Từ Cung Hoàng thái hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hoàng Thị Cúc
Đoan Huy Hoàng Thái Hậu
ĐứcTừCung.jpg
Hoàng phi nhà Nguyễn
Tại vị 1918 - 1925
Tiền nhiệm Phụ Thiên Thuần hoàng hậu
Kế nhiệm Nam Phương Hoàng hậu
Thông tin chung
Phu quân Khải Định
Hậu duệ Bảo Đại
Tên đầy đủ Hoàng Thị Cúc
Tước hiệu Cung nữ
Huệ tần
Huệ phi
Đoan Huy Hoàng Thái Hậu
Tước vị Đoan Huy Hoàng Thái Hậu
Hoàng tộc nhà Nguyễn
Thân phụ Hoàng Văn Tích
Sinh 28 tháng 1, 1890
Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế
Mất 9 tháng 11, 1980 (90 tuổi)
An táng 1980xã Hương Chữ, Hương Thuỷ, Thừa Thiên-Huế

Từ Cung Hoàng thái hậu (慈宮皇太后), tên thật là Hoàng Thị Cúc (黃氏菊) (28 tháng 1, 1890 - 9 tháng 11, 1980), là vợ vua Khải Định, mẹ vua Bảo Đại và cũng là Hoàng thái hậu cuối cùng của Triều Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Thuở nhỏ bà sống cùng phụ mẫu ở quê nhà Mỹ Lợi, Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế[1]. Theo gia phả của họ Hoàng làng Mỹ Lợi, tuy bà Thái hậu xuất thân thuộc dòng họ Hoàng Văn có nhiều người đỗ đạt và làm quan to, nhưng hoàn cảnh riêng lại hết sức hẩm hiu. Lúc sinh thời, ông Hoàng Văn Tích (thân phụ) làm Tri huyện nhưng gia đình khó khăn., xuất thân từ gia đình bình dân. Bà nguyên không phải là cung phi hay cung tần mà chỉ là một hầu gái của Ngọc Lâm công chúa (trưởng nữ của Đồng Khánh, chị đầu của vua Khải Định).

Khi mới đến Huế, bà Cúc buôn bán nhỏ ở chợ An Cựu, gặp mẹ ruột của hoàng thân Bửu Đảo (sau này là vua Khải Định) là bà Tiên Cung hoàng hậu Dương Thị Thục, người không cùng làng nhưng cùng huyện Phú Lộc. Bà Tiên Cung nhận bà Cúc vào làm trong dinh của ông hoàng Bửu Đảo ở An Cựu (sau này là An Định cung). Từ đó bà Cúc mới quen biết ông hoàng. Sau được Phụng Hóa Công nạp làm phi thiếp.

Có nguồn khác kể: Vì cha chết sớm, Hoàng Trọng Khanh, anh cả trong gia đình, đã nhận phần nuôi dưỡng các em. Thế nhưng, ông Khanh vốn ham chơi, mê cờ bạc, nên đã "bán" các em gái cho những nơi quyền quý. Bà Hoàng Thị Cúc được đưa vào làm cung nữ hầu hai bà Thánh Cung và Tiên Cung – vợ góa của vua Đồng Khánh[2]

Huệ phi của Khải Định[sửa | sửa mã nguồn]

Khi sống trong cung, bà Hoàng Thị Cúc đã nhanh chóng "lọt" vào mắt xanh của Hoàng tử Bửu Bảo (Vua Khải Định sau này), con trai cả của bà Tiên Cung, lúc đó đang đang giữ chức Phụng Hóa Công và đã có vợ là con gái của đại quan đầu triều Trương Như Cương, nhưng cả hai người sống với nhau lâu mà không có con.

Đầu năm 1913, bà mang thai và nhận là của Phụng Hóa Công. Hai bà Tiên Cung hoàng hậuThánh Cung hoàng hậu (sinh mẫu và đích mẫu của Phụng Hóa Công) đã nhiều lần tra khảo, có lần còn ép bà phải nằm úp bụng bầu xuống đất và đánh, bắt bà phải khai đó là thai của ai sao lại dám đặt điều nhưng bà vẫn một mực khẳng định đây là con của Phụng Hóa Công. Kể từ đó bà mới được tha và hưởng thời kỳ dưỡng thai[2]. Ngày 22 tháng 10 năm 1913 bà hạ sinh hoàng nam Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại sau này).

