Taras Hryhorovych Shevchenko

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Taras Shevchenko
Sinh 9 tháng 3 năm 1814
Kiev, Đế chế Nga
Mất 10 tháng 3 năm 1851
Saint Petersburg, Nga
Công việc Nhà thơ, Họa sĩ
Quốc gia Ukraina

Taras Hryhorovych Shevchenko (tiếng Ukraina: Тарáс Григóрович Шевчéнко; 9 tháng 3 năm 181410 tháng 3 năm 1851) là thi hào dân tộc, họa sĩ, chiến sĩ đấu tranh vì dân tộc Ukraina, người khởi xướng nền văn học mới và ngôn ngữ mới của Ukraina.

Mục lục

[sửa] Tiểu sử và tác phẩm

Katerina, 1842 - tranh của Shevchenko

Taras Shevchenko sinh tại làng Moryntsi, châu Kiev, Đế quốc Nga (nay là tỉnh Cherkasy của Ukraina). Là con một gia đình nông nô, cũng như cả gia đình mình, Taras là sở hữu của địa chủ Pavel Engelhardt. Chín tuổi ông mồ côi mẹ, ba năm sau mồ côi cha, vì thế từ nhỏ Taras đã phải lao động vất vả chăn dắt gia súc ngoài đồng cỏ. Mười lăm tuổi Taras được xung vào đám "tiểu đồng" cần vụ của chủ, chẳng bao lâu được theo chủ đến thủ đô Sankt-Peterburg. ở đây Taras được theo học vẽ bốn năm. Năm 1838, chàng trai Taras được một số văn nghệ sĩ Nga bỏ tiền ra trả cho địa chủ Engelhardt chuộc ra để thành người tự do. Taras Shevchenko trở thành sinh viên Học viện Mỹ thuật, trực tiếp theo học danh họa Karl Pavlovich Briullov.

Ngoài việc học vẽ ở Học viện Mỹ thuật, Shevchenko còn say mê sáng tác thơ ca. Tập thơ đầu tay nhỏ bé của Shevchenko có tên là Kobzar (Người hát rong) xuất bản năm 1840 nhờ tiền của một người bạn Ukraina của mình. Tập thơ đã gây một ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc Ukraina cũng như người đọc Nga.

Năm 1841, Shevchenko sáng tác bản trường ca lớn Haidamaki miêu tả cuộc khởi nghĩa nông dân 1768. Cũng như tập thơ đầu tay Kobzar, bản trường ca Haidamaki đã thành công lớn. Tiếp theo xuất hiện những tác phẩm thơ ca khác đều có giá trị: Maria, Katerina v.v.

Năm 1845, Shevchenko tốt nghiệp Học viện Mỹ thuật, và trở về Ukraina bắt đầu làm việc tại ủy ban khảo cổ học. Vì giao du với các thành viên trí thức tiến bộ và tham dự hội họp bí mật nên năm 1847, Shevchenko đã bị bắt cùng với những người khác trong tổ chức. Shevchenko bị đầy đi làm lính trơn ở tiểu đoàn tiền phương Orenburg, và đã phải sống ở nơi lưu đày xa xôi hẻo lánh suốt mười năm ròng. Sau khi Sa hoàng Aleksandr II lên ngôi, năm 1857, Shevchenko mới được trả tự do. Ông được trở về Nizhny Novgorod, sau đó về Sankt-Peterburg. Năm 1860, tại Sankt-Peterburg, Shevchenko cho xuất bản lại bản mới của tập thơ Kobzar. Sau những năm tháng cơ cực tù đầy, Shevchenko có dự định trở về Ukraina sinh sống nhưng ông đã lâm bệnh hiểm nghèo. Buổi sáng ngày 10 tháng 3 năm 1861, Taras Hryhorovych Shevchenko qua đời. Ông được chôn cất tại Sankt-Peterburg, sau đó mới được phép cải táng đưa hài cốt về an táng tại quê hương Ukraina.

Taras Shevchenko trở thành biểu tượng của dân tộc Ukraina. Trong lịch sử văn học thế giới, tên tuổi của ông đứng ngang hàng với những thiên tài về ngôn ngữ như Pushkin, Goethe, Maeterlinck... Thơ của ông được dịch ra hơn hai trăm thứ tiếng của thế giới. Lần đầu tiên thơ Taras Shevchenko được nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh dịch một số bài ra Tiếng Việt từ năm 1961. Năm 2004 nhân dịp kỷ niệm 190 năm ngày sinh Taras Shevchenko, Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản cuốn Thơ Taras Shevchenko gồm 38 bài thơ cùng với lời giới thiệu của ngài Pavlo Sultansky - Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Ukraina tại Việt Nam. Đây là quyển Thơ Taras Shevchenko được Nguyễn Viết Thắng dịch trực tiếp từ nguyên bản tiếng Ukraina sang tiếng Việt.

[sửa] Một số bài thơ

Maria, 1840
Xem bói cho cô gái Ukraina
Chân dung tự họa
Chân dung tự họa
Tượng Shevchenko ở Kiev
Tượng Shevchenko ở Kharkov
Гоголю
 
За думою дума роєм вилітає,
Одна давить серце, друга роздирає,
А третяя тихо, тихесенько плаче
У самому серці, може, й бог не побачить.
 
Кому ж її покажу я,
І хто тую мову
Привітає, угадає
Великеє слово?
 
Всі оглухли – похилились
В кайданах… байдуже…
Ти смієшся, а я плачу,
Великий мій друже.
А що вродить з того плачу?
 
