Taras Hryhorovych Shevchenko

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Taras Shevchenko
Sinh 9 tháng 3 năm 1814
Thôn Moryntsi, tỉnh Kiev, Đế chế Nga (nay là Ukraina)
Mất 10 tháng 3 năm 1861
Saint Petersburg, Nga
Công việc Nhà thơ, Họa sĩ
Quốc gia Ukraina

Taras Hryhorovych Shevchenko (tiếng Ukraina: Тарáс Григóрович Шевчéнко; 9 tháng 3 năm 181410 tháng 3 năm 1861) là Đại thi hào dân tộc, họa sĩ, viện sĩ, chiến sĩ đấu tranh vì dân tộc Ukraina, người phát triển và hoàn thiện nền văn học mới và ngôn ngữ mới của Ukraina.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Hình Taras Shevchenko trên tở 100 hryvna năm 2005

Taras Shevchenko sinh tại làng Moryntsy, châu Kiev, Đế quốc Nga (nay là tỉnh Cherkasy của Ukraina). Là con một gia đình nông nô, cũng như cả gia đình mình, Taras là sở hữu của địa chủ Pavel Engelhardt. Chín tuổi ông mồ côi mẹ, ba năm sau mồ côi cha, vì thế từ nhỏ Taras đã phải lao động vất vả chăn dắt gia súc ngoài đồng cỏ. Mười lăm tuổi Taras được xung vào đám "tiểu đồng" cần vụ của chủ. Sớm nhận ra những tài năng của cậu bé Taras, Pavel Engelhardt đã gửi cậu học vẽ cùng họa sĩ Jan Rustem ở Đại học Vilnius. Sau khi chuyển đến Saint Petersburg, Shevchenko được tiếp tục học vẽ bốn năm. Ngày 22 tháng 4 năm 1838, chàng trai Taras được một số văn nghệ sĩ Nga bỏ tiền ra trả cho địa chủ Engelhardt để chuộc thành người tự do. Taras Shevchenko trở thành sinh viên Học viện Mỹ thuật, trực tiếp theo học danh họa Karl Pavlovich Briullov.

Ngoài việc học vẽ ở Học viện Mỹ thuật, Shevchenko còn say mê sáng tác thơ ca. Tập thơ đầu tay nhỏ bé của Shevchenko có tên là Người hát rong (Kobzar) xuất bản năm 1840 nhờ tiền của một người bạn Ukraina của mình. Tập thơ nhỏ, chỉ với 8 bài thơ và trường ca này đã gây một ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc Ukraina cũng như người đọc Nga.

Năm 1841, Shevchenko sáng tác bản trường ca lớn Haydamaky miêu tả cuộc khởi nghĩa nông dân 1768. Cũng như tập thơ đầu tay Người hát rong, bản trường ca Haydamaky đã thành công lớn. Tiếp theo xuất hiện những tác phẩm thơ ca khác đều có giá trị: Hamalya, Trizna, Giấc mơ v.v.

Lưu đày[sửa | sửa mã nguồn]

Hình Taras Shevchenko trên tở 100 hryvna năm 1996
Hình Taras Shevchenko trên tem thư Liên Xô năm 1976

Năm 1845, Shevchenko tốt nghiệp Học viện Mỹ thuật, và trở về Ukraina bắt đầu làm việc tại ủy ban khảo cổ học. Vì giao du với các thành viên trí thức tiến bộ, đặc biệt là với nhà hoạt động xã hội Nicolay Kostmarov, tham gia Hội ái hữu Thánh Cyril và Methodius –một tổ chức chính trị hoạt động bí mật ở Kiev nhằm chống lại chế độ nông nô, Shevchenko đã bị bắt cùng 10 người khác trong tổ chức. Tất cả những người này phải chịu những hình phạt khác nhau vì tội tổ chức các hoạt động chính trị, trong đó Shevchenko bị hình phạt nặng nhất vì trường ca Giấc mơ đã châm biếm hoàