Taliban

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Taliban
طالبان
Flag of Taliban.svg
Chiến tranh Nội chiến Afghanistan (1992-2001), chiến tranh hiện nay ở Afghanistan (2001-nay), và Chiến tranh Waziristan
Lãnh đạo Mullah Mohammed Omar
Mullah Obaidullah Akhund (bị bắt)
Lý tưởng Hồi giáo Chính thống
Hoạt động
Khu vực AfghanistanCác khu vực Bộ lạc thuộc quản lý liên bang (FATA) của Pakistan

[1]

Quân số 12.000 do Taliban tuyên bố[cần dẫn nguồn]
Trước đây Các nhóm Mujahideen Pashtun chống lại việc Liên Xô xâm lược Afghanistan
Quốc tế Ả Rập Saudi,Pakistan, và các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất ( trước vụ khủng bố 11 tháng 9)
Đối thủ Flag of Afghanistan.svg Afghanistan
Flag of Afghanistan 1992 free.png Liên minh phía Bắc
 Pakistan
Isaf 1.jpg ISAF :
    Cờ của Canada Canada
    Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Anh quốc
    Cờ của Hoa Kỳ Hoa Kỳ
    Cờ của Úc Australia

Taliban (tiếng Pashto: طالبان ṭālibān) một phong trào chính thống Hồi giáo Sunni Pashtun cực đoan và dân tộc thống trị phần lớn Afghanistan từ năm 1995 đến năm 2001, khi những lãnh đạo của họ đã bị loại bỏ khỏi quyền lực bởi một nỗ lực quân sự hợp tác giữa Hoa Kỳ, Anh quốcLiên minh phía Bắc.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Những người nổi dậy theo trào lưu Hồi giáo chính thống, thường được truyền thông gọi là "Taliban", xuất phát [cần dẫn nguồn]Các khu vực bộ lạc biên giới của Pakistan, hiện đang tham gia vào một cuộc chiến du kíchchiến dịch khủng bố kéo dài chống lại chính quyền hiện tại của Afghanistan và các lực lượng NATO.

Phong trào này do Mullah Mohammed Omar lãnh đạo. Bên dưới ông là "một hỗn hợp các chỉ huy quân đội đơn vị nhỏ trước đây, các thầy giáo Madrasah, và một nhóm nhỏ worm-toungues chảy nước mũi thò lò"[2] và dưới nữa là một hàng ngũ của phần lớn những người đã từng học ở các trường tôn giáo Hồi giáoPakistan. Đa số áp đảo của phong trào Taliban là những người dân tộc Pashtun từ phía Nam Afghanistan và phía Tây Pakistan, cùng với một số nhỏ người tình nguyện từ Âu-Á và Trung Quốc. Lực lượng Taliban đã nhận được huấn luyện, tiếp tế và vũ khí quý giá từ chính quyền Pakistan, đặc biệt là Cơ quan tình báo Pakistan (ISI), và nhiều lính mới từ những Madrasah cho những người tị nạn Afghanistan ở Pakistan, ban đầu là những nơi thiết lập bởi Jamiat Ulema-e-Islam JUI. Sau khi kiểm soát được thủ đô Afghanistan (Kabul) và phần lớn đất nước trong 5 năm, chế độ Taliban, hay "Vương quốc Hồi giáo Afghanistan," đã giành được sự công nhận ngoại giao chỉ từ ba nhà nước: Pakistan, Ả Rập Saudi, và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Những lạm dụng về nhân quyền đã khiến chế độ này không được Liên Hiệp Quốc và phần lớn các nhà nước trên thế giới công nhận, trong đó có Iran, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Mỹ và phần lớn các nước cộng hòa Trung Á đã phản đối Taliban và trợ giúp đối thủ của chế độ này (Lực lượng Liên minh phía Bắc Afghanistan).

