T-90

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
T-90
T-90 tank during the Victory Day parade in 2009.jpg
Xe tăng T-90 của Nga đang diễu hành trong lễ mừng Ngày chiến thắng
Loại Xe tăng chiến đấu chủ lực
Nguồn gốc  Nga
Lược sử hoạt động
Quốc gia sử dụng Nga, Ấn Độ
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Phòng thiết kế Kartsev-Venediktov ở nhà máy Uralvagonzavod
Năm thiết kế 1993
Nhà sản xuất nhà máy Uralvagonzavod
Giá thành 35,226,000 rúp
2,230,000 USD (tháng 1, 2007)[2]
Giai đoạn sản xuất 1995 - nay
Số lượng chế tạo 1.335 (tính đến năm 2012)[1]
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 46,5 tấn
Chiều dài 9,53 mét (31,27 feet)
Chiều rộng 3,78 mét (9,12 feet)
Chiều cao 2,22 mét (7,28 feet)
Kíp chiến đấu 3

Bọc giáp Giáp hỗn hợp tuyệt mật, kết hợp giữa thép-vật liệu tổng hợp-giáp phản ứng nổ
Vũ khí chính Pháo 125 ly nòng trơn với khả năng bắn ATGM thường là loại 9M119 Svir:
Pháo 125 ly 2A46M đối với T-90/T-90S[4][5]
Pháo 125 ly 2A46M-5 đối với T-90A/T-90M[4][6]
Vũ khí phụ Đại liên đồng trục 7,62 ly
Đại liên phòng không 12,7 ly
Động cơ Sử dụng các loại động cơ Diesel 12 xilanh, như:
V-84[3], V-92[3], V-96[3]

840 mã lực (626 kW) đối với động cơ V-84[3]

950 mã lực (708 kW) đối với động cơ V-92[3]
1100 mã lực (820 kW) đối với động cơ V-96[3]

Công suất/trọng lượng 18,1 mã lực/tấn (13.5 kW/tấn) đối với động cơ Mẫu 84 V-84

20,4 mã lực/tấn (15.2 kW/tấn) đối với động cơ V-92
23,7 mã lực/tấn (17.6 kW/tấn) đối với động cơ V-96

Hệ thống treo bánh xích
Tầm hoạt động 550 cây số[4][4] (700 cây số nếu có thêm bình nhiên liệu phụ[7])
Tốc độ 60[4][4]-65 [2] cây số/giờ trên đường nhựa
35-45 cây số/giờ trên đường gồ ghề[4][4]

Xe tăng chiến tranh chủ lực T-90 là loại hiện đại nhất của quân đội Nga, được sản xuất với số lượng ít vào năm 1993 và chính thức phục vụ trong quân đội Nga năm 1995, dựa trên kiểu mẫu đầu tiên được gọi là T-88. Mặc dù theo quan sát của các nước phương Tây, T-90 là một mẫu xe tăng hoàn toàn mới, nhưng thật ra nó là bản nâng cấp của xe tăng T-72 và được trang bị một số thiết bị của T-80. Mặc dù chỉ là giải pháp tình thế, T-90 đã nhanh chóng trở thành mẫu tăng chủ lực của quân đội Nga và được nhiều nước trên thế giới ưa chuộng[8]. T-90 được gắn hệ thống phòng thủ chủ động quang điện gây nhiễu Shtora-1 để chống lại các tên lửa dẫn đường bằng laser, hồng ngoại cũng như gây rối các hệ thống hiển thị mục tiêu. Hệ thống chống mìn bằng xung điện EMT-7 cũng được thử nghiệm trên T-90 nhưng nó chưa được gắn đại trà vào các T-90 đang hoạt động.

Tuy nhiên ngoài việc chỉ dùng cho xuất khẩu thì bộ quốc phòng Nga không quan tâm lắm đến loại T-90 này bởi họ đang có chương trình phát triển xe tăng Armata (T-99) hoàn toàn mới với các tính năng dựa nhiều trên mẫu thử nghiệm T-95 cùng hệ thống kéo đa chức năng có thể lắp ráp tùy theo yêu cầu sử dụng. Còn các chiếc T-72 hiện có thì được dùng để nâng cấp lên chuẩn T-90 để tiết kiệm chi phí thay vì phải mua mới.

Thông tin chung[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tăng chủ lực T-90 trang bị pháo nòng trơn 125mm với sự tăng cường độ chính xác, hệ thống cân bằng pháo – tăng hai chiều dọc – ngang, đồng trục với pháo là súng máy 7,62mm (PKT hoặc PKTM) và súng phòng không 12,7mm (NSVT-12,7 hoặc KORD). Trên T-90 lắp tổ hợp điều khiển hỏa lực tự động với máy tính toán đường đạn kỹ thuật số và kính ngăm hồng ngoại hoạt động trong điều kiện ngày/đêm, thiết bị nạp đạn tự động (AZ) đảm bảo hiệu quả chiến đấu cao của các loại vũ khí trong xe. Thiết bị súng máy phòng không (ZPU) với thiết bị ngắm và dẫn bắn từ xa cho phép bắn mục tiêu trên không và trên mặt đất từ trong buồng chiến đấu của xe tăng. T-90 trang bị tổ hợp chế áp quang điện (KOEP) TShU-1 "Shtora-1" làm giảm sác xuất bị bắn cháy bởi các tên lửa chống tăng có điều khiển (PTUR) của đối phương bằng cách tạo ra các dải nhiễu có điều khiển và các thiết bị chống tăng (PTS) với sự chỉ thị mục tiêu và đo xa bằng tia laze. Trên T-90 hệ thống phòng thủ tập thể (SKZ) khỏi tác động của vũ khí hủy diệt hàng loạt (OMP), hệ thống chữa cháy một cách nhanh chóng (PPO) trên cơ sở bộ cảm biến quang học với đám cháy, trang bị dành cho việc tự ủi, trang bị cho việc vượt chướng ngại vật nước (vượt vũng, sông) theo đáy (OPVT). Trong xe tăng đã thực hiện được lời giải về cấu trúc nhằm giảm hiệu quả của các thiết bị phát hiện và dẫn bắn theo tia hồng ngoại và đảm bảo sự bảo vệ cho xe tăng khỏi ảnh hưởng khỏi sự cháy của các hỗn hợp "napal". Xe tăng có khả năng trang bị thiết bị quét mìn dạng lưỡi dao KM7-6M2 hoặc bánh quét mìn dạng lưỡi dao KMT-7 hoặc thiết bị quét mìn KMT-8 với đầu nối điện từ.

Lịch sử ra đời và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

T-72 và T-80 là hai loại xe tăng nổi tiếng của thế giới và là niềm tự hào của bộ đội tăng thiết giáp Xô Viết. Nhưng kể từ cuối thập niên 80 trở đi, chúng bắt đầu có dấu hiệu lạc hậu và đến thập niên 1990 và 2000, những dấu hiệu lạc hậu đó đã trở nên rõ ràng hơn, thậm chí nhiều ý kiến cho rằng Nga đang trải qua "khủng hoảng xe tăng"[9]. Yêu cầu phát triển những mẫu tăng thế hệ mới hơn là cần thiết. Một vấn đề nữa là, trong hoàn cảnh nền kinh tế khủng hoảng sau khi Liên Xô tan rã, Nga không thể cùng một lúc sản xuất 2 loại tăng T-72 và T-80 với năng suất như trước[10] mà chỉ chế tạo cầm chừng với số lượng nhỏ (Omsk Transmask chế tạo 5 chiếc T-80U, Niznyl Tagil chế tạo 15 chiếc T-72, chưa kể một số chiếc khác được chế tạo với mục đích xuất khẩu).[10]

Giới quân sự Nga đã thực hiện một cuộc lựa chọn khó khăn: mẫu tăng mới sẽ dựa trên dòng "số lượng" T-72 hay dòng "chất lượng" T-80 ? Thế rồi cuộc chiến tranh Chesnia đã cho lời giải đáp: các mẫu T-80BV thế hiện cực kỳ kém cỏi trong cuộc chiến[11]. Mặc dù tổn thất của quân Nga phần nhiều là do chiến thuật, do T-80BV không được trang bị đúng mức, và T-72 cũng chịu nhiều tổn thất trong cuộc chiến, nhưng T-80 thể hiện tệ hơn những gì mà giới quân sự Nga dự đoán. Các vấn đề lớn của T-80 vẫn còn đó: chi phí quá cao và động cơ quá ngốn nhiên liệu. Cuối cùng, mẫu T-72 được lấy làm nền tảng nâng cấp nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí. Tuy nhiên nhiều chi tiết kỹ thuật của các mẫu T-80 tân tiến vẫn được áp dụng cho mẫu tăng mới này.

