hoặc do thám vị trí có Quân Giải phóng là họ ném bom không thương tiếc. Chính vì thế mà nhiều công trình dân sự dân sinh và cả nhà dân đều bị trúng bom không phải 1-2 lần mà rất nhiều lần.

Đặc biệt trong Chiến dịch Linebacker II kéo dài chỉ 12 ngày nhưng Mỹ đã thả hơn 36.000 tấn bom, vượt quá khối lượng bom đã ném trong toàn bộ thời kì từ 1969 đến 1971.[53] Làm 1.624 thường dân thiệt mạng. Điển hình là vào ngày 26 tháng 12 năm 1972 tại phố Khâm Thiên, Hà Nội, các máy bay B-52 của Mỹ đã dội bom thẳng vào một bên dãy phố có đông dân thường sinh sống, giết chết 278 người.

Cầu Hàm Rồng bị máy bay Mỹ tấn công

Nhiều tổ chức,quốc gia đã tố cáo quân Mỹ đã thực hiện không kích vào nhiều khu vực trọng yếu như khu dân cư,đê điều. Gây thiệt hại lớn về người và vật chất của nhân dân đặc biệt là vào mùa lũ những năm 1965, 1972.

Khu phố Khâm Thiên, Hà Nội sau trận ném bom của máy bay B-52 đêm 26 tháng 12 năm 1972

Từ 1965 đến tháng 8/1973, Mỹ đã dùng 7.882.547 tấn bom đạn không quân ở Đông Dương, trong đó khoảng: 3.770.000 tấn ở miền Nam Việt Nam; 937.000 tấn ở miền Bắc Việt Nam, số còn lại ở Lào và Campuchia.[54]

Số bom đạn mà Mỹ đã sử dụng tại Việt Nam gấp 2, 3 thậm chí gấp 10 lần tại Đức hoặc tại Nhật Bản trong thế chiến thứ hai, tại Triều Tiên trong chiến tranh Triều Tiên hay tại bất kỳ đâu mà Hoa Kỳ từng tham chiến trên thế giới.

Kết thúc chiến tranh, 4 triệu người dân Việt Nam, 50.000 thường dân Lào, 70.000 thường dân Campuchia chết chủ yếu do bom mìn. Hàng trăm nghìn tấn bom đạn vẫn còn sót lại tại Đông Dương nhưng nhiều nhất vẫn là ở Việt Nam, chiếm tới trên 20% diện tích cả nước và ở rất nhiều nơi. Theo thống kê chưa đầy đủ: Việt Nam đã có 42.132 người bị chết và 62.163 người bị thương, do bom mìn sót lại sau chiến tranh gây ra. Trung bình mỗi năm bom mìn sót lại sau chiến tranh cướp đi tính mạng của 1.535 người và 2.272 người khác phải mang thương tật suốt đời.[54]

Theo nhận xét của các chuyên gia, Việt Nam là một trong những "kho chứa bom trong lòng đất" của thế giới với hơn 10% bom đạn chưa nổ, với tốc độ rà phá bom mìn như hiện nay thì phải mất "100 năm" nữa mới có thể rà phá hết được bom mìn, vật liệu nổ còn sót lại sau chiến tranh.

Nick Turse, trong sách "Giết mọi thứ di động, lập luận rằng: việc không ngừng tìm kiếm nhiều hơn số xác chết để báo cáo thành tích, việc sử dụng lan tràn vùng tự do bắn phá, thường dân có thể bị xem là du kích, và thái độ khinh miệt phổ biến dành cho thường dân Việt Nam đã dẫn đến thương vong lớn và tội ác chiến tranh gây ra bởi quân đội Mỹ.[55] Một ví dụ là Chiến dịch Speedy Express, được mô tả bởi John Paul Vann, là một vụ thảm sát còn ghê gớm gấp nhiều lần Thảm sát Mỹ Lai.[55] Cụ thể hơn:

Đại úy không quân, Brian Wilson, thực hiện ném bom vào vùng tự do bắn phá, nhận thấy những kết quả đầu tiên: "Đó là hình ảnh thu nhỏ của sự vô đạo đức... Một trong những lần tôi đếm số xác chết sau khi không kích kết thúc với hai quả bom napalm, thứ sẽ đốt cháy tất cả mọi thứ, tôi đếm được 62 thi thể. Trong báo cáo của tôi, tôi mô tả họ gồm rất nhiều phụ nữ ở khoảng 15 tới 25 tuổi và rất nhiều trẻ em - thường nằm chết trong vòng tay người mẹ hoặc chị, và rất nhiều người già." Thế nhưng sau khi đọc báo cáo chính thức, Wilson lại thấy những thi thể thường dân này được quân đội Mỹ liệt kê là 130 binh lính địch bị giết.[56]

Chất độc da cam[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chất độc da cam
Máy bay Mỹ đang rải chất da cam

Chất độc da cam (tiếng Anh: Agent Orange, nghĩa là "tác nhân Da cam") là loại chất độc được điều chế từ Hormone thực vật và 2,3,7,8-TCDD dioxin, loại chất này được quân đội Hoa Kỳ sử dụng tại Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam nhằm làm rụng là và tiêu diệt thực vật trên mặt đất để quân đội du kích Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam không còn nơi trốn tránh. Nó là một chất lỏng trong; tên của nó được lấy từ màu của những sọc được vẽ trên các thùng phuy dùng để vận chuyển nó. Quân đội Hoa Kỳ còn có một số mã danh khác để chỉ đến các chất được dùng trong thời kỳ này: "chất xanh" (Agent Blue, cacodylic acid), "chất trắng" (Agent White, hỗn hợp 4:1 của 2,4-D và picloram), "chất tím" (Agent Purple) và "chất hồng" (Agent Pink).

Đến năm 1971, CĐDC không còn được dùng để làm rụng lá nữa; 2,4-D vẫn còn được sử dụng để làm diệt cỏ. 2,4,5-T đã bị cấm dùng tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác.

Trong 10 năm, từ 1961 đến 1971, của Chiến tranh Việt Nam, quân đội Mỹ đã rải hơn 18,2 triệu gallon chất độc da cam với thành phần chứa dioxin xuống hơn 10% diện tích đất ở miền Nam Việt Nam. Việc rải chất độc da cam đã trở thành 1 chiến dịch quân sự mang tên Chiến dịch Ranch Hand.

Do nó có chứa chất Dioxin - nguyên nhân của nhiều bệnh như ung thư, dị dạng và nhiều rối loạn chức năng ở cả người Việt lẫn các cựu quân nhân Hoa Kỳ nên chất độc da cam tồn tại rất lâu trong môi trường cũng như trong cơ thể con người và động vật.Nó có thể di truyền trong cơ thể con người qua nhiều thế hệ. Đây chính là tác nhân chính của nhiều trường hợp dị dạng của những người từng tham gia chiến tranh tại Việt Nam và cả con cháu của họ.

Hậu quả của chất da cam vô cùng to lớn,làm nhiễm độc và tàn phá hàng triệu hécta rừng và đất nông nghiệp. Nhiều người cho rằng ngoài tác hại cho môi trường, hóa chất này còn gây hậu quả trầm trọng cho tính mạng, sức khỏe của nhiều người Việt, thậm chí tới các thế hệ sinh ra sau chiến tranh.

Hiện nay, ước tính có khoảng 4,8 triệu người Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam/dioxin, sống tập trung tại các tỉnh dọc đường Trường Sơn và biên giới với Campuchia. Hàng trăm nghìn người trong số đó đã qua đời. Hàng triệu người và cả con cháu của họ đang phải sống trong bệnh tật, nghèo khó do di chứng của chất độc da cam[57].

