TT400TP

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

TT-400TP là một lớp tàu pháo do Việt Nam tự sản xuất dựa trên bản thiết kế sơ bộ mua từ nước ngoài.[1] TT là viết tắt của từ "tuần tra", còn TP là viết tắt của từ "tàu pháo" TT-400TP là lớp tàu pháo có vũ khí điều khiển tự động hoạt động trên biển với bốn nhiệm vụ: tiêu diệt tất cả tàu chiến đổ bộ và tàu hộ tống của địch; bảo vệ căn cứ các đội tàu đổ bộ và đội tàu hộ tống ở vùng hoạt động của các lực lượng và tàu phục vụ các lực lượng rà quét mìn; bảo vệ tàu dân sự trên biển và trinh sát chiến thuật cảnh giới mặt nước. Chiếc đầu tiên trong lớp TT-400TP là tàu mang số hiệu HQ-272 khởi đóng ngày 22 tháng 4 năm 2009 và chính thức được chuyển giao cho Quân chủng Hải quân Việt Nam ngày 16 tháng 1 năm 2012.[2] Chiếc thứ hai mang số hiệu HQ-273 bàn giao cho Hải quân Việt Nam ngày 31 tháng 8 năm 2012.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu có trọng tải choán nước là 413 tấn khi không tải, 446 tấn khi tải trung bình và 480 tấn khi toàn tải. Chiều dài dài nhất 54,16m, chiều rộng rộng nhất 9,16m, mớn nước 2,7 m.Tốc độ tối đa 32 hải lý/giờ, tầm hoạt động 2500 hải lý khi tàu chạy ở tốc độ kinh tế 14 hải lý/giờ. Tàu hoạt động liên tục trên biển 30 ngày đêm, có khả năng tác chiến trong điều kiện sóng cấp 5 và chạy trong điều kiện gió cấp 9, 10 và sóng cấp 8.

Tàu được thiết kế và chế tạo theo kiểu module độc lập (trong mỗi môđun được thiết kế và bố trí lắp đặt các thiết bị gần như hoàn chỉnh theo từng khối, sau đó chỉ cần cẩu - đấu - lắp tổng thành các đoạn môđun lại). Vì thế, các trang thiết bị đóng sẵn có thể đưa lên trước, tiến độ nhanh hơn, độ chính xác cao hơn. Mặt khác các kỹ sư Nhà máy Z173 đã thiết kế thành công trên máy vi tính cái nào cần lắp đặt trước, cái nào cần lắp đặt sau....Đặc biệt là hệ thống vũ khí khí tài trên tàu là nhiều loại, nhiều trạng thái nên cần phải kiểm tra cân chỉnh trước khi lắp ráp. Việc bảo đảm độ phẳng của mặt phẳng để lắp pháo là yếu tố sống còn, yêu cầu trọng tâm của việc đóng tàu chiến. Khi hoạt động hay chiến đấu trên biển, tàu thường bị rung, nhất là trong quá trình bắn pháo. Trước yêu cầu khắt khe về việc lắp đặt vũ khí mà độ dung sai được tính bằng các thông số cực nhỏ, nên các kỹ sư đã thiết kế công nghệ tạo mặt phẳng chuẩn kiểm tra trung tâm theo đó tất cả các thiết bị, vũ khí trên tàu phải thông qua mặt phẳng chuẩn để kiểm tra độ chính xác và thống nhất tọa độ cả trước – trong và sau khi lắp ráp.

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Về vũ trang, tàu được trang bị súng máy phòng không 14,5 mm, pháo hạm tự động 76 mm AK-176 và một pháo tự động 6 nòng 30 mm AK-630 có radar dẫn bắn để tiêu diệt mục tiêu trên biển, trên không. Tàu còn có hệ thống tên lửa phòng không MANPAD SA-N-14 Grouse 2 ống phóng.

AK-176M : Trang bị hải pháo trên tàu là pháo hạm một nòng tự động 76/59 АU kiểu tháp pháo АК-176, tháp pháo được bố trí trên phần mũi tàu của boong tàu. Cơ số đạn pháo đầy đủ là 316 viên và được trang bị sẵn sàng 152 viên đạn. Tháp pháo được chế tạo từ hợp kim nhôm và magnesium Amr-61 với độ dày 4mm. Kíp trắc thủ - 2 người (nếu nạp đạn bằng tay thì kíp trắc thủ là 4 người). Pháo bắn nhanh AK-176 có thể tùy chỉnh tốc độ bắn 30, 60 hoặc 120 viên/phút để tiêu diệt các mục tiêu trên mặt nước và trên không. Tầm “hỏa lực” của loại vũ khí này đạt 15 km, tầm bắn đạt hiệu quả cao là 10 km. AK-176 được điều khiển bởi radar điều khiển hỏa lực MR-123-02 và được hỗ trợ bằng hệ thống quang học và định tầm laser, cho phép ngắm bắn mục tiêu hiệu quả và chính xác hơn, ngoài ra AK-176 cũng có độ giật ít và ổn định hơn nên xác suất trúng mục tiêu cũng cao hơn. AK-176 cũng được trang bị 2 loại đạn là đạn xuyên giáp ZS-63 và đạn nổ phá mảnh OF-62, có thể hạ được mục tiêu bay cỡ nhỏ như tên lửa hành trình, thậm chí là tên lửa chống tăng. AK-176 là loại pháo 1 nòng, đường kính 76.2 mm ; Thiết kế năm 1977_Đưa vào sử dụng rộng rãi năm 1979 dùng trên tàu chiến đấu ; Trọng lượng tòan bộ khẩu pháo : 10.29 tấn ; Trọng lượng pháo : 821 kg ; Góc bắn của pháo từ - 10 độ – 80 độ nếu điều khiển bằng hệ thống điện tử ESP -221 ; Góc bắn của pháo từ - 15 độ – 85 độ nếu điều khiển bằng tay ; Chiều dài nòng pháo: 4.484 mét; Trọng lượng tòan bộ viên đạn : 12.8 kg _trọng lượng đầu đạn 5.9 kg ; Tốc độ đạn 980 m/s; Tầm bắn xa : 15.7 km với tốc độ bắn tự động của pháo là 120 phát/phút; Tầm cao : 11 km; Được điều khiển bắn tự động bằng hệ thống ra đa MR-123-02 FCS với tầm phát hiện từ xa 45 km hoặc khi bắn bằng tay với tốc độ 30 phát / phút;

AK-630M : Trên boong phía đuôi tàu của thiết kế TT-400TP để chống lại các tên lửa hành trình chống tàu và máy bay, được lắp pháo tự động AO-18 có cơ cấu xoay với 6 nòng được làm mát liên tục, hộp tiếp đạn dạng băng tự động và một cơ cấu khóa nòng cơ khí để nạp đạn và hất vỏ đạn sau khi bắn. Pháo phòng không AK-630M có khả năng tạo một màn đạn với tốc độ 5000 viên/phút điều khiển bằng radar hoặc kính ngắm quang học. Được thiết kế năm 1963 của hãng Tulamashzavod-Nga, hoàn tất 1964 được điều khiển tự động bằng ra đa vào năm 1976, phiên bản hệ thống AK-630M (A-213M) được chấp nhận hoạt động 1979, được trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực bao gồm : TV cung cấp việc hiển thị theo dõi các mục tiêu mặt nước, mục tiêu hàng không. Rada giúp phát hiện bám bắt mục tiêu mặt nước từ cự li 7,5 km (Như ca nô đề án 250) và mục tiêu hàng không từ cự li 7 km (Như Mig-21). AK-630M có chế độ bắn thông thường 4-5 loạt bắn với mỗi loạt từ 20 – 25 viên đạn từ tầm bắn max, trên tầm bắn hiệu quả, loạt bắn có thể kéo dài với số lượng lên đến 400 viên ngắt đoạn ngắn từ 3-5 giây. Trọng lượng rỗng của khẩu pháo là 1850 kg, trọng lượng pháo là 1918 kg và 9114 kg cho tòan bộ hệ thống ; Góc bắn của pháo từ -12 độ đến 88 độ với hệ thống điều khiển tự động ; Tốc độ đường đạn 900 m/s ; Tốc độ bắn : 5000 viên đạn/phút ; Tiếp đạn từ một thùng đạn chứa được 2000 viên và khoảng 1000 viên đạn dự trữ trong một thùng chứa khác; Trọng lượng đạn : 0.54 kg, Đạn dược được sử dụng trong AK-630M, đó là: ОФ-84: Đạn mảnh- nổ mạnh nặng 390 g chứa 48,5 g thuốc nổ, sử dụng đầu đạn А-498К; ОФЗ: cải tiến của ОФ-84 nên uy lực công phá lớn hơn; OP-84: đạn mảnh-vạch đường nặng 390 g, chứa 11,9 g thuốc nổ. Tầm bắn hiệu quả 4000 mét với mục tiêu trên không và 5000 mét với mục tiêu mặt nước. Hệ thống điều khiển hỏa lực trung tâm: A-213-Vympel-A bao gồm radar và hệ thống quang truyền hình (Tháp pháo được điều khiển từ xa bởi hệ thống radar kiểm soát hỏa lực và đài quan sát (hỗ trợ đài điều khiển)_Thời gian phản ứng: 2-3 giây). Khi không điều khiển bằng radar thì dùng máy ngắm cơ-quang Vympel-A: phục vụ ngắm bắn dự phòng trực tiếp chống tên lửa diệt hạm tiếp cận tàu cho pháo đa năng nòng xoay AK-630M. Qua thử nghiệm thì hệ thống pháo AK-630M đã bắn trúng mục tiêu là một tên lửa mô phỏng ở độ cao 10m chỉ với 200 phát đạn.

Súng máy 14.5mm (Súng máy 14.5mm MTPU): súng được thiết kế để lắp đặt trên tàu chiến, tầm bắn đến 2000m và độ cao đến 1500m. Để bắn mục tiêu trên không, trên mặt biển và mặt đất, có thể dùng các loại đạn xuyên phá B-32, đạn vạch đường BZT và đạn phá MDZ với tốc độ bắn ít nhất 450 viên/phút và cơ số đạn 1500 viên. Tàu được trang bị 2 khẩu 14.5mm, với trọng lượng của hệ thống súng và giá súng tổng cộng khoảng 400 kg, hệ thống súng máy dài 2.8m, rộng 0.865m, cao 1.5-1.8m với góc bắn mục tiêu trên cao từ - 15 độ đến + 60 độ.

Tên lửa MANPDAS: Tên lửa MANPDAS là tên lửa vác vai được thiết kế cho nhiệm vụ tiêu diệt các mục tiêu trên không cả bay vào lẫn bay ra trong tầm nhìn như các loại máy bay quân sự dùng động cơ phản lực, động cơ tuốc bin cánh quạt hay động cơ đốt trong cánh quạt, cũng như các loại trực thăng vũ trang hay phương tiện bay không người lái điều khiển từ xa, trong điều kiện có nhiễu nhiệt tự nhiên hoặc bị đối phương chế áp quang hồng ngoại. Đạn tên lửa của tổ hợp cũng được điều khiển bằng tia hồng ngoại, sử dụng đầu nổ tăng lượng và mảnh nổ, ngòi nổ cận đích la-de/chạm nổ và đầu tự dẫn mới giúp tăng độ chính xác và tầm bắn hiệu quả tối đa 5 km, tầm cao 3,5 km và tốc độ gấp 1,65 lần tốc độ âm thanh (1.980 km/h). Tên lửa có khối lượng 10.8 kg, chiều dài 1.574 m, đường kính 72 mm, đầu nổ 1.17 kg với lượng nổ 390g (14 oz), động cơ động cơ phản lực nhiên liệu rắn, thời gian vận hành: 13 giây, thời gian chuẩn bị cho lần bắn tiếp theo: 30 giây. Các tên lửa Igla được đặt trên cơ cấu giá phóng để phục vụ phóng đạn tên lửa phòng không vác vai một cách tự động bằng điều khiển từ xa theo các chế độ phóng khác nhau như: phóng phát một, phóng liên tiếp từ 2 tới 8 đạn hoặc phóng loạt 2 đạn từ 2 ống phóng khác nhau. Trên tàu được trang bị 2 cơ cấu giá phóng tên lửa, với mỗi cơ cấu lắp được 4 quả tên lửa.

Ra đa trên tàu là loại Ra đa hiện đại như : Hệ thống radar Kaskad với radar Delta-М • Hệ thống radar dẫn đường Furuno • Radar tìm kiếm và hệ thống theo dõi bao gồm Air / Navy • Hệ thống nhận biết địch-ta, hệ thống quang-điện tử • Hệ thống định vị/dẫn đường vệ tinh • Hệ thống thông tin liên lạc tự động.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tàu chiến "made in Việt Nam", Báo Lao động, ngày 4 tháng 10 năm 2011.
  2. ^ Hải quân Việt Nam biên chế pháo hạm TT400TP, Báo Đất Việt, ngày 17 tháng 1 năm 2012.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]