Tượng Phật cổ tại Bamiyan trước và sau khi bị Taliban phá hủy. Hình bên trái năm 1963 và hình bên phải chụp năm 2008

Lúc còn nắm quyền, chế độ Taliban đã thi hành "sự diễn giải luật Sharia nghiêm khắc nhất từng có trong thế giới Hồi giáo,"[3] và tai tiếng quốc tế về cách đối xử với phụ nữ.[4] Phụ nữ bị buộc phải mặc burqa ở nơi công cộng.[5] Họ cũng không được phép làm việc hoặc được học hành sau 8 tuổi,[4] và cho đến lúc đó chỉ được học kinh Qur'an.[4] Phụ nữ tìm cách học hành sẽ bị buộc phải học lén ở các trường ngầm lén lút, nơi giáo viên và chính bản thân họ có nguy cơ bị hành quyết nếu bị bắt được.[4] Họ không được phép được chữa bệnh bởi nam bác sỹ trừ phi có bà đi kèm, điều này dẫn đến việc họ không được chữa trị. Họ dễ bị đánh roi ở ngoài phố,[6] và bị hành quyết công khai vì những vi phạm các luật lệ của Taliban.[7][8]

Trong thời gian cầm quyền tai Afghanistan từ năm 1996, chính quyền Taliban cũng triệt hạ những di sản của những nền văn hóa khác, như phá hủy hai tượng Phật cổ trên 1500 năm tại Bamiyan được coi là di sản thế giới.

Mức độ nguy hiểm[sửa | sửa mã nguồn]

Taliban đã nắm quyền cai trị Afghanistan từ năm 1996. Sau Sự kiện 11 tháng 9, khi quân khủng bố tấn công Tòa Tháp Đôi, Trung tâm Thương mại Thế giới tại New York năm 2001, Hoa Kỳ và đồng mình đã yểm trợ Liên minh phía Bắc (Quân kháng chiến Afghanistan) tiến hành Chiến tranh Afghanistan lật đổ chính quyền Taliban. Từ đó, tàn quân Taliban rút vào bóng tối và thường hoạt động dưới hình thức khủng bố.

Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama duy trì cuộc chiến ở Afghanistan với những luận cứ "khá mơ hồ" [cần dẫn nguồn] về mối đe dọa từ Taliban và Al-Qaeda. Tổng thống Barack Obama khẳng định sứ mệnh của Mỹ ở Afghanistan là để "đảm bảo Al-Qaeda không thể tấn công đất Mỹ, các lợi ích Mỹ và các đồng minh của nước này" [cần dẫn nguồn]. Lập luận được đưa ra là nếu Taliban chiến thắng ở Afghanistan, Al-Qaeda sẽ lại có cơ hội tiến hành những hoạt động bẩn thỉu của mạng lưới này. Afghanistan sẽ "lại trở thành căn cứ cho khủng bố, những kẻ chỉ muốn giết người". Lý lẽ này được nhắc đi nhắc lại nhưng chưa bao giờ được kiểm nghiệm [cần dẫn nguồn]; trên cơ sở chi phí và những rủi ro liên quan đến kế hoạch của chính quyền Obama đối với khu vực, đã đến lúc những tuyên bố như vậy cần được khảo sát kỹ lưỡng [cần dẫn nguồn].

Theo nhiều nguồn tin, Taliban là một chủ nhà miễn cưỡng của Al-Qaeda trong thập niên 1990 và cảm thấy bị phản bội khi mạng lưới khủng bố này liên tiếp vi phạm các thỏa thuận kiềm chế các tuyên bố khích động và xúi giục bạo lực ở nước ngoài. Sau đó, vụ tấn công 11/9 do al-Qaeda chủ mưu (mà Taliban không hề dính dáng) dẫn tới cuộc chiến lật đổ chế độ này. Khái niệm rằng al-Qaeda cần một cứ địa an toàn để tiến hành các hoạt động khủng bố là rất đáng ngờ. Thực tế, căn cứ hoạt động cho vụ 11/9 là ở Humburg, Đức. Căn cứ vào lợi ích của Taliban trong các vấn đề bên ngoài khu vực Afghanistan-Pakistan, nếu họ trở lại nắm quyền một lần nữa, nhiều khả năng họ sẽ không tiếp đón các nhóm khủng bố mà hành động của chúng có thể dẫn tới một sự can thiệp nữa từ bên ngoài.