Theo Giáo sư Alvin L. Young - chuyên gia dioxin nói rằng "Không có tác hại sinh thái nào được ghi nhận ở động thực vật mặc dù một lượng lớn chất diệt cỏ và dioxin đã được sử dụng", và rằng "thông tin này chưa được xem xét trong các lần đánh giá trước của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ và Viện Y học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ". Tuy nhiên, giáo sư lưu ý rằng "các chất diệt cỏ đổ thẳng xuống đất và ngấm sâu trước khi thoái biến thì sẽ có tồn dư và vì vậy là một mối lo ngại."[58]. Còn theo Cựu Đại sứ Mỹ tại VN ông Michael Marine vẫn cho rằng mối liên hệ giữa sự phơi nhiễm dioxin và sức khoẻ con người vẫn chưa được chứng minh. Tuy nhiên ông đã công bố khoản tài trợ trị giá 400 nghìn USD để nghiên cứu ô nhiễm dioxin và tẩy độc tại sân bay Đà Nẵng[59].

Chiếc máy bay số hiệu UH-1D từ Đại đội không quân 336 đang rải chất diệt cỏ trong vùng rừng của châu thổ sông Mê Kông, 26/07/1969

Viện sĩ Viện Hàn lâm Y học Nga Xofronov Ghenrik Alexandrovich và Giáo sư Rumax Vladimia Xtepanovich, đồng Tổng Giám đốc Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga đã khẳng định rằng hậu quả về mặt y sinh học của chất độc da cam đối với con người và môi trường sinh thái là rất nghiêm trọng, vì điôxin là chất độc nhất mà loài người đã tổng hợp được. Qua kết quả nghiên cứu trong 18 năm của Trung tâm nhiệt đới Việt-Nga, các nhà khoa học kết luận rằng chất độc da cam đã gây ra hậu quả y học và sinh học lâu dài đối với sức khoẻ con người, không những đối với các cựu chiến binh Việt Nam đã từng tham gia chiến tranh, mà còn cả thế hệ thứ 2, thứ 3 là con em của những người đã bị phơi nhiễm. Thậm chí, cả những trẻ em sống trong vùng bị nhiễm chất độc hoá học cũng có biểu hiện bệnh lý. Chất da cam/điôxin đã có ảnh hưởng về di truyền sinh thái, đặc biệt gây ra tình trạng sẩy thai, lưu thai hoặc có con bị dị tật bẩm sinh ở phụ nữ bị nhiễm đioxin. Cũng theo hai nhà khoa học Nga này, tác động lâu dài của chất độc da cam/điôxin không chỉ có 20 năm, mà có thể lên tới trên 100 năm. Số người bị ảnh hưởng của chất độc này cũng không chỉ dừng ở 4,8 triệu người mà có thể là hàng chục triệu người[60].

Hiện nay thì sân bay Đà Nẵng và sân bay Biên Hòa cũ của quân đội ngụy là hai nơi chứa lượng chất da cam đậm đặc nhất do sau chiến tranh nhiều thùng chất da cam bị bỏ lại ở đây, cần phải làm sạch khẩn cấp.

Nạn nhân dioxin tại Việt Nam

Đã và đang có nhiều vụ kiện của các cực chiến binh Hoa Kỳ,Hàn Quốc, Canada, Úc và cả các cựu chiến binh Quân đội Nhân dân Việt Nam, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, cựu chiến binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa cùng nạn nhân là người dân Việt Nam đối với 4 công ty hóa chất đã cung cấp chất da cam cũng như dioxin cho quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam bao gồm:Dow Chemical, Montaso Ltd, Phamacia Corporation, và Hercules Incorporated[61].Các hành động này ngày càng được dư luận quốc tế ủng hộ và quan tâm như ông Len Aldis đã lập một trang web kêu gọi ký tên vì công lý.[62]