Chiếc xe tăng này mang tên là T-90, nó cũng là loại tăng hiện đại nhất trong kho vũ khí quân đội Nga, được sản xuất với số lượng nhỏ vào năm 1993 và chính thức phục vụ trong quân đội Nga năm 1995, dựa trên kiểu mẫu đầu tiên được gọi là Obyekt 188 do nhóm thiết kế của Vladimir Ivanovich Potkin nghiên cứu từ năm 1989. Chi tiết hơn, Obyekt 188 là một bản nâng cấp của mẫu tăng thử nghiệm Obyekt 187, đáng tiếc là chiếc 187 không được đưa vào sản xuất đại trà do nên kinh tế của Nga bị khủng hoảng sau khi Liên Xô sụp đổ. Chiếc T-90 được phát triển bởi Phòng thiết kế Kartsev-Venediktov tại Xưởng Vagonka ở Nizhniy Tagil. Ban đầu nó tên là T-72BU, tức đơn thuần là một bản năng cấp của T-72BM, tuy nhiên sau khi chứng kiến cảnh T-72 bị đập tơi tả trong chiến tranh Iraq 1991 và chiến tranh Chechnya 1992, nó được sửa thành T-90 để không bị ảnh hưởng bởi "tiếng xấu" trên thị trường. Hệ thống điều khiển bắn tân tiến và phức tạp hơn của T-80 cũng được trang bị cho T-90 vì cùng lý do này.

T-90 là một giải pháp tạm thời, trong giai đoạn chờ sự xuất hiện của những chiếc xe tăng tân tiến sản xuất tại Nizhny TagilOmsk Transmask vốn bị trì hoãn bởi sự thiếu hụt kinh phí. Lúc đầu được chế tạo nhờ chủ yếu ở giá thành thấp hơn, T-90 có thể vẫn sẽ được sản xuất với số lượng nhỏ giữ dây chuyền sản xuất tiếp tục hoạt động cho tới khi các mẫu thiết kế khác hoàn thành. Có thể nói T-90 được xem là một bước đệm giữa hai thế hệ xe tăng của Nga.

Mặc dù vậy, T-90 thật sự lại tỏ ra hiệu quả, ít ra là trong con mắt của giới quân sự Nga hiện giờ, đặc biệt khi đối thủ cạnh tranh trực tiếp của nó là T-80 thể hiện quá yếu kém trong cuộc chiến tranh Chechnya nặm 1992. Tháng 1/1996, lãnh đạo Ban Giám đốc lực lượng Tăng thiết giáp trực thuộc Bộ Quốc phòng, tướng Alexandre Galkin cho biết T-90 đã được lựa chọn là nòng cốt của lực lượng Tăng thiết giáp Nga. Nhiều kế hoạch được đặt ra nhằm thay thế các mẫu xe tăng cũ bằng những chiếc T-90 tại Quân khu quân sự Viễn Đông. Đến giữa năm 1996 đã có 107 chiếc T-90 được điều tới nơi này[12][13]. Trong Cuộc tấn công của Nga vào Chechnya năm 1999, T-90 được sử dụng trên chiến trường lần đầu tiên và theo tạp chí, một chiếc trong số đó đã "ăn" vài quả tên lửa chống tăng RPG nhưng vẫn tiếp tục sống sót. Tạp chí này kết luận rằng T-90A tỏ ra là loại xe tăng được bảo vệ tốt nhất của Nga, đặc biệt là nếu như chúng được trang bị hệ thống phòng thủ chủ động Shtora và Arena.[14]

Năm 2007, Bộ Quốc phòng Nga tiếp tục chuyển giao 60 chiếc T-90A cho quân đội[15]. Và, hai biến thể xuất khẩu của nó T-90S và T-90E, cũng được đánh giá là rất hứa hẹn. Vì vậy, mặc dù T-95 sẽ được trang bị cho quân đội Nga vào năm 2009, T-90 vẫn được xem như là "xương sống" của bộ đội tăng thiết giáp Nga cho đến tận năm 2025. Theo kế hoạch của công ty xuất khẩu vũ khí độc quyền Rosoboronexport của Nga, trong giai đoạn 2020 – 2025 T-90 sẽ là vũ khí chính của quân đội Nga. Đến năm 2020, T-90 sẽ chiếm 50% trong tổng số tăng của Nga; phần còn lại sẽ là các dòng tăng như T-72, T-80 hoặc loại tăng T-95 hiện đại mà Nga sắp đưa vào sử dụng năm 2009-2010[8].

Vào năm 2006, có khoảng 1200 chiếc phục vụ trong Quân đoàn xe tăng cận vệ số 5 của Lục quân Nga đóng ở Quân khu Siberia và 7 chiếc phục vụ trong Hải quân Nga[16]. Khoảng 120 chiếc mới được đưa vào hoạt động vào năm 2007 và 300 vào năm 2008[16]. Tuy nhiên do vấn đề kinh phí, các mẫu T-80 và T-72 cải tiến, như T-80U và T-72BM vẫn tiếp tục được sử dụng song song với T-90 trong vòng vài năm tới dù chúng không còn được nâng cấp nữa.[17][18].

Thông tin kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Có cảm hứng từ T-72, chiếc GPO Uralvagonzavod T-90 là loại tăng hiện đại nhất hiện nay trong quân đội Nga. Về hình dáng quy ước bên ngoài, T-90 có thể hiện sự nâng cấp ở mọi hệ thống, gồm cả súng chính. Lớp bảo vệ thân và tháp pháo cũng hoàn toàn là thế hệ mới. Có thể nói T-90 là một nỗ lực lớn nhằm cải thiện các tính năng của dòng T-72 sao cho vượt tầm của T-80, tuy nhiên về tính cơ động cho đến nay dòng T-80 vẫn hơn.

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Một phiên bản của pháo nòng trơn 125 ly 2A46 trưng bày tại bảo tàng nhà máy xe tăng Motovilikha. Đây là loại súng chính dùng trên các xe tăng T-64, T-72, T-80 và T-90 của Nga và Liên Xô.

T-90 vẫn giữ pháo chính nòng trơn loại 125 ly 2A46, bản nâng cấp của kiếu pháo chống tăng Sprut đã từng xuất hiện trên các mẫu T-72 và T-80. Loại pháo này có một đặc điểm tiện lợi là có thể dễ dàng tháo nó ra khỏi xe tăng mà không cần phải gỡ toàn bộ tháp pháo kèm theo. Pháo chính có thể bắn đạn xuyên giáp APFSDS, phóng đạn nổ HEAT và đạn ghém HE-FRAG cũng như bom phóng hẹn giờ và tên lửa chống tăng ATGM loại 9M119 Refleks (còn đước biết tới với cái tên AT-11 Sniper cho NATO đặt). Refleks 9M119 là tên lửa có hệ thống dẫn đường bán tự động bằng laser với một đầu nổ lõm (hollow-charge) có khả năng chống lại cả các mục tiêu có vỏ thép bảo vệ dày tới 950 ly và các loại máy bay trực thăng tầm thấp.[10] Tên lửa, có thể lọt vào 700-mm RHAe cho tới 4000 mét, tạo cho T-90 khả năng tấn công và tiêu diệt các loại xe cơ giới khác và máy bay trực thăng trước khi những thứ này kịp tấn công với T-90. Tên lửa có tầm bắn hiệu quả vào khoảng 100m tới 5-6 cây số và có thể di chuyển tới vị trí xa nhất trong vòng 17,5 giây (trong khi đó hiệu quả của các loại pháo tăng thông thường đã bắt đầu sụt giảm ở khoảng cách 2500m[19][20]). Chính vì vậy T-90 có tên gọi là tăng hỏa tiễn chứ không phải tăng pháo như thông thường[8]. Trong tương lai, theo thông báo tại Russian Expo Arms-2008 của ông Sergei Maev, lãnh đạo Rosoboronexport, T-90 sẽ còn được trang bị hỏa lực mạnh hơn với loại tên lửa có tầm bắn đạt 6-7 cây số[8].