Năm 1916, Phụng Hóa Công lên ngôi, lấy hiệu là Khải Định. Sau khi lên ngôi ông phong cho bà là Tam giai Huệ tần, qua năm 1918 thăng lên Nhị giai Huệ phi, đứng thứ 2 trong Hậu cung của ngài, sau bà Ân phi Hồ Thị Chỉ. tháng 2 năm Khải Định thứ 8 (1923) được phong Nhất giai Hậu Phi.

Hoàng thái hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1925, vua Khải Định băng hà. Năm 1926, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy được tôn lên kế vị, lấy niên hiệu là Bảo Đại. Sau khi lên ngôi, ông phong cho mẹ mình làm Đoan Huy Hoàng Thái Hậu (端徽皇太后), nhưng mọi người vẫn thường gọi bà là Đức Từ Cung[1]. Vào ngày sinh nhật hàng năm của bà triều đình tổ chức lễ mừng rất trọng thể, gọi là Lễ Từ Khương.

Năm 1932, vua Bảo Đại kết hôn với Nguyễn Hữu Thị Lan, một người Công giáo rồi phong bà này làm Nam Phương Hoàng Hậu. Việc này làm bà Từ Cung không hài lòng, vì nhà Nguyễn vốn có quy định "Tứ bất lập"—trong đó có quy định không lập hoàng hậu, hơn nữa bà Nam phương lại là người Công giáo, chịu ảnh hưởng của giáo dục Tây phương nên không rành rẽ các quy tắc nghiêm nghặt trong cung. Có thể cũng vì lẽ đó mà giữa hai bà Từ Cung và Nam Phương hay xảy ra việc bất đồng ý kiến.

Năm 1939, vua Bảo Đại xây ngôi chùa đầu tiên trên đất Buôn Mê Thuột, lấy hai chữ đầu trong hiệu của phụ mẫu ông đặt tên cho ngôi chùa là Chùa Khải Đoan".

Sau Cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1945, vua Bảo Đại giao ấn kiếm cho chính quyền Cách mạng, tuyên bố thoái vị, bà Từ Cung cùng bà Nam Phương và con cháu hoàng thất dọn ra cung An Định ở.

Khi cựu hoàng Bảo Đại ra Hà Nội làm cố vấn cho ông Hồ Chí Minh, Hoàng Thái hậu Từ Cung và Hoàng hậu Nam Phương cùng các hoàng nam, hoàng nữ vẫn ở tại Cung An Định.

Những năm 1949 - 1954, khi Bảo Đại trở về làm Quốc trưởng bà Từ Cung trở lại Hoàng cung, ở tại Cung Diên Thọ. Năm 1954, khi Bảo Đại qua Pháp lưu vong bà lại phải ra khỏi Hoàng thành về sống ở Cung An Định.

Năm 1955, khi Quốc trưởng Bảo Đại bị lật đổ, ông Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng thì chính quyền (miền Nam Việt Nam) không cho phép bà Từ Cung ở lại trong Cung An Định. Trong tình cảnh này bà đã mua lại ngôi nhà của bà Ân Phi (Hoàng hậu vua Khải Định), là nhà 79 phố Phan Đình Phùng và ở đây cho đến ngày cuối đời. Trong thời gian chiến tranh loạn lạc, mọi hoạt động cúng bái các bậc tiên tổ, hội họp Nguyễn Phước Tộc đều diễn ra tại căn nhà này. Cũng trong thời gian này bà hoàn toàn mất liên lạc với ông hoàng Vĩnh Thụy.

Bà Lê Thị Dinh là người phục vụ bà Từ Cung hơn 60 năm, là người cung nữ cuối cùng triều Nguyễn phục vụ cho Từ Cung Hoàng Thái hậu[3]. Bốn cung nữ hầu Hoàng Thái Hậu gồm: bà Lê Thị Dinh (nhiệm vụ là trang điểm cho đức Bà, là người hầu hạ Đức Bà tới lúc cuối đời), Lê Thị Tìm (đọc truyện cổ tích và tụng kinh cho Đức Bà nghe hàng đêm), Nguyễn Thị Vân và Trần Thị Vui. Đây là bốn cung nữ cuối cùng của triều Nguyễn, cũng là những cung nữ cuối cùng của Việt Nam đang sống vào thế kỷ XXI[4].