Cũng cần phải nói thêm rằng, những công ty hóa chất như Mosanto, Dow Chemical đã nói dối Quân đội Hoa Kỳ rằng chất da cam không ảnh hưởng tới sức khỏe con người và đã gây ra những căn bệnh quái ác cho cả lính Mỹ khi tham chiến tại Việt Nam. Điển hình như con trai của Đô đốc Chỉ huy trưởng Hải quân Hoa Kỳ tại Việt Nam, tướng Elmo Zumwalt, người đã ra lệnh rải chất độc da cam tại Việt Nam đã chết vì bệnh ung thư, ảnh hưởng trực tiếp từ chất da cam.[63]. Binh sĩ Hoa Kỳ tại Việt Nam còn được cung cấp những bình xịt bằng tay hoặc từ xe cơ giới. Nhiều lính Mỹ thường than phiền với bác sĩ về việc bị bỏng da, nhức đầu, nôn mửa và nhiều triệu chứng phơi nhiễm chất độc, nhưng họ đều được bảo rằng điều đó không liên quan gì tới việc phun xịt chất diệt cỏ.

Tuy nhiên, các quan chức Hoa Kỳ và một số tướng lĩnh trong Quân đội Mỹ biết sự thật nhưng không nói. Điểm chứng tỏ điều này rõ nhất chính là việc căn cứ của các máy bay tham gia chiến dịch Ranch Hand được bí mật xây dựng bên cạnh Đơn vị Không quân 62 của Việt Nam Cộng hòa tại Căn cứ không quân Nha Trang, và mang danh hiệu trá hình là Không đoàn 14. Ngoài ra các phi công này khi thực hiện nhiệm vụ phải mặc thường phục và các máy bay phải sơn cờ Việt Nam Cộng hòa, từ những năm 1965 thì các máy bay này mới được trả phù hiệu của Không lực Hoa Kỳ[64]. Chính phủ Mỹ muốn chính quyền Nam Việt Nam phải nhận trách nhiệm về việc sử dụng chất diệt cỏ, và đã yêu cầu Tổng thống Ngô Đình Diệm ra tuyên bố rằng các chất này không gây hại gì cho sức khỏe con người [64]. Trong suốt thời gian cuộc chiến, các báo cáo về tình trạng dị dạng bẩm sinh xuất hiện trên báo chí Sài Gòn đều bị gạt bỏ vì cho rằng điều này giúp tuyên truyền cho cộng sản. Những lời oán thán về các chứng bệnh nguy hại từ các nông dân ở miền Nam Việt Nam đều bị làm ngơ [64].

Khi chúng tôi (các nhà khoa học quân sự) tiến hành chương trình về thuốc diệt cỏ trong những năm 1960, chúng tôi đã được cảnh báo về khả năng hủy hoại của thuốc diệt cỏ đã nhiễm dioxin. Thậm chí chúng tôi còn được cảnh báo rằng thuốc diệt cỏ theo công thức "quân đội" có nồng độ dioxin cao hơn các loại thuốc diệt cỏ "dân sự" vì giá thành thấp và thời gian sản xuất ngắn. Tuy nhiên, vì sản phẩm được sử dụng trên "đối phương" nên không ai trong chúng tôi tỏ ra quan tâm thái quá. Chúng tôi không bao giờ hình dung ra cảnh binh lính của mình cũng sẽ bị nhiễm độc. Và, nếu xảy ra tình huống này, chúng tôi mong chính phủ của chúng ta sẽ trợ giúp các cựu chiến binh bị phơi nhiễm..