Богилова, брате...
Не заревуть в Україні
Вольнії гармати.
Не заріже батько сина,
Своєї дитини,
За честь, славу, за братерство,
За волю Вкраїни.
 
Не заріже – викохає
Та й продасть і різницю
Москалеві. Це б то, бачиш,
Лепта удовиці
Престолові-отечеству
Та німоті плата.
Нехай, брате. А ми будем
Сміяться та плакать.
 
Не завидуй багатому
 
Не завидуй багатому:
Багатий не знає
Ні приязні, ні любові —
Він все те наймає.
Не завидуй могучому,
Бо той заставляє.
Не завидуй і славному:
Славний добре знає,
Що не його люди люблять,
А ту тяжку славу,
Що він тяжкими сльозами
Вилив на забаву.
А молоді як зійдуться,
Та любо, та тихо,
Як у раї,— а дивишся:
Ворушиться лихо.
Не завидуй же нікому,
Дивись кругом себе:
Нема раю на всій землі,
Та нема й на небі.
 
Ми заспівали, розійшлись
 
Ми заспівали, розійшлись,
Без сльоз і без розмови,
Чи зійдемося ж знову?
Чи заспіваємо коли?
 
А може, й те... Та де? Якими?
І заспіваємо яку?
Не тут і, певне, не такими!
І заспіваєм не таку!
 
І тут невесело співали,
Бо й тут невесело було,
Та все-таки якось жилось,
Принаймні вкупі сумували,
 
Згадавши той веселий край,
І Дніпр той дужий, крутогорий,
І молодеє теє горе!..
І молодий той грішний рай!
 
Зійшлись, побрались, поєднались
 
Зійшлись, побрались, поєднались,
Помолоділи, підросли.
Гайок, садочок розвели
Кругом хатини. І пишались,
Неначе князі. Діти грались,
Росли собі та виростали...
Дівчаток москалі украли,
А хлопців в москалі забрали,
А ми неначе розійшлись,
Неначе брались — не єднались.
Gửi Gô-gôn
 
Một ý nghĩ trước, một theo sau
Một thắt trong tim, một khổ đau
Một đang khóc thầm trong hờn giận
Giữa trái tim này - trời thấy đâu!
 
Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai
Biết tìm đâu thấy
Người hiểu và thân ái
Với những dòng này?
 
Tất cả đều mù, tất cả điếc
Tất cả gục xuống dưới xiềng gông
Bạn cười còn tôi khóc
Hỡi người bạn lớn
Nước mắt có ích gì không?
 
Chỉ cây cỏ tầm thường
Mới không nghe tiếng khóc
Của quê hương.
Người cha già không giết
Đứa con yêu của mình
Vì tự do, vì danh dự, vinh quang
Của Ucraina yêu dấu.
 
Không giết mà nuôi
Nuôi Sa hoàng, nuôi cuộc chiến
Rồi gửi đến mà nói rằng
Đây là sự đóng góp của chúng tôi
Cống vật cho ngôi vàng
Dâng cho người ngoại quốc...
Thì biết làm sao được bây giờ
Tôi và bạn sẽ cười và khóc.
 
Đừng ghen chi người giàu
 
Đừng ghen chi người giàu
Người giàu không biết đến
Tình yêu hay lòng kính trọng
Người giàu chỉ mua chúng mà thôi.
Cũng đừng ghen chi kẻ mạnh
Kẻ đó áp bức mọi người
Đừng ghen chi kẻ vinh quang ngời ngời
Bởi chính kẻ này rất biết
Yêu hắn chẳng có ai
Nhưng niềm vinh quang khó nhọc
Hắn giành được bằng nước mắt
Chỉ mua vui cho thiên hạ mà thôi.
Những người trẻ tuổi gặp nhau
Rồi yêu nhau, không bàn cãi
Ngỡ thiên đường nhưng nhìn vào sẽ thấy
Đang cựa mình nỗi khổ đau...
Hãy đừng ghen với một người nào
Mà hãy nhìn ra thế giới:
Trên mặt đất chẳng có thiên đường
Và cả trên trời cũng vậy!
 
Ta hát với nhau
 
Ta hát với nhau rồi sau đấy giã từ
Không nước mắt, không nói lời giã biệt
Liệu ta còn gặp lại nhau không biết
Để cùng nhau ta lại hát như xưa.
 
Có thể gặp lại nhau, nhưng đến bao giờ
Và ở đâu? Bài hát gì sẽ hát
Không ở đây, và tất nhiên, bài hát khác
Chẳng phải bài đã từng hát ngày xưa.
 
Cuộc sống ở đây đầy nỗi âu lo
Nên ở đây những bài vui không hát
Nhưng dù sao những ngày ta có được
Ở chốn này đã buồn nhớ cùng nhau.
 
Ta nhớ về vùng đất chẳng u sầu
Sông Đnhép oai hùng, những ngọn đồi vạm vỡ
Và cả những khổ đau thời tuổi trẻ
Và thiên đường tội lỗi tháng ngày xanh!
 
Như chưa từng gặp gỡ
 
Ta gặp gỡ rồi kết tóc xe duyên
Rồi sinh sôi, nảy nở
Như hoa ở trong vườn
Rồi làm nhà. Chẳng biết đến đau buồn
Bầy trẻ nhỏ vui đùa giỡn
Rồi chúng lớn lên
Những đứa trai đi vào lính
Những đứa gái cũng bị lính mang đi
Còn chúng mình như có vẻ đã chia ly
Có vẻ như ta chưa từng gặp gỡ.


Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng.

[sửa] Xem thêm



[sửa] Liên kết ngoài

Monuments

Công cụ cá nhân
Không gian tên

Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra
Ngôn ngữ khác