Giống như T-64, T-72 và T-80, hệ thống nạp đạn trên T-90 là tự động, thời gian nạp đạn là 4 đến 5 giây cho 1 viên. Ổ quay của hệ thống nạp đạn tự động có thể chứa tối đa 22 viên.[10] Có ý kiến cho rằng hệ thống nạp đạn này đã được cải tiến nhằm phù hợp với các loại đạn mới, thí dụ đạn APFSDS kiểu 3BM-44M. Ngoài ra, hệ thống kích nổ Ainet cũng được lắp đặt trên T-90, để cho kích nổ loại đạn ghém HE-FRAG sau khi nó đi được môt đoạn đường nhất định, quãng đường này quyết định bởi hệ thống đo khoảng cách bằng laser do pháo thủ sử dụng. Hệ thống này giúp làm tăng khả năng chống bộ binh và chống trực thăng của T-90.[21]

Hệ thống kiểm soát bắn bằng máy vi tính và máy quét laser cùng ống ngắm nhiệt Agave của pháo thủ cho phép T-90 chiến đấu với các mục tiêu di động và chiến đấu vào buổi đêm. Hệ thống này bao gồm thiết bị nhìn đêm và ngày PNK-4S/SR AGAT ở khoang của xa trưởng, có khả năng phát hiện ra các mục tiêu có kích cỡ xe tăng trong tầm khoảng từ 700 đến 1100 mét. Các mẫu đầu tiên của T-90 được trang bị hệ thống nhìn TO1-KO1 BURAN nhưng các mẫu về sau (ví dụ T-90S) dùng hệ thống nhìn hồng ngoại ESSA, với camera hồng ngoại CATHERINE-FC sản xuất bởi Thales Optronique, cho phép bắn chính xác mục tiêu trong khoảng 5000-8000m. Vào tháng 8 năm 2007 khoảng 100 camera loại này đã được nhập từ Pháp vào Nga[22] và đến năm 2010 Nga đã mua bản quyền hệ thống Catherine-FC để trang bị cho dòng xe tăng T-90M[23]. T-90 cũng được trang bị hệ thống nhìn ngày 1G46 dành cho pháo thủ, bao gồm một thiết bị đo khoảng cách bằng laser, một kênh dẫn hướng cho tên lửa. Hệ thống cũng có khả năng phát hiện các mục tiêu có kích cỡ xe tăng trong tầm 5-8 cây số. Lái xe sử dụng thiết bị nhìn ngày và đêm TVN-5[10]. Tuy nhiên hệ thống ở thế hệ đầu tiên này có lẽ không có khả năng tương đương với các hệ thống của các đối thủ phương Tây. Chiếc xe tăng cũng được lắp những thiết bị đặt mìn chính xác.

Trang bị vũ khí thứ hai gồm một đại liên đồng trục 7,62 ly PKT và một đại liên NSV 12,7 ly để đối phó với các mục tiêu trên không và trên bộ (vào cuối thập niên 1990 NSV được thay thế bằng đại liên Kord). Đại liên phòng không được điều khiển từ xa vì vậy có thể được xạ thủ ngắm bắn khi đang ngồi phía trong xe tăng và có tốc độ bắn 650-750 viên/phút, tầm bắn 2 cây số. Trên xe tăng có trang bị chừng 300 viên đạn cho đại liên phòng không. Đại liên đồng trục có khối lượng 10,5 kg, còn số đạn dược của nó nặng chừng 9,5 kg. Ngoài ra T-90 còn được trang bị súng ngắn và 10 quả lựu đạn F-1 đặt ở phía trong khoang xe[8].[10]

Phiên bản T-90MS được tích hợp hệ thống ngắm bắn mới có khả năng "khóa" và tự động theo dõi mục tiêu, giúp các pháo thủ không cần phải liên tục bám theo mục tiêu khi xe tăng đang chuyển động.[24] Thiết bị nhìn đêm bằng hồng ngoại ở T-90MS cũng cung cấp những hình ảnh sắc nét hơn trong tầm 3-4 cây số và có khả năng phân biệt được nhiệt độ của người thường với nhiệt độ của xe tăng.[25] T-90MS cũng sử dụng pháo chính 2A46M-5 bắn xa hơn và chính xác hơn bản đời cũ 2A46M, cùng với hệ thống điều khiển từ xa T05BV-1 dùng cho đại liên phòng không 12,7 ly trên tháp pháo.[26]

Giáp trụ và các thiết bị bảo vệ[sửa | sửa mã nguồn]

Tháp pháo của T-90 với giáp phản ứng nổ thế hệ thứ 3 Kontakt-5.

T-90 có hình chiếu thấp giống như những tăng thời kỳ đầu của Nga, với một tháp pháo tròn thấp nằm chính giữa thân, nó được trang bị cả hệ thống bảo vệ chủ động và bị động biến T-90 thành chiếc tăng chiến đấu được bảo vệ tốt nhất trên thế giới. Lớp vỏ nghiêng được bao phủ bởi một lớp áo giáp bằng những viên gạch chất nổ (ERA) Kontakt-5 thế hệ hai, giống như phần tháp pháo. Lớp ERA này làm cho tháp pháo có mặt ngoài được tạo góc, với các viên gạch ERA tạo thành một bề ngoài "con trai bắt đạn" (clam shell). Các viên gạch ERA ở mái tháp pháo bảo vệ nó khỏi các vũ khí tấn công từ trên cao.

So với T-72, dạng hình vỏ giáp bảo vệ của T-90 không có nhiều thay đổi lớn nhưng nó chất liệu vỏ giáp mới hơn vị vậy khả năng bảo vệ cũng cao hơn. Vỏ giáp T-90 là giáp thế hệ thứ ba, làm bằng chất liệu tổng hợp gồm nhiều lớp kim loại và gốm, được đánh giá là một tuyệt tác của các chuyên gia quân sự Nga. Vào năm 1999, một đợt kiểm tra về vỏ giáp của T-90 đã được tiến hành với các loại đạn được thử là RPG, tên lửa chống tăng ATGM và đạn APFSDS. Theo báo cáo, ATGM và APFSDS không thể phá hủy được chiếc T-90 được trang bị thêm gạch ERA Kontakt-5. Và giáp trụ của chiếc tăng này hoàn toàn ưu việt hơn một chiếc tăng T-80U tham gia cùng buổi kiểm tra hôm đó[27]. Nhìn chung giáp trụ của T-90 hoàn toàn có thể chịu được các loại đạn pháo nòng 120 ly thường thấy trên các xe tăng hiện đại phương Tây như M1 Abrams hay Leopard 2, hoặc các loại đạn pháo bắn từ trên xuống nhằm vào phần nóc xe[8]. Sức mạnh thật sự của lớp vỏ giáp T-90 vẫn còn trong vòng bí mật, nhưng theo ước tính của một số nguồn thông tin thì vỏ giáp trước của T-90 (nơi có độ dày và chất lượng giáp tốt nhất) có độ bền tương đương 550 ly thép cán (khi chống chọi vối đạn APFSDS) hay 650 ly (đạn HEAT). Khi được trang bị giáp phản ứng nổ thì thông số này tăng lên 800-830 ly (APFSDS) và 1150-1350 ly (HEAT).[28] Những khu vực khác của xe tăng như nóc tháp pháo, hai bên xe,... thì vỏ giáp mỏng hơn và khả năng bảo vệ nhìn chung yếu hơn.

T-90 là xe tăng đầu tiên được trang bị hệ thống đo ngăn chặn quang điện tử học TShU-1-7 Shtora-1 (tiếng Nga: Штора-1, có nghĩa là "Bức màn chắn") sản xuất bởi Elektromashina. Shtora được thiết kể để phá hoại sự chỉ định mục tiêu bằng laser và thiết bị đo xa của tên lửa ATGM đang bay đến. Shtora-1 là một thiết bị gây nhiễu âm điện quang (electro-optical), khi hoạt động nó sẽ làm nhiễu quá trình điều khiển đường ngắm bán tự động (semiautomatic command to line of sight -SACLOS) của hệ thống định hướng của tên lửa chống tăng có điều khiển, làm nhiễu máy dò laser và máy chỉ thị mục tiêu của kẻ địch. Có thể nói Shtora-1 là một hệ thống tiêu diệt mềm hay hệ thống trả đũa. Nó hiệu quả nhất khi được sử dụng cùng với một hệ thống tiêu diệt cứng như Arena. Trong Triển lãm quốc phòng quốc tế (IDEX) được tổ chức tại Abu Dhabi năm 1995, hệ thống này lắp đặt vào một xe tăng trưng bày của Nga.[10]

Hệ thống Shtora-1 bao gồm bốn thành phần chủ yếu, trạm giao diện điện quang, gồm một đài làm nhiễu âm, một thiết bị điều biến, và thanh điều khiển; một bảng làm nổ lựu đạn phun màn sương ở mỗi bên tháp pháo; một hệ thống cảnh báo laser với các đầu chính xác và thô (with precision and coarse heads); một hệ thống kiểm soát gồm thanh kiểm soát, thiết bị vi xử lý và thanh điều khiển bằng tay. Thiết bị này xử lý thông tin từ các cảm biến và kích hoạt hệ thống phun màn sương. Hai đèn hồng ngoại, mỗi cái ở một bên của súng chính, sẽ liên tục tục phát ra xung hồng ngoại theo quy tắc để làm nhiễu khi phát hiện có ATGM đang bay tới. Shtora-1 có trường quan sát tới 360 độ theo chiều ngang và từ -5 đến +25 độ theo chiều dọc. Nó có mười hai máy phóng màn sương cân nặng 400 kg, màn sương sẽ lập tức được phun ra khi Shtora phát hiện ra rằng xe tăng đã bị "điểm mặt" bởi các thiết bị ngắm lade. Màn sương chỉ chưa cần tới 3 giây đã có thể hình thành và kéo dài khoảng 20 giây. Phạm vi triển khai của màn sương từ 50—70 mét. Màn sương này sẽ gây nhiễu các thiết bị chỉ định bằng laser cũng như thiết bị ngắm quang học.[10]

Ngoài T-90, Shtora-1 hiện còn được lắp đặt trên T-80UK, T-80U, T-84 của Ukraina. Tuy nhiên T-90 "Bhisma" của Ấn Độ lại không được trang bị Shtora.[10]

Bên cạnh các hệ thống bảo vệ thụ động và chủ động, T-90 cũng được lắp hệ thống bảo vệ sinh-hóa-phóng xạ (NBC) và thiết bị quét mìn KMT.

Trong tương lai, T-90 có thể được trang bị hệ thống thông tin thế hệ mới nhất và cơ cấu điều khiển được tự động hóa hoàn toàn để tiến tới điều khiển xe tăng từ xa[8].

Tính an toàn[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như các loại xe tăng khác của Liên Xô trước đây, khả năng sống còn của binh sĩ trong các điều kiện trên chiến trường không phải là điểm mạnh của Т-90. Điều này trước hết là do bố cục cực kỳ phức tạp của bộ phận động cơ-truyền động, nên chỗ dành cho các khoang nhiên liệu trong đó đã không còn, chúng phải chuyển phần nào sang buồng tác chiến và một phần vào phần trước của khối này - nơi xác suất bị trúng đạn của đối phương là cao hơn đáng kể. Hơn nữa, trong khi khoang nhiên liệu với các xe tăng của Hoa Kỳ và phương Tây được bố trí trong bộ phận động cơ-truyền động và cách ly với tổ lái, các thùng nhiên liệu của T-90 thì không. Dù vậy, so sánh với các sơ đồ bố trí tương tự, độ bảo vệ của các thùng nhiên liệu trên tăng Т-90 cao hơn khi bị xạ kích từ hướng hai bên hông nhờ các tấm chắn bổ sung bên hông và bảo vệ động lực ở hông của bộ phận điều khiển; tuy rằng vấn đề mức độ nguy hiểm cho tổ lái trong trường hợp bị bắn trúng khoang nhiên liệu vẫn không giảm xuống.

Vấn đề khác của Т-90 là sự bố trí khối đạn dược của nó, cũng nằm trong bộ phận tác chiến và cũng không được cách ly với tổ lái, như thế sự kích nổ nó chắc chắn sẽ dẫn tới việc xe tăng T-90 bị tiêu diệt hoàn toàn[29]. Trên Т-90А vấn đề này đã được giải quyết phần nào nhờ vào các tấm che chắn bổ sung của hệ thống nạp đạn tự động và cách sắp xếp đạn dược bên ngoài nó, tuy nhiên vấn đề về độ an toàn cho tổ lái trong trường hợp sự kích nổ xảy ra vẫn chưa được giải quyết rốt ráo. Tuy vậy, độ hiệu quả của các biện pháp bảo vệ tổ lái được áp dụng trên các xe tăng phương Tây — đưa khối đạn dược vào khoang riêng (theo thông lệ vào phía sau tháp pháo) và được trang bị các tấm giảm nổ cũng bị nghi vấn. Chẳng hạn, các xe tăng M1 Abrams được bảo vệ theo kiểu này trong quá trình chiến đấu cũng đã bị tiêu diệt do sự kích nổ của khối đạn dược — mặc cho sự thoát hơi của các tấm giảm nổ, vụ nổ đủ để tiêu diệt xe tăng[30], mặc dù theo khẳng định của Hoa Kỳ, sơ đồ bố trí này đã thể hiện được độ tin cậy của mình[31]. Đồng thời, theo ý kiến của một số tác giả, sự phân bố của khối đạn dược của T-72 và T-90 theo chiều nằm ngang trên sàn của khối tác chiến và trong khu vực ít bị bị bắn trúng hơn, và trong chiến trận trên thực tế xác suất khoang đạn của T-90 bị kích nổ thấp hơn nhiều khi so sánh với các một mẫu xe tăng của Liên Xô là T-80, trong đó khối đạn dược cũng được bố trí trên sàn của khối tác chiến nhưng theo chiều đứng[32]. Theo một số ý kiến khác thì sự co gọn dung tích của hệ thống nạp đạn tự động khi so với nạp đạn cơ học đã làm tăng số lượng khối đạn dược không cơ giới hóa, được phân bố cao hơn hệ thống nạp đạn tự động và trong một loạt các trường hợp cao hơn tháp pháo, nhanh chóng nâng cao tính dễ bị tổn thương của khối đạn dược[cần dẫn nguồn].

Trên các xe tăng phương Tây giải pháp tiêu chuẩn là sắp xếp khối đạn dược ở phía đuôi phía dưới tháp, cũng dễ bị xạ kích, nhưng cho phép thực hiện các tấm giảm nổ (giải pháp được sao chép trên các xe tăng hậu Xô viết Obyekt 291Obyekt 640). Tuy nhiên, khối đạn dược trong phiên bản T-90MS mới nhất đã được bố trí lại: ngoài 22 viên đạn chính nằm sẵn trong hệ thống tự động nạp đạn, số đạn dự trữ còn lại được đặt trong hộp đạn phụ chứa được 20 viên đạn nằm ngoài xe, đặt phía sau tháp pháo nhằm giảm khả năng bị kích nổ, và có thiết kế sao cho khi bị xạ kích thì sức nổ của khối đạn dược không ảnh hưởng quá nhiều đến thân xe và tháp pháo. Có điều, việc lấy đạn từ từ hộp đạn phụ phải được làm thủ công tại các điểm dừng chân trên chiến trường.[33][34]

T-90 đang lội nước trong một cuộc thử nghiệm tại Nga.

Tính cơ động[sửa | sửa mã nguồn]

Động cơ T-90.

T-90 có động cơ diesel đa nhiên liệu V-84MS 840 mã lực (618 kW) bốn thì V-12 piston, có thể chạy bằng nhiên liệu T-2, TS-1 kerosene và A-72 benzine. Động cơ này cho tỷ lệ sức mạnh trên trọng lượng chỉ đạt 18,06 mã lực/tấn, kém đáng kể so với loại T-80U và T-84 (xấp xỉ 26 mã lực/tấn). Về sau, T-90 và các mẫu T-72 mới được trang bị các động cơ mạnh hơn như V-92 950 mã lực và V-96 1100 mã lực, cuối cùng nâng tỷ lệ này lên 20,4 mã lực/tấn và 23,7 mã lực/tấn, mặc dù vẫn còn kém so với T-84. Tuy nhiên, do khối lượng thấp (47 tấn so với 61 tấn của M1 Abrams và 48 tấn của T-84), xe tăng T-90 vẫn đạt được tốc độ đáng kể, có thể ngang ngửa với "xe tăng bay" T-80 và T-84. Đồng thời trục lăn của T-90 rộng hơn T-72B nên nó chịu tải lớn hơn, và vòng sắt của T-90 có thể là loại xích hỗn hợp sắt-cao su hoặc xích sắt có khớp nối đều được[8]. Kíp lái còn có thể chuẩn bị thiết bị lội nước trong 20 phút với chướng ngại nước sâu 5 mét.

Phiên bản mới nhất T-90MS có động cơ diesel với công suất 1.130 mã lực với hộp số tự động gồm 7 số tiến và 1 số lùi. Tốc độ tối đa của T-90MS được nâng lên 72 cây số/giờ (trên đường nhựa) với tầm hoạt động 550 cây số. T-90MS cũng sử dụng hệ thống treo và hệ thống truyền động được cải tiến với 6 cặp bánh xích có vành cao su cùng với một bánh răng truyền động ở sau cùng, bánh xe dẫn hướng ở trước và 3 bánh đỡ xích. Nửa trên của hệ thống bánh xe được bảo vệ bởi giáp phản ứng nổ.[34] Ngoài ra T-90MS cũng được trang bị một động cơ phụ, hoạt động khi động cơ chính được tắt nhằm giảm thiểu việc hao phí nhiên liệu, giảm lượng nhiệt phát ra để tránh bị "bắt" bởi các thiết bị nhìn hồng ngoại[35]. Giống như các mẫu T-90 cũ, T-90 MS có thể lội sâu 5 mét khi lắp đặt hệ thống lội nước, việc lắp đặt mất 20 phút. Xe cũng có một thiết bị dạng lưỡi dao nhằm "neo" chiếc xe tại chỗ.[36]

Đánh giá chung[sửa | sửa mã nguồn]

Trước hết, cần phải lưu ý đến ý kiến của một số tác giả cho rằng những so sánh về lý thuyết của các loại xe tăng không phản ánh đầy đủ sự thành công của các xe tăng ấy nếu được ném ra chiến trường; thành bại của một trận đánh còn phải tính đến sự luyện tập của binh sĩ, chiến thuật của các chỉ huy quân sự, công tác bảo trì các trang thiết bị và sự tương tác, hiệp đồng giữa các quân binh chủng (nhất là công tác phòng ngự chống lại các máy bay cường kích và các trực thăng mang tên lửa chống tăng), tất cả những điều này quan trọng hơn rất nhiều so với những thống số kỹ thuật của chính cái xe tăng đó.

T-90A có nhiều đặc điểm ưu việt về hỏa lực, độ cơ động và độ tin cậy. Cho tới hiện nay đã có nhiều bài viết so sánh giữa T-90 và xe tăng của các nước khác, và các đánh giá này thường là trái chiều nhau. Một mặt, một số ý kiến cho rằng các mẫu T-90 A, S, M và các phiên bản nâng cấp khác đủ mạnh để vượt qua các xe tăng hiện đại nhất của các nước khác.[37][38]. Mặt khác, một số ý kiến cho rằng T-90 đã lạc hậu và kém cỏi so với các phiên bản tối tân nhất và mạnh nhất của xe tăng các nước khác.[39][40].

Một trong những đặc điểm nổi bật của T-90 so với các xe tăng hiện đại khác là hệ thống nạp đạn tự động. Việc tích hợp hệ thống này giúp cho kíp lái giảm xuống từ 4 còn 3 người (bớt đi binh sĩ nạp đạn), значительно снизить забронированный объём при сохранении хорошей защищенности, và tăng tốc độ bắn (so với nạp đạn bằng tay). Đồng thời xe tăng cũng có kích thước và khối lượng nhỏ gọn, đảm bảo tính cơ động chiến lược cao cũng như ít bị phát hiện trên chiến trường.

Một đặc điểm quan trọng của T-90 đó chính là sự thành công về mặt thương mại của T-90S[41] - aтак как заказчики перед выбором боевых машин, как правило, проводят независимые многосторонние и тщательные их испытания. Tuy nhiên cũng cần phải tính đến việc chọn lựa đối tác mua hàng có thể có lý do về chính trị thay vì về chất lượng của sản phẩm.

Các biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

Có ít nhất ba biến thể khác nhau của T-90. Người Nga xác nhận sự tồn tại của một mẫu dành cho xuất khẩu vào tháng Sáu 1996 với các trang bị và động cơ đã bị biến đổi, và người Nga cũng đã chuẩn bị sản xuất hai kiểu T-90S (hay "C" một số khi dùng khi không dịch tiếng Kirin) và biến thể xe chỉ huy T-90SK. Xe chỉ huy T-90K khác về thiết bị radio và thiết bị lội nước và một hệ thống nổ từ xa Ainet để chống lại đạn HEF. Cũng có một số tham khảo về một kiểu T-90E, nhưng vẫn chưa được chứng minh.

Các phiên bản xuất khẩu cho Ấn Độ: T-90 Bhisma và T-90MS[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tăng T-90 Bhisma của Ấn Độ, sản xuất dựa trên T-90S của Nga
T-90 Bhishma của Ấn Độ đang biểu diễn trên thao trường

Hợp đồng bán các loại xe tăng T-80UDT-84 của Ukraina cho Pakistan đã khiến cho Ấn Độ, đối thủ truyền kiếp của Pakistan lo lắng vì các loại tăng Ấn Độ lúc đó như Ajeya MK (một phiên bản của T-72 sản xuất tại Ấn Độ) đang có dấu hiệu lạc hậu (nhất là sau những thông tin về việc T-72 thể hiện rất kém trước các mẫu tăng hiện đại[42]). Rõ ràng, Ấn Độ nhận thấy họ đang cần một loại xe tăng mới nhằm tạo một đối trọng với T-80UD và T-84. Những thất bại và trì hoãn trong việc phát triển mẫu tăng nội địa Arjun càng khiến ưu thế về tăng thiết giáp và quân sự của Ấn Độ bị xói mòn so với đối thủ Pakistan.[42] Cuối cùng, T-90 xuất hiện như một lựa chọn phù hợp với tình hình Ấn Độ lúc đó.

Năm 2001 Ấn Độ đã đặt mua 310 xe tăng T-90S của Nga, trong đó có 120 chiếc đã hoàn thành, 100 chiếc đã lắp đặt xong các thiết bị cơ bản, còn 90 chiếc mới hoàn tất một nửa. T-90 được chọn vì nó là bản nâng cấp của mẫu T-72 mà Ấn Độ sử dụng thành thục, đồng thời sức mạnh của nó cũng có thể cạnh tranh ngang ngửa với T-80UDT-84 của Pakistan. Giá trị của hợp đồng lên tới 795 triệu USD[42], bao gồm cả chi phí chuyển nhượng công nghệ và các hệ thống vũ khí của T-90. Ngày 26/10/2006, một hợp đồng 330 chiếc T-90S trị giá 800 triệu USD cũng được ký kết[43] Tổng cộng, Ấn Độ đang muốn sở hữu hơn 1500 xe tăng T-90S cho đến năm 2020[44]. Một nguồn tin khác nói cụ thể hơn là T-90 sẽ là thành phần nòng cốt của lực lượng Tăng thiết giáp Ấn Độ, với số lượng là 1657 chiếc[42].

Đồng thời, vào năm 2006-2007, Ấn Độ cũng đã tiến hành sản xuất mẫu T-90 "Bhisma" nội địa với sự giúp đỡ của các chuyên gia Pháp và Nga. Tuy nhiên trong quá trình phát triển và sản xuất, một số trục trặc cũng phát sinh, thí dụ như thiết bị nhìn hồng ngoại của Pháp không thích hợp với một quốc gia có khí hậu nóng như Ấn Độ[45]. Dù sao, năm 2006 nhà máy quân sự Ordance đã nhận giải thưởng trị giá 2,5 tỉ USD của chính phủ vì thành tích đã sản xuất hơn 1000 xe tăng Bhisma. Cần chú ý là các mẫu T-90 Ấn Độ sản xuất không có hệ thống Shtora, mặc dù có thông tin cho rằng một hợp đồng sản xuất phiên bản mới hơn được trang bị hệ thống này hiện đang được bàn thảo[46]. Cuối cùng, vào tháng 4 năm 2008, quân đội Ấn Độ đã gửi một đề nghị các hãng Rafael, BAE Systems, Raytheon, Rosoboronexport, Saab, và IBD Deisenroth Engineering nhằm đạt mua hệ thống phòng thủ chủ động cho Bhishma.[47] Giá trị hợp đồng này được ước tính có thể lên tới 270 triệu Mỹ kim. Hệ thống LEDS-150 của Saab cuối cùng đã thắng thầy vào tháng 1 năm 2009.[48]

Một hợp đồng thứ 3 trị giá 1,23 tỉ Mỹ kim đã được ký vào tháng 12 năm 2007, với nội dung đặt mua 347 xe tăng T-90M nâng cấp, phần lớn số này sẽ được lắp ráp bởi HVF. Phía Ấn Độ hy vọng rằng họ sẽ có thể tổ chức một lực lượng xe tăng bao gồm 21 trung đoàn T-90 và 40 trung đoàn T-72 nâng cấp. Việc chuyển giao số xe tăng T-90M sẽ bắt đầu vào cuối năm 2009.[49][50] Loạt 10 chiếc T-90M "Bhishma" đầu tiên đã được giới thiệu với quân đội Ấn Độ vào ngày 24 tháng 8 năm 2009. Số xe tăng này được chế tạo tại Nhà máy Cơ giới Hạng nặng ở Avadi, Tamil Nadu.

Mẫu xe T-90MS khi mới được quảng bá lập tức gây được sự chú ý của giới quân sự Ấn Độ và có ý kiến lo ngại rằng mẫu xe tăng này sẽ làm hại đến tương lai của xe tăng Ấn Độ Arjun Mk2[51][52], tuy nhiên giới quân sự Ấn Độ đã bác bỏ thông tin về việc "khai tử" Arjun Mk2 và cho rằng cả hai mẫu tăng đều quan trọng cho Ấn Độ[53]. Tháng 9 năm 2013, Ấn Độ ký hợp đồng sản xuất 235 xe tăng T-90MS dưới sự chuyển giao công nghệ của Nga, trị giá lên tới 1 tỉ Mỹ kim.[54][55] Ấn Độ dự kiến triển khai 6 trung đoàn xe tăng sở hữu tổng cộng 354 xe tăng T-90MS tại biên giới Ấn Độ-Trung Quốc, và thiết kế của T-90MS lại tỏ ra phù hợp với điều kiện của khu vực đó.[53]

Tổng cộng người Ấn hy vọng tổ chức được 21 trung đoàn xe tăng T-90 cho đến năm 2020, với mỗi trung đoàn có 45 xe tăng trong tình trạng chiến đấu và 17 xe tăng dùng để huấn luyện và xe tăng dự bị.[56]

Xuất khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

T-90 đã được cấp phép xuất khẩu ngay từ ngày 5 tháng 10 năm 1992. Tuy nhiên trong suốt một thời gian dài, các lãnh đạo công nghiệp quốc phòng Nga chưa bao giờ cho T-90 xuất hiện tại các buổi triển lãm vũ khí quốc tế mà chỉ cho trình làng các mẫu T-72 mới của nhà máy Uralgavonzavod mà thôi, có lẽ với mục đích nhằm dồn sức cho việc quảng cáo các mẫu xe tăng thuộc dòng T-80U của Nga[57][58]. T-90 xuất hiện lần đầu tiên tại buổi triển lãm IDEX tại Abu Dhabi vào năm 1997, nhưng các thông tin về nó không được giới thiệu kèm theo, điều này có nghĩa là T-90 không đuộc giới thiệu chính thức trong buổi triển lãm đó. Nhưng trong lần này bản thân T-90 đã thể hiện hết sức thành công và đã lôi kéo được rất nhiều sự chú ý của các chuyên gia quân sự trên thế giới.[57]

Trong những năm qua, xe tăng chiến đấu T-90S là sản phẩm quân sự đã được cung cấp chủ yếu cho Ấn Độ và Algérie, ngoài những quốc gia này không có bước đột phá nào đáng kể. Theo Phó Giám đốc Trung tâm Phân tích Chiến lược và Công nghệ Nga Konstantin Makiyenko, sau các hợp đồng ký kết với Ấn Độ, Algérie, Nga sẽ không còn những khách hàng chủ yếu và doanh số bán hàng có thể bắt đầu suy giảm.

Bên cạnh đó, các nước khác đã đẩy mạnh việc phát triển các thiết kế dựa trên xe tăng của Liên Xô và Nga, từ đó, quay lại cạnh tranh với hoạt động xuất khẩu của Nga. Mức độ trì trệ về kỹ thuật và giá cao của T-90S là nguyên nhân chính dẫn đến việc xe tăng này của Nga bị đánh bại trong nhiều cuộc đấu thầu.[59]

Các phiên bản của T-90[sửa | sửa mã nguồn]