Giữa năm 2009, al-Qaeda có vài trăm thành viên hoạt động ở Pakistan, tìm cách tránh bị bắt giữ và giúp Taliban khi có thể. Họ cũng có một mạng lưới thành viên di chuyển trên toàn cầu nhưng rời rạc và phải liên lạc qua Internet. Trong vòng 10 năm từ 1999-2009, nhóm này đã tự làm mất uy tín của mình trong thế giới Hồi giáo. Không có một chứng cứ thuyết phục nào được đưa ra công khai để chứng tỏ rằng đầu não al-Qaeda tập hợp trong một chiến dịch đơn lẻ toàn diện ở bất kỳ nơi nào trên thế giới sau vụ 11/9. Bên cạnh đó, al-Qaeda chưa có sự hiện diện đáng kể ở Mỹ. Trong năm 2002, các thông tin tình báo xác nhận số phần tử al-Qaeda được đào tạo ở Mỹ là vào khoảng 2.000-5.000, và Giám đốc FBI Robert Mueller đảm bảo trước một Ủy ban Thượng viện rằng al-Qaeda đã "phát triển một hệ thống hỗ trợ" ở Mỹ và đạt được cả "khả năng lẫn mục đích nhằm gây thương vong lớn tại nước này với một chút cảnh báo".

Tuy nhiên, sau nhiều năm theo dõi, FBI và các cơ quan điều tra khác không thể phát hiện ra một chi nhánh hay phần tử nào của al-Qaeda bên trong nước Mỹ [cần dẫn nguồn] . Lời lẽ của Mueller giờ đã trở nên nhẹ nhàng hơn nhiều: "Chúng tôi tin rằng al-Qaeda vẫn đang tìm cách đưa các thành viên thâm nhập vào nước Mỹ từ bên ngoài". Nhưng điều đó có lẽ chưa chắc đúng. Kể từ 9/11, khoảng 2 triệu người nước ngoài được phép tới Mỹ nhưng tất nhiên nhiều trường hợp khác vẫn có thể vào nước này một cách bất hợp pháp. Ngay cả khi an ninh biên giới hiệu quả tới mức 90% các phần tử al-Qaeda bị chặn khi vào Mỹ, một số tên vẫn hành động trót lọt .

"Mũi tên dễ gãy"[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng thống Obama nhấn mạnh tới một yếu tố nhân đạo trong sứ mệnh ở Afghanistan. Ông chỉ ra, một sự trở lại của Taliban sẽ đẩy người dân Afghanistan vào tay "một chính phủ tàn ác, bị cô lập với quốc tế, kinh tế tê liệt và không có các quyền con người cơ bản". Nhưng vấn đề ở chỗ, người Mỹ ngày càng ít muốn hy sinh mạng sống cho những nhiệm vụ mang tính nhân đạo hơn so với những nhiệm vụ nhằm đối phó với mối đe dọa nhằm trực tiếp vào nước Mỹ. Những người theo quan điểm sứ mệnh nhân đạo sẽ tiếp tục ủng hộ chính sách của Obama ở Afghanistan - ít nhất họ nghĩ rằng đó là một cơ hội thành công. Tuy nhiên, nhiều công dân Mỹ (và người châu Âu) đặt câu hỏi rằng liệu một nhiệm vụ như vậy đáng giá bao nhiêu nhân mạng.