— Tiến sĩ James Clary, một nhà khoa học từng phục vụ trong Không lực Hoa Kỳ, người đã thiết kế các thùng chứa thuốc khai quang đặt trên trực thăng, và cũng là người viết báo cáo tổng kết về Chiến dịch Ranch Hand [64]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hồi ký Đỗ Mậu, Biến cố Phật giáo, Đỗ Mậu - Giám đốc Nha an ninh quân đội, Nguồn: vantuyen.net
  2. ^ Hồi ký bác sĩ Erich Wulff, Erich Wulff, Nguồn todinhtudamhaingoai.org
  3. ^ Vietnamesische Lehrjahre (Những năm dạy học tại Việt Nam), Suhrkamp Verlag, Taschenbuch Ausgabe, st 73, Germany, 1972, trang 129-142
  4. ^ Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, chương 38, Cuộc vận động chống chế độ Ngô Đình Diệm, Nguyễn Lang,
  5. ^ Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, chương 40, Chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, Nguyễn Lang,
  6. ^ http://books.google.com.vn/books?id=MauWlUjuWNsC&pg=PA510&lpg=PA510&dq=&source=bl&ots=3QhAwXMOZr&sig=6N70wCBczxHSQLWmjf8jTvTtu9U&hl=en&ei=iSg-S6vyNYSHlAeS85WUBw&sa=X&oi=book_result&ct=result&redir_esc=y#v=onepage&q&f=false
  7. ^ Sáu tháng pháp nạn. Tr.215-216
  8. ^ Soldiers went berserk, gunning down unarmed men, women, children and babies. Families which huddled together for safety in huts or bunkers were shown no mercy. Those who emerged with hands held high were murdered.... Elsewhere in the village, other atrocities were in progress. Women were gang raped; Vietnamese who had bowed to greet the Americans were beaten with fists and tortured, clubbed with rifle butts and stabbed with bayonets. Some victims were mutilated with the signature "C Company" carved into the chest. By late morning word had got back to higher authorities and a cease-fire was ordered. My Lai was in a state of carnage. Bodies were strewn through the village - "Murder in the name of war - My Lai". BBC. July 20, 1998.
  9. ^ "I would say that most people in our company didn't consider the Vietnamese human". Celina Dunlop, "My Lai: Legacy of a massacre", BBC News, fetched 16th March 2008,[1]
  10. ^ It looks like a bloodbath down there! What the hell is going on? - Một phi công trực thăng bay trên khu vực Mỹ Lai - Into the Dark: The My Lai Massacre
  11. ^ I did not see anyone alive when we left the village. - Binh nhất Robert Maples - Into the Dark: The My Lai Massacre
  12. ^ "In direct refutation of this portrayal is the fact that relations between American soldiers and the Vietnamese people are excellent." - "Behind Colin Powell's Legend -- My Lai" by Robert Parry and Norman Solomon, The Consortium for Independent Journalism, July 22, 1996
  13. ^ "I mean, I was in a unit that was responsible for My Lai. I got there after My Lai happened. So, in war, these sorts of horrible things happen every now and again, but they are still to be deplored." “Interview on CNN's Larry King Live with Secretary Colin L. Powell”. May 4 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2006. 
  14. ^ Text of Ridenhour's 1969 letter
  15. ^ Peers' final report
  16. ^ Biography of General William R. Peers
  17. ^ [The 1st Battalion] members had killed at least 175-200 Vietnamese men, women, and children. The evidence indicates that only 3 or 4 were confirmed as Viet Cong although there were undoubtedly several unarmed VC (men, women, and children) among them and many more active supporters and sympathizers. One man from the company was reported as wounded from the accidental discharge of his weapon.