T-90MS
  • T-90: nguyên mẫu.
    • T-90K: mẫu tăng dành cho chỉ huy [60][61], với hệ thống liên lạc mới (rađiô R-163-50K) và hệ thống định vị mới (TNA-4-3).
    • T-90E: mẫu T-90 xuất khẩu, không có Shtora nhưng có hệ thống phòng thủ chủ động được cải tiến.
      • T-90EK: mẫu T-90E chỉ huy với hệ thống liên lạc và định vị mới.
T-90A
    • T-90A (Obyekt 187): còn gọi là T-90M hay T-90 Vladimir, lấy tên của Thiết kế trưởng T-90 Vladimir Potkin, người vừa mới qua đời năm 1999, cùng năm mẫu này được trình làng. Có tháp pháo được hàn ghép, động cơ V-92S2, hệ thống nhìn hồng ngoại ESSA[3][62], hệ thống phòng thủ chủ động mới, bồn nhiên liệu chứa được đến 1000 lít xăng cùng một số nâng cấp khác. Tuy nhiên số lượng xe tăng T-90A vẫn chưa được sản xuất nhiều, dự tính đến năm 2015 vẫn chỉ có 7 tiểu đoàn xe tăng T-90A với tổng số 217 chiếc.
      • T-90S: mẫu xuất khẩu của T-90A. Còn gọi là T-90C (chữ C trong mẫu tự Nga phát âm giống như chữ S trong mẫu tự Latin). Mẫu này được các chuyên gia quân sự đánh giá là không hề thua kém các xe tăng cùng loại của các quốc gia khác, nhưng giá thành lại rẻ hơn 40-50%[8]. T-90S có hai biến thể với 2 kiểu giáp tháp pháo khác nhau[3]. T-90S cũng được trang bị thiết bị nhìn đêm mới.
        • T-90SA: T-90S xuất khẩu cho Algerie với các cải tiến nhằm phù hợp với khí hậu nhiệt đới dựa trên các kinh nghiệm tại Ấn Độ.[63]
        • T-90SK: mẫu tăng chỉ huy của T-90S với hệ thống liên lạc và định vị mới.
        • T-90S Bhisma: Mẫu T-90 sản xuất tại Ấn Độ.
      • T-90SM: Phiên bản hiện đại hóa sâu của T-90S.[64][65] PK PAN với camera IR, thiết bị ngắm dành cho xạ thủ PNM Sosna-U, đại liên đồng trục 7,62 ly UDP T05BV-1 RWS, hệ thống định hướng GLONASS+, và giáp phản ứng nổ.[66][67][68]
    • T-90M hay T-90AM - Phiên bản mới nhất của T-90A.[69] Thiết kế tháp pháo được cải tiến và hiện đại hóa, sử dụng hệ thống điều khiển bắn "Kalina" được tích hợp hệ thống điều khiển và thông tin tác chiến, thiết bị nạp đạn tự động kiểu mới, pháo chính phiên bản 2A46M-5 cũng như súng phòng không điều khiển từ xa "UDP T05BV-1". Giáp phản ứng nổ Kontakt-5 được thay thế bằng giáp Relikt.[70] Các nâng cấp khác bao gồm động cơ 1250 mã lực, hệ thống điều khiển môi trường và hệ thống định vị bằng vệ tinh.

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

  • BREM-72: Armoured recovery vehicle[3].
  • MTU-90: Xe thiết giáp với chiếc "cầu" MLC30 có nhiệm vụ tạo thành chiếc cầu vượt cho các thiết giáp đi qua các hẻm núi, sông ngòi...
  • IMR-3: Xe thiết giáp công binh.
  • BMR-3: Xe thiết giáp gỡ mìn.
  • BMPT: Xe thiết giáp chiến đấu bộ binh. Xe bọc thép chiến đấu BMPT được thiết kế trên cơ sở của xe tăng T-90, cũng như pháo tự hành Msta-S 155mm có khả năng bắn đạn theo chuẩn NATO. Chiếc BMPT với các đặc điểm kích thước nhỏ, nhẹ, hình dáng thấp với trang bị tên lửa và súng máy. Xe cũng được trang bị bộ phận dò tín hiệu nhiệt hiện đại "Essa". Tổ hợp vỏ giáp tích cực Shtora-1 cùng hệ thống quang-hồng ngoại giúp cho xe được bảo vệ tốt hơn trước tất cả các loại đạn bắn vào. Các thông số chính của BMPT: khối lượng chiến đấu 47 tấn, tổ lái: 5 người, động cơ diesel V-92S2 1000HP, vận tốc tối đa: 65 km/h, hành trình 550 km. Vũ khí gồm: Súng lớn A42 2x30mm, 900 viên, Súng máy PKTM 7.62mm, 2000 viên, Súng phóng lựu AH-17D 2x30mm, 600 viên, Tổ hợp phóng tên lửa 4xPTRK Ataka-T.