Bởi vì các mối liên hệ với vụ 11/9, cuộc chiến ở Afghanistan nhận được nhiều ủng hộ của dân chúng hơn so với cuộc chiến ở Iraq. Tuy nhiên, tỷ lệ ủng hộ sau đó ít đi. Nếu lý lẽ của Obama về cuộc chiến ở Afghanistan không chính xác, cũng giống như cớ phát động chiến tranh Iraq của Bush, thì nhà lãnh đạo này, không khác gì người tiền nhiệm, sẽ chỉ còn biết dựa vào lập luận về sứ mệnh nhân đạo. Nhưng lập luận này có lẽ cũng chỉ là một mũi tên dễ gãy.

Vũ khí hạt nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 28/4, 2009 Chính phủ Pakistan huy động một lực lượng lớn nhằm đánh đuổi khoảng 500 chiến binh Taliban khỏi một thung lũng chỉ cách Thủ đô Islamabad không đầy 100 km về phía Tây Bắc. Đây cho thấy một sự "leo thang" không bình thường trong cả quá trình diễn biến cuộc chiến chống khủng bố. Cũng là báo hiệu: "bãi chiến trường" đang thực sự di chuyển từ Afghanistan và Iraq sang Pakistan?

Trong suốt thời kỳ dài của cuộc chiến tranh tại AfghanistanIraq, lực lượng Taliban chỉ đóng quân tại vùng núi giáp ranh với Afghanistan và từ đó tiến hành các cuộc đánh bom liều chết hoặc pháo kích bên trong lãnh thổ Pakistan. Tuy nhiên đến năm 2009 trên thực tế lực lượng Taliban dần dần nắm quyền kiểm soát cả vùng thung lũng Swat chiến lược với sự áp đặt khá thành công bộ luật Sharia của họ đối với dân chúng địa phương. Chúng cũng không che đậy ý đồ mở rộng ảnh hưởng sang tỉnh Penjab giàu có của Pakistan.

Diễn biến mới này xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan và khách quan. Đó là, việc Tổng thống Mỹ Barack Obama đã quyết định rút khỏi Afghanistan và Iraq đồng thời tăng cường viện trợ cho Pakistan để chống khủng bố. Quyết định này có thể giúp Mỹ và Đồng minh giảm bớt gánh nặng tại hai chiến trường Iraq và Afghanistan nhưng cũng vô hình trung tạo cơ hội "rảnh tay" cho Taliban để củng cố hậu cứ của chúng. Trong một sự trùng hợp, Taliban có thể ráo riết khai thác một số yếu điểm của chính quyền dân sự mới lên tại Pakistan do ông Asif Ali Zardari đứng đầu để mở rộng vùng ảnh hưởng và căn cứ tại nước này.

Nhưng có điều trớ trêu là, khác hẳn với Afghanistan và Iraq, bãi chiến trường có thể diễn ra tại Pakistan, một nước có tàng trữ vũ khí hạt nhân. Được biết đây là mối lo ngại còn "giữ kín" của các giới chiến lược gia Mỹ. Và chắc chắn đó cũng không phải là miếng mồi nằm ngoài tầm ngắm của Taliban. Điều này sẽ dẫn đến việc kho vũ khí hạt nhân đó rơi vào tay Taliban.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Pajhwok Afghan News, Taliban have opened office in Waziristan (Pakistan)
  2. ^ Goodson, Afghanistan's Endless War, (2001) p.114.
  3. ^ Rashid,Taliban, (2000), p.29
  4. ^ a ă â b Dupree Hatch, Nancy. "Afghan Women under the Taliban" in Maley, William. Fundamentalism Reborn? Afghanistan and the Taliban. London: Hurst and Company, 2001, pp. 145-166.
  5. ^ M. J. Gohari (2000). The Taliban: Ascent to Power. Oxford: Oxford University Press, pp. 108-110.
  6. ^ A woman being flogged in public.
  7. ^ "The Taliban's War on Women"PDF (857 KiB), Physicians for Human Rights, August 1998.
  8. ^ "100 Girls' Schools in Afghan Capital Are Ordered Shut", The New York Times, June 17, 1998.