Sóc chuột

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Tamias)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tamias
Thời điểm hóa thạch: Early Miocene to Recent
Tamias minimus.jpg
Sóc chuột Bắc Mỹ
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Rodentia
Phân bộ (subordo) Sciuromorpha
Họ (familia) Sciuridae
Tông (tribus) Marmotini
Phân tông (subtribus) Tamiina
Chi (genus) Tamias
Illiger, 1811
CHIPMUNKS FIND FOOD IN CAMPING AREA OF DEAD HORSE POINT STATE PARK - NARA - 545549.jpg
Subgenera
3, see text

Sóc chuột là một chi sóc nhỏ có sọc trên lưng (tiếng Anh: chipmunk). Có 1 loài sống ở Bắc Mỹ và một loài sống ở Á Châu gọi là sóc chuột Siberia.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Sóc chuột có thể gồm chung 1 chi Tamias hay chia ra 3 phân chi: Tamias, gồm loài Sóc chuột ở phía đông Mỹ châu; Eutamias, gồm sóc chuột SiberiaNeotamias, gồm 23 loài còn lại ở phía tây.

Phân chi Eutamias

Phân chi Tamias[1]

Phân chi Neotamias

Tuyệt chủng:

Thức ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Sóc chuột là loại ăn tạp. Các thứ nó ăn gồm có hạt, đậu, trái cây, trứng chim, cóc nhỏ, nấm, giun, côn trùng và một đôi khi những con vật nhỏ như chuột mới sinh.[2][3] Đầu mùa thu, sóc chuột bắt đầu dự trử thức ăn trong hang của chúng để dành ăn trong mùa đông. Một vài loài khác lại cât giấu thức ăn vào nhiều chỗ khác nhau. Thường thường chúng sống trong ổ cho đến mùa xuân. Chúng có thể phùng miệng ra và dùng má như là túi đựng thức ăn để đem về tổ.[4]

Sinh thái và đời sống[sửa | sửa mã nguồn]

Sóc chuột phía đông giao phối vào đầu mùa xuân và đầu mùa hè, mổi lần sinh ra khoảng 4 hay 5 sóc con, 2 lần trong một năm.[2] Sóc phía tây chỉ sinh 1 lần mỗi năm. Sóc con chui ra khỏi tổ sau khoảng 6 tuần và khoảng 8 tuần thì chúng tự đi sống độc lập.[5]

Sóc chuột có chức năng quan trọng trong sinh thái học. Chúng rải hạt cũa các cây và rải phấn từ những nấm mà chúng ăn, do dó giúp cho cây và nấm sinh sôi thêm.[6]

Sóc chuột xây dựng những chiếc tổ to lớn có thể dài hơn 3,5 m và có nhiều lối đi vào được giấu kín. Chỗ ngủ được giữ rất sạch sẽ. Chúng là con mồi cho những loài hữu nhủ và chim ăn thịt khác. Trong vài trường hợp chúng lại tấn công những ổ chim để cướp trứng.

Chúng thường thọ khoảng 3 năm, tuy nhiên đã có con sống khoảng 9 năm khi bị giam cầm.[7]

Khi bị giam cầm, chúng ngủ 15 giờ một ngày.[8]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tamias, Mammal Species of the World, 3rd ed.
  2. ^ a ă Hazard, Evan B. (1982). The Mammals of Minnesota. University of Minnesota Press. tr. 52–54. ISBN 0-8166-0952-7. 
  3. ^ Eastern Chipmunk - Tamias striatus - NatureWorks
  4. ^ West Virginia Wildlife Magazine: Wildlife Diversity Notebook. Eastern chipmunk
  5. ^ Schwartz, Charles Walsh; Elizabeth Reeder Schwartz, Jerry J. Conley (2001). The Wild Mammals of Missouri. University of Missouri Press. tr. 135–140. ISBN 0-8262-1359-6. 
  6. ^ Apostol, Dean; Marcia Sinclair (2006). Restoring the Pacific Northwest: The Art and Science of Ecological Restoration in Cascadia. Island Press. tr. 112. ISBN 1-55963-078-7. 
  7. ^ Information on Chipmunks http://www.essortment.com/information-chipmunks-56048.html
  8. ^ "40 Winks?" Jennifer S. Holland, National Geographic Vol. 220, No. 1. July 2011.