Số lượng phục vụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nga Nga: 550 xe tăng T-90A trong năm 2013.[71][72]
  • Algérie Algérie: 185 chiếc được chuyển giao vào năm 2009 và 120 chiếc được bàn giao vào năm 2011 với trị giá lên đến 470 triệu Mỹ kim.[73][74][75]
  • Ấn Độ Ấn Độ: 620 xe tăng T-90S với 310 chiếc nhận năm 2000, 300 chiếc nhận năm 2008 từ Nga. Nhà máy Heavy Vehicle Factory (HVF) ở Avadi đã chuyển giao 24 chiếc trong giai đoạn 2009-10, 51 chiếc trong năm 2010-11, 50 chiếc năm 2012, và dự tính 1000 chiếc nữa sẽ được Ấn Độ tự sản xuất cho đến năm 2020. Trong số đó, 10 chiếc đầu tiên được bàn giao vào tháng 8 năm 2009.[42][76][77] Ngoài ra còn có hợp đồng trang bị 354 xe tăng T-90SM trị giá 10.000 crone cho 6 trung đoàn dự kiến đóng ở biên giới giáp Trung Quốc.[52]
  • Turkmenistan Turkmenistan: đã đặt hàng 10 xe tăng 10 T-90S vào năm 2009 trong một hợp đồng trị giá gần 30 triệu đô la.[78][79] Họ tiếp tục đặt hàng thêm 30 xe tăng nữa trong một hợp đồng năm 2011[80].
  • Uganda Uganda: 44 Т-90S vào năm 2011. Được chuyển giao thông qua một hợp đồng ký vào năm 2010.[81][82][83]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Танк Т-90 «Владимир» 22.04.2014
  2. ^ Frolov, Andrey. “Russian Defence Procurement in 2007”. Moscow Defense Brief (Centre for Analysis of Strategies and Technologies) (2/2007). Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2009. 
  3. ^ a ă â b c d đ e ê “JED The Military Equipment Directory”. 
  4. ^ a ă â b c d đ e 188ИЭ-4. Танк Т-90С. Инструкция по эксплуатации. — Нижний Тагил: АЭЛ (Уральское конструкторское бюро транспортного машиностроения), 1992. — Т. Книга 1.
  5. ^ Танк Т-90С. Техническое описание. — Нижний Тагил: АЭЛ (Уральское конструкторское бюро транспортного машиностроения), 1999. — Т. Часть 1.
  6. ^ Танк Т-90С Модернизированный. Официальный сайт ОАО «Уралвагонзавод». Архивировано из
  7. ^ Танк Т-90С
  8. ^ a ă â b c d đ e ê “Xe tăng chủ lực T-90”. Báo Thanh niên (bằng tiếng Việt). 19/1/2008. 
  9. ^ Gia Linh (Theo Vpk.news) (12 tháng 3 năm 2008). “Quân đội Nga đối mặt với cuộc khủng hoảng xe tăng”. vitinifo.com.cvn (bằng tiếng Việt). Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2009. 
  10. ^ a ă â b c d đ e ê “T-90”. globalsecurity.org. 
  11. ^ Zaloga 2000, trang 3.
  12. ^ http://www.fas.org/man/dod-101/sys/land/row/t-90.htm
  13. ^ Theo nguồn của James M. Warford, 'The Russian T-90S: Coming into Focus, Armor, September-October 1997, quoting Russian newspaper sources, thì tháng 9 năm 1995, 107 chiếc xe tăng T-90 đã được sản xuất và trang bị ngay tại quân khu Siberia.
  14. ^ Pashin, Alexander. “Russian Army Operations and Weaponry During Second Military Campaign in Chechnya”. Moscow Defense Brief (Centre for Analysis of Strategies and Technologies) (3/2002). Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2009. 
  15. ^ “Armored obnovka”. RedStar (bằng tiếng Nga). 11 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2009. 
  16. ^ a ă http://www.warfare.ru/?lang=&catid=244&linkid=1778
  17. ^ Russia's new main battle tank to enter service 'after 2010' - RIA Novosti, July 10, 2008
  18. ^ http://vit.com.vn/Muctin/Quansu/TBQD/47123/default.aspx
  19. ^ .P.Suvorov (2002). Т-90. Первый серийный российский танк. Moscow: Technique - Youth East horizon. tr. 44. 
  20. ^ P.Suvorov (2002). Т-90. Первый серийный российский танк. Moscow: Technique - Youth East horizon. tr. 19. 
  21. ^ “125mm APERS And Special Rounds”. Fofanov.armor.kiev.ua. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2010. 
  22. ^ “T-90: Lessons from the French”. CNews (bằng tiếng Nga). 29 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2009. 
  23. ^ “Russia to start licensed production of foreign military equipment | Defense | RIA Novosti”. En.rian.ru. 21 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2010. 
  24. ^ T-90MS có địch nổi siêu tăng tàng hình PL-01?, trang 3
  25. ^ T-90MS có địch nổi siêu tăng tàng hình PL-01?, trang 4
  26. ^ T-90MS có địch nổi siêu tăng tàng hình PL-01?, trang 5
  27. ^ "20.10.1999 T-80U and T-90 Protection Trials (Vasily Fovanov)"
  28. ^ “T-90 Specifications”. T-90 (bằng tiếng Anh). GlobalSecurity.org. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  29. ^ S. Zaloga, M. Jerchel, S. Sewell (1993). T-72 Main Battle Tank 1974—1993. New Vanguard No. 6. London: Osprey Publishing. tr. 48. ISBN 1-85532-338-9. 
  30. ^ Yu. Spasibukhov (2000). Trong M. Kolomiets. M1 «Абрамс» — основной боевой танк США. Танкомастер. Moskva: Техника — молодёжи. tr. 64. 
  31. ^ Abrams Tank Systems: Lessons Learned, Operation Iraqi Freedom
  32. ^ S. V. Ustyantsev, D. G. Kolakov (2004). Боевые машины Уралвагонзавода. Танк Т-72. Боевые машины Уралвагонзавода. Nizhny Tagil: Уралвагонзавод, Медиа-Принт. tr. 114. 
  33. ^ Báo Đất Việt. Soi các lớp bảo vệ của T-90MS
  34. ^ a ă T-90MS main battle tank data sheet specifications Army Recognition
  35. ^ T-90MS có địch nổi siêu tăng tàng hình PL-01? Báo Đất Việt, ngày 19 tháng 9 năm 2013
  36. ^ T-90MS Tagil Main battle tank Military Today
  37. ^ Вся ложь танковых рейтингов — часть II
  38. ^ Виктор Мураховский: модернизированные Т-90 вместе с танками "Армата" еще долгие годы будут обеспечивать безопасность России
  39. ^ Танки ХХI века Танки ХХI века
  40. ^ Танки ХХI века
  41. ^ Танк Т-90 отметил юбилей
  42. ^ a ă â b c “Indian Army Wants to Add Another 1,000 T-90S Tanks by 2020” (bằng tiếng Anh). Defence Industry Daily. Truy cập 13 августа 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |datepublished= (trợ giúp)
  43. ^ "India to buy 330 T-90S tanks from Russia". Hindustan Times, ngày 26 tháng 10 năm 2008.
  44. ^ The Frugal T-90
  45. ^ Dunnigan, James. "Get the T-90s Out of the Kitchen", StrategyPage, ngày 24 tháng 4 năm 2006.
  46. ^ T-90 Main Battle Tank
  47. ^ India changes its top defence supplier[nguồn không đáng tin?]
  48. ^ Prasun K Sengupta (28 tháng 1 năm 2009). “TRISHUL: India's 'Born Again' T-90M MBT”. Trishulgroup.blogspot.com. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2011. [nguồn không đáng tin?]
  49. ^ John Pike. “T-90 Bhisma”. Globalsecurity.org. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010. 
  50. ^ © RIA Novosti Dmitry Korobeinikov (24 tháng 8 năm 2009). “Indian army receives first T-90 tanks made under Russian license | Top Russian news and analysis online | 'RIA Novosti' newswire”. En.beta.rian.ru. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010. 
  51. ^ Thương vụ T-90MS 'bức tử' dự án Arjun Mk2 báo Đất Việt, ngày 21 tháng 5 năm 2012
  52. ^ a ă “Army scuttles Arjun trials to push through Russian T-90 purchase”. Business Standard. 26 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2012. 
  53. ^ a ă Ấn mua 354 siêu tăng T-90MS để chọi Type-99 của TQ
  54. ^ India has approved the manufacture of 235 T-90 main battle tanks under Russian license - Armyrecognition.com, 19 September 2013
  55. ^ Đức Vinh, Ấn Độ chi đậm để sản xuất 235 xe tăng T-90MS mạnh nhất thế giới, báo An Ninh Thủ Đô, ngày 18 tháng 9 năm 2013
  56. ^ Indian T-90s Get 5,000 Meter Reach - Strategypage.com, 4 September 2013
  57. ^ a ă C. Suvorov (2002). Т-90. Первый серийный российский танк. Moscow: Technique - Youth East horizon. tr. 39. 
  58. ^ S. B. Ustyantsev; D.G Kolmakov (2004). Боевые машины Уралвагонзавода. Танк Т-72. Nizhny Tagil: Uralvagonzavod, Media-Print. tr. 135. 
  59. ^ [1]
  60. ^ T-90 [Rosja]: Strona 3 - Pancerni.net
  61. ^ MILITARIUM - T-90
  62. ^ Main Battle Tank - T-90/T90S/T90C
  63. ^ T-90SA Encyclopedia of safety
  64. ^ Танк Т-90C модернизированный Т-90C M
  65. ^ T-90S Modernized Main battle tank
  66. ^ T-90MS main battle tank
  67. ^ Rosoboronexport T-90MS at IDEX 2013
  68. ^ New Russian tank - T-90MS, 2012-12-01.
  69. ^ http://bastion-karpenko.narod.ru/T-90AM_tagil-2011.html
  70. ^ http://tank-t-90.ru/index/t90am/0-78
  71. ^ “T-90/S MBT”. Warfare.ru. 5 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2011. 
  72. ^ Модернизация танка Т-90 будет завершена до конца 2010 года » Военное обозрение
  73. ^ “Algeria, Turkmenistan To Buy Russian Tanks: Report”. 14 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2012. 
  74. ^ «Рособоронэкспорт» поставит Туркмении и Алжиру 150 танков Т-90С
  75. ^ The Military Balance 2010. — P. 245.
  76. ^ “Indian Army inducts first indigenous T-90 tanks”. ThaiindianNews. 
  77. ^ “Army to acquire nearly 1000 additional T-90 tanks by 2020”. 4 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2009. 
  78. ^ “EurasiaNet News Briefs - Turkmenistan: Berdymukhamedov Mulls Russian Hi-Tech Deals”. Eurasianet.org. 9 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010. 
  79. ^ “Procurement (Turkmenistan) - Sentinel Security Assessment - Russia And The CIS”. Janes.com. 21 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010. 
  80. ^ Russia to sell tanks to Algeria, Turkmenistan AntaraNews
  81. ^ Рейтинг 10 наиболее значимых поставочных программ и экспортных
  82. ^ В 2011 году «Рособоронэкспорт» заключил контракты на поставку ОБТ Т-90С Алжиру и Туркмении
  83. ^ “Денис Мокрушин - Экспорт вооружений”. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2013. 

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mallika, Joseph (2004) "Issue Brief No. 19: T-90S ‘Bhishma’". Institute of Peace and Conflict Studies. URL accessed 2006-07-24.
  • Sewell, Stephen "Cookie" (July–August 1998). "Why Three Tanks?" Armor 108 (4):21. (PDF format)
  • Zaloga, Steven and David Markov (2000), Russia's T-80U Main Battle Tank, Hong Kong: Concord, ISBN 962-361-656-2.
  • C. Суворов (2002). Т-90. Первый серийный российский танк. Танкомастер (bằng tiếng Nga). Москва: Техника — молодежи, Восточный горизонт. tr. 54.  Đã bỏ qua tham số không rõ |тираж= (trợ giúp)
  • С. В. Устьянцев, Д. Г Колмаков (2004). Боевые машины Уралвагонзавода. Танк Т-72. Боевые машины Уралвагонзавода (bằng tiếng Nga). Нижний Тагил: Уралвагонзавод, Медиа-Принт. 
  • S. Zaloga, M. Jerchel, S. Sewell (1993). T-72 Main Battle Tank 1974—1993. New Vanguard № 6. Luân Đôn: Osprey Publishing. tr. 48. ISBN 1-85532-338-9. 
  • The Military Balance 2010 / The International Institute for Strategic Studies. — London: Routledge, 2010. — 488 p. — ISBN 978-1857435575

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]