  18. ^ summaryreport
  19. ^ Trích trong bài Thảm sát Mỹ Lai
  20. ^ "Biography of Oran Henderson"
  21. ^ Neier, A. War Crimes: Brutality, Genocide, Terror, and the Struggle for Justice, Random House, tr. 95
  22. ^ "An Introduction to the My Lai Courts-Martial"
  23. ^ Chiến tranh Việt Nam-Được và Mất-Nigel Cawthorne-NXB Đà Nẵng p 317-318
  24. ^ Trích trong bài Thảm sát Mỹ Lai
  25. ^ Trung đội Mãnh hổ Mỹ thảm sát dân thường Quảng Ngãi
  26. ^ Sallah and Weiss, Tiger Force, 337, 344-345, 349, 353, 370-372.
  27. ^ Sallah and Weiss, Tiger Force, 335, 339-346, 350-352, 354-355, 359, 361-362, 367-369, 374-375, 376.
  28. ^ Sallah and Weiss, Tiger Force, 335-336, 371.
  29. ^ Sallah and Weiss, Tiger Force, 371.
  30. ^ Sallah and Weiss, Tiger Force, 346, 374.
  31. ^ Sallah and Weiss, Tiger Force, 361-362, 377-378.
  32. ^ Sallah and Weiss, Tiger Force, 360, 363-364, 372-373.
  33. ^ BURIED SECRETS, BRUTAL TRUTHS
  34. ^ Trích Thảm sát Thạch Phong
  35. ^ From My Lai to Lockerbie
  36. ^ A My Lai a Month
  37. ^ Sở văn hóa thông tin tỉnh Quảng Ngãi
  38. ^ THE AUSTRALIAN ARMY AND THE VIETNAM WAR 1962-1972 THE MAKING OF TIGERS:SOUTH KOREA'S EXPERIENCE IN THE VIETNAM WAR
  39. ^ http://h21.hani.co.kr/section-021003000/2000/021003000200011150334040.html
  40. ^ http://vnca.cand.com.vn/vi-vn/truyenthong/2006/6/51002.cand
  41. ^ Cheryl Bernard, et al. The Battle Behind the Wire. Santa Monica, CA: Rand Corporation, 2011. tr 41
  42. ^ http://www.tin247.com/quan_doi_my_che_giau_toi_ac_chien_tranh_o_viet_nam-2-21309416.html
  43. ^ http://www.tin247.com/quan_doi_my_che_giau_toi_ac_chien_tranh_o_viet_nam-2-21309416.html http://dantri.com.vn/c36/s36-136441/phanh-phui-them-nhung-toi-ac-cua-linh-my-trong-chien-tranh-vn-1.htm
  44. ^ a ă Trích Tội ác của quân đội Hoa Kỳ
  45. ^ http://dantri.com.vn/c36/s36-133927/giai-mat-ho-so-cac-vu-tham-sat-cua-quan-doi-my-tai-viet-nam.htm
  46. ^ a ă â b c d Báo CAND
  47. ^ a ă â b c Trầm Hương (28 tháng 5 năm 2009). “Ngón nghề của những đồ tể ở "Trại giam tù binh Phú Quốc"”. Báo An ninh Thế giới. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2009. 
  48. ^ International Review of the Red Cross, March 1969, 9th year, No 96. [2], p. 130
  49. ^ International Review of the Red Cross, March 1969, 12th year, No 144. [3], p. 658
  50. ^ springer
  51. ^ Trích Nhà tù Phú Quốc
  52. ^ "Kỷ niệm 50 năm ngày "Phú Lợi căm thù"". Báo Lao động. Truy cập 2008-26-12.
  53. ^ George Herring, America's Longest War, John Wikey & Sons, 1979, tr. 248
  54. ^ a ă http://vtc.vn/2-331196/xa-hoi/nhung-vu-khi-toi-tan-my-su-dung-trong-chien-tranh-vn.htm
  55. ^ a ă Turse 2013, tr. 251.
  56. ^ Turse 2013, tr. 212.
  57. ^ Bộ ngoại giao Việt Nam - Ủng hộ nạn nhân chất độc da cam/Đi-ô-xin
  58. ^ Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam THÔNG CÁO BÁO CHÍ, ngày 22/6/2007
  59. ^ Mỹ có tài trợ nhỏ để nghiên cứu tẩy dioxin ở Đà Nẵng
  60. ^ Thông tấn xã Việt Nam Chất độc da cam gây hậu quả lâu dài đối với Việt Nam
  61. ^ “Agent Orange victims battle new front: chemical giants”. Vietnamnews. 26 tháng 7 năm 2004. 
  62. ^ “Support for Agent Orange victims”. greenleft. 12 tháng 4 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2012. 
  63. ^ Chân trần chí thép, James G. Zumwalt
  64. ^ a ă â b Không thể chuộc lỗi (Failure to Atone), Allen Hassan