Tục thờ cá Ông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tục thờ cá Ông (tức cá voi) là một tín ngưỡng dân gian vùng duyên hải miền Trungmiền Nam Việt Nam từ Thanh Hóa vào tận Bến Tre. Đây là tín ngưỡng của cư dân vùng biển, hay còn gọi là vạn chài. "Cá Ông" ở đây là cá voi lưng xám mà theo ngư dân chính là thần Nam Hải. Ngư dân thường phối thờ Cá Ông cùng các vị thần khác đã giúp đỡ và phù hộ cho ngư dân no ấm như: Ngũ Hành Nương Nương, Hữu Lý Ngư, Tả Lý Lịch, v.v.

Nguồn gốc và biến hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Tục thờ Cá Ông xuất nguồn từ tục thờ Cá Ông của người Chăm. Tuy nhiên, trải qua sự bản địa hóa, tục thờ cá Ông trở thành tín ngưỡng của người Việt và cả người Hoa.

  • Đối với người Chăm, Cá Ông là một vị thần của Biển Đông được nhân dân kính cẩn.
  • Đối với người Việt và người Hoa, Cá Ông chính là mảnh pháp y (áo choàng sau) của Quan Thế Âm (hay Nam Hải Bồ tát) quăng xuống biển để cứu giúp cư dân vùng biển trong cơn giông tố giữa biển.

Mục đích của tục thờ cá Ông hình thành để cầu yên cho các ngư thuyền ra khơi đánh cá và mong được mẻ cá lớn. Tục này thời Gia Long đã thành lệ.

Tín ngưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo lệ thì dân chài ai phát hiện được cá voi mắc cạn, tục gọi là "ông lụy" thì có bổn phận chôn cất và để tang Ông như để tang chính cha mẹ mình. Xác cá được đem tắm bằng rượu rồi liệm bằng vải đỏ. Dân làng còn lấy giấy đỏ đắp vào miệng cá thấm lấy nước dãi, xong đem phơi khô rồi đốt thành tro để chữa bệnh suyễn. Xác cá được mai táng trong đụn cát gần biển. Người phát hiện ra cá voi mắc cạn thì được nhân dân tôn sùng và dưới triều nhà Nguyễn còn được miễn sưu dịch 3 năm.

Hàng năm dân làng chọn ngày "ông lụy" (ngày cá Ông trôi vào bờ) làm lễ cúng giỗ theo nghi thức Nghinh Ông. Người địa phương có câu: "Thấy ông vào làng như vàng vào tủ" vì theo tín ngưỡng này, Cá Ông lụy và trôi dạt vào làng nào, làng đó muôn đời ấm no, tai qua nạn khỏi.

Ba bốn năm sau khi chôn thì dân làng phải cải táng, thường làm vào mùa xuân sang rồi đem cốt cho nhập lăng và tế chung. Đối với xương cá Ông to lớn thì dân làng sẽ chờ đủ 3 năm cho xương cốt rã ra rồi mới đem vào hòm để đưa về làng thờ. Với trường hợp cá nhỏ, người ta sẽ cho trực tiếp vào hòm và đem về thờ. Khi tế cá thì dân làng cũng cúng các vong hồn ngư dân chết ngoài biển. Tế xong thì có các mục mua vui như hát "chèo ghe", đua thuyền thúng, kéo co, hát tuồng cùng các trò khác.

Điển hình là lễ Cầu Ngư, hay còn gọi lễ tế cá Ông, ở làng Mân Thái thuộc Đà Nẵng. Hằng năm làng tổ chức tế vào Tháng Ba âm lịch. Ba năm thì có đại tế một lần. Ở Bến Tre thì gọi lễ Nghinh Ông, tế vào Tháng Sáu.

Ngoài ra khi dân chài ra khơi họ cũng thường thắp nhang vái Ông phù trợ.

Truyền thuyết và khoa học[sửa | sửa mã nguồn]

Việc Cá Ông liên tục cứu giúp ngư dân miền biển lúc giông to gió lớn đã khiến cho tục thờ Cá Ông đã trở thành một nét văn hóa của Việt Nam. Tuy nhiên khoa học cũng kiểm chứng được một phần vì khi giông tố nổi lên thì cá voi cũng bị sóng biển đẩy vào bờ và dễ bị mắc cạn. cá voi theo thuyền để tìm vật cọ sát cho con cá ép trên thân mình rớt ra Vì hiện tượng song hành này ngư dân cho là cá "giúp" dân chài.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyen Van Huy & Laurel Kendall, ed. Vietnam, Jouneys of Body, Mind, and Spirit. Berkeley, CA: University of California Press, 2003.
  • Sterling, Eleanor, et al. Vietnam A Natural History. New Haven, CT: Yale University Press, 2006.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]