Năm 1980, Bà Từ Cung qua đời, bà được an táng gần Lăng Khải Định tại xã Hương Chữ, Hương Thuỷ, Thừa Thiên-Huế. Căn nhà 79 Phan Đình Phùng mà bà đã ở những ngày cuối đời hiện nay được tu bổ trở thành điểm tham quan cho khách du lịch.

Ở Huế không có ai đủ tư cách thừa kế gia sản cho nên ngôi nhà của bà và các hiện vật bên trong được giao cho Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế quản lý.

Đánh giá chung[sửa | sửa mã nguồn]

Từ Cung Hoàng Thái hậu rất trọng đạo Phật và chú tâm đến việc thờ cúng các vị vua triều Nguyễn. Từ Cung Thái hậu được coi là người có công lớn trong việc chấn hưng Phật giáo thời nhà Nguyễn. Chính bà đã khuyên vua Bảo Đại dành nhiều tiền đóng góp cho An nam Phật giáo Hội, vận động Bảo Đại góp tiền xây chùa và phát triển Phật giáo.

Bà chưa khi nào rời khỏi Kinh thành Huế ngay cả khi con trai và con dâu bà sang Pháp sống lưu vong. Bà nguyện sống cả đời ở đây để giữ gìn nơi thờ phụng các bậc tiên đế, các bảo vật của triều Nguyễn. Bà nói: "Ta sinh ra ở đâu thì sẽ chết ở đó. Tổ tiên nhà Nguyễn còn ở Huế thì ta còn phải ở lại lo chuyện thờ cúng, chăm sóc lăng mộ các bậc tiền nhân. Nhà Nguyễn đã cho ta hưởng lộc cả đời. Ta có chết cũng chưa báo đáp hết được". Bà chưa bỏ một lễ giỗ nào, kể cả khi tiền bạc gần như đã suy kiệt hoàn toàn.

Khi ra khỏi cung Diên Thọ về sống ở cung An Định, hay là khi bị Ngô Đình Diệm đuổi khỏi cung An Định, Từ Cung Thái hậu vẫn luôn mang theo bên mình tất cả những bảo vật của triều Nguyễn và cả những bộ y phục mà vua đã từng mặc trước đây. Để có thể duy trì cuộc sống, bà đã phải bán dần từng món đồ trang sức mà mình có. Phần lớn tài sản mà Từ Cung Thái hậu mang ra khỏi cung Diên Thọ bà dùng để phục vụ cho việc thờ cúng,[5]. bà cải đạo theo Đạo Cao Đài Tây Ninh được phong chức Gáo sư.

Lúc còn sống trong cung, Từ Cung Thái hậu đã ăn uống rất đơn giản, bà ăn chay 10 ngày mỗi tháng và hiếm khi dùng sơn hào hải vị. Sau khi nhà Nguyễn mất, càng về già, Từ Cung Thái hậu càng ăn uống đơn giản hơn bao giờ hết. Y phục bà mặc và những thứ đồ dùng của bà cũng hết sức giản dị.

Từ Cung Thái hậu là một người rất khó tính nhưng lại khoan dung, độ lượng.

Cả đời bà không có phước phận được gần con cháu. Khi Vua Bảo Đại còn nhỏ thì bà Tiên Cung Hoàng hậu nuôi. Đến lúc bà Tiên Cung mất, thì Vua Bảo Đại cũng đi học ở Pháp. Sau này khi Bảo Đại trở về (năm 1932), lấy vợ, sinh được các hoàng tử, công chúa, Từ Cung Thái hậu có một thời gian vui vẻ bên con cháu, nhưng từ sau năm 1945, bà hầu như sống một mình, cô đơn, lạnh lẽo. Khi Vua Bảo Đại, Hoàng hậu Nam Phương, bà Thứ phi Mộng Điệp cùng các hoàng nam, hoàng nữ đều sang Pháp sống, thì Từ Cung Thái hậu hoàn toàn không còn cơ hội gặp lại con cháu mình nữa. Bà sống như thế cho đến tận cuối đời, trong nỗi đau dằn vặt xa con, xa cháu.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]