T'aekkyŏn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Bản mẫu:Infobox martial art

Popular spelling
Hangul 택견
Romaja quốc ngữ Taekgyeon
McCune-Reischauer T'aekkyŏn

T'aekkyŏn là một môn võ thuật truyền thống Triều Tiên với nhiều động tác trong giống như những điệu múa. Những bức tranh tường trong các lăng mộ vương gia Cao Câu Ly ở Samsil cho thấy T'aekkyŏn xuất hiện ngay từ thời Tam Quốc Triều Tiên, được truyền bá từ Cao Câu Ly sang Tân La.[1][2] Tuy nhiên tác phẩm sớm nhất viết về T'aekkyŏn (mang tên Manmulmo hay Jaemulmo do Lee Sung-Ji viết) xuất hiện mãi đến tận năm 1790.[3] Thông thường, T'aekkyŏn được phiên âm La Tinh thành Taekkyon hay Taekyon.

Hưng thịnh và suy tàn[sửa | sửa mã nguồn]

Thật ra trước đây T'aekkyŏn chưa bao giờ được phổ biến trên toàn bán đảo Triều Tiên, nhưng nó rất thịnh hành tại khu vực xung quanh Hán Thành, kinh đô của vương quốc Triều Tiên. Vào thời cực thịnh của mình, thậm chí vua Triều Tiên đương thời cũng thường xuyên luyện tập T'aekkyŏn[4] và các trận tỉ thí T'aekkyŏn (Subak) rất phổ biến. Tuy nhiên, người kế ngôi vị vua ấy lại ra lệnh cấm tiệt các trận tỉ thí vì sự lan tràn của nạn cá độ liên quan đến các trận T'aekkyŏn - đã có trường hợp con bạc gán cả vợ con, nhà cửa của mình - điều này khiến cho T'aekkyŏn trở thành một môn võ thuật thuần túy. Sau đó Subak chia làm hai loại yusul và T'aekkyŏn[5], during the early Joseon Dynasty.

Tuy nhiên, sự thịnh hành của T'aekkyŏn suy giảm nghiêm trọng khi Tống nho phát triển mạnh tại Triều Tiên, và trong thời kỳ Nhật Bản đô hộ Triều Tiên thì môn võ này gần như bị mai một. Tuy nhiên, sau khi nền đô hộ của phát xít Nhật sụp đổ vào năm 1945, T'aekkyŏn được phục hưng trở lại. Thật vậy, khi người Nhật ra sức cấm đoán và tìm cách hủy diệt T'aekkyŏn, vị võ sư cuối cùng của T'aekkyŏn cổ truyền là Song Duk-Ki vẫn cố gắng duy trì việc tập tuyện đều đặn môn võ này và ông đã gieo những mầm mống đầu tiên cho sự phục hưng của T'aekkyŏn. Ông được công nhận là "di sản văn hóa sống" của Hàn Quốc theo Important Intangible Cultural Asset số 76 vào ngày 1 tháng 6 năm 1983. Song Duk-ki là võ sư Hàn Quốc duy nhất được công nhận danh hiệu này.

Các đòn thế võ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Nal-Chi-Gi
Những võ sinh đang biểu diễn taekkyeon trong lễ hội Hi! Seoul Festival ngày 28 tháng 4 năm 2007
Tae-Jil
Up-Eo-Chi-Gi

T'aekkyŏn bao gồm nhiều loại đòn thế khác nhau, từ đòn đấm, đòn đá cũng như khóa khớp, cụng đầu. Tuy nhiên hiện nay thì một số chi phái T'aekkyŏn không thật sự nhấn mạnh tất cả các loại đòn thế này. Các đòn chân của T'aekkyŏn rất phong khú và đa dạng, đặc biệt là các đòn low kick như ddanjuk và các động tác nhảy.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ From the Traditional Culture Heritage to A Sport Loved by the World, World Taekwondo Headquarters. Retried on 06-15-2009.
  2. ^ Taekkyeon, Korea Sparkling. Retrieved on 06-15-2009
  3. ^ (tiếng Triều Tiên)Lee Yong Bok 태견연구 ISBN: 8971930748 - 2001
  4. ^ 동사강목(Dongsa-gangmok, 18th century), "왕이 직접 수박희를 하였다, Nhà vua tự mình lập một giải đấu Subak
  5. ^ Robert W. Young The History & Development of Tae Kyeon - Journal of Asian Martial Arts 2:2 (1993)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]