Từ Cung Hoàng thái hậu
|
|
Thông tin trong bài (hay đoạn) này không thể kiểm chứng được do không được chú giải từ bất kỳ nguồn tham khảo nào. Xin bạn hãy cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn uy tín. Nếu bài được dịch từ Wikipedia ngôn ngữ khác thì hãy chuyển nguồn tham khảo từ phiên bản đó cho bài này. |
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Từ Cung Hoàng thái hậu (慈宮皇太后), tên thật là Hoàng Thị Cúc (黃氏菊), là vợ vua Khải Định, là mẹ vua Bảo Đại, và cũng là Hoàng thái hậu cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam.
Tiểu sử [sửa]
Thuở nhỏ bà sống cùng phụ mẫu ở quê nhà Mỹ Lợi, Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế, xuất thân từ gia đình bình dân. Bà nguyên không phải là cung phi hay cung tần mà chỉ là một hầu gái của Ngọc Lâm Công Chúa (trưởng nữ của Đồng Khánh, chị đầu của vua Khải Định).
Khi mới đến Huế, bà Cúc buôn bán nhỏ ở chợ An Cựu, gặp mẹ ruột của hoàng thân Bửu Đảo (sau này là vua Khải Định) là bà Tiên Cung (vợ vua Đồng Khánh), người không cùng làng nhưng cùng huyện Phú Lộc…Bà Tiên Cung nhận bà Cúc vào làm trong dinh của ông hoàng Bửu Đảo ở An Cựu (sau này là An Định cung). Từ đó bà Cúc mới quen biết ông hoàng.
Sau được Phụng Hóa Công nạp làm phi thiếp. Đầu năm 1913, bà mang thai và nhận là của Phụng Hóa Công. Đức Tiên Cung và Đức Thánh Cung (sinh mẫu và đích mẫu của Phụng Hóa Công) đã nhiều lần tra khảo, có lần còn ép bà phải nằm úp bụng bầu xuống đất và đánh, bắt bà phải khai đó là thai của ai sao lại dám đặt điều nhưng bà vẫn một mực khẳng định đây là con của Phụng Hóa Công. Kể từ đó bà mới được tha và hưởng thời kỳ dưỡng thai. Ngày 22 tháng 10 năm 1913 bà hạ sinh hoàng nam Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại sau này).
Năm 1916, Phụng Hóa Công lên ngôi, lấy hiệu là Khải Định. Sau khi lên ngôi ông phong cho bà là Ngũ Giai Huệ Tần, qua năm 1918 thăng lên Nhị giai Hữu Phi, đến năm 1923 mới phong Tam Giai Huệ Phi, đứng thứ 3 trong tam cung lục viện của ngài.
Năm 1925, vua Khải Định băng. Năm 1926, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy được tôn lên kế vị, lấy niên hiệu là Bảo Đại. Sau khi lên ngôi, ông phong cho mẹ mình làm Đoan Huy Hoàng Thái Hậu (端徽皇太后), nhưng mọi người vẫn thường gọi bà là Đức Từ Cung.
Năm 1932, vua Bảo Đại kết hôn với Nguyễn Hữu Thị Lan, một người Công giáo rồi phong bà này làm Nam Phương Hoàng Hậu. Việc này làm bà Từ Cung không hài lòng, vì nhà Nguyễn vốn có quy định "Tứ bất lập"—trong đó có quy định không lập hoàng hậu, hơn nữa bà Nam phương lại là người Công giáo, chịu ảnh hưởng của giáo dục Tây phương nên không rành rẽ các quy tắc nghiêm nghặt trong cung. Có thể cũng vì lẽ đó mà giữa hai bà Từ Cung và Nam Phương hay xảy ra việc bất đồng ý kiến.
Năm 1939, vua Bảo Đại xây ngôi chùa đầu tiên trên đất Buôn Mê Thuột, lấy hai chữ đầu trong hiệu của phụ mẫu ông đặt tên cho ngôi chùa là Chùa Khải Đoan".
Năm 1945, vua Bảo Đại giao ấn kiếm cho chính quyền Cách mạng, tuyên bố thoái vị, bà Từ Cung cùng bà Nam Phương và con cháu hoàng thất dọn ra cung An Định ở. Kể từ thời gian đó đến lúc băng, bà không một phút giây nào rời khỏi Kinh thành Huế ngay cả khi con trai và con dâu bà sang Pháp sống lưu vong. Bà nguyện sống cả đời ở đây để giữ gìn nơi thờ phụng các bậc tiên đế, các bảo vật của triều Nguyễn.
Sau này bà không ở trong cung An Định nữa mà chuyển về số nhà 79 phố Phan Đình Phùng và ở đây cho đến ngày cuối đời. Trong thời gian chiến tranh loạn lạc, mọi hoạt động cúng bái các bậc tiên tổ, hội họp Nguyễn Phước Tộc đều diễn ra tại căn nhà này. Cũng trong thời gian này bà hoàn toàn mất liên lạc với ông hoàng Vĩnh Thụy.
Năm 1980, Bà Từ Cung qua đời, bà được an táng gần Lăng Khải Định tại xã Hương Chữ, Hương Thuỷ, Thừa Thiên-Huế. Căn nhà 79 Phan Đình Phùng mà bà đã ở những ngày cuối đời hiện nay được tu bổ trở thành điểm tham quan cho khách du lịch.
Trong những năm đầu Đại Đạo Tam kỳ phổ độ ( tức đạo Cao Đài) được mở tại nam phần Việt Nam. Bà Từ Cung cũng nhập môn cầu đạo và được ân phong hàng Phối sư. Nhưng bà chưa một lần về thăm tổ đình Cao Đài Trung ương ở Tây ninh. có lẽ vì do thế cuộc hay vì tuổi già sức yếu. Tuy thế bà vẫn một lòng hướng về đạo, bên cạnh đó còn góp tiền cho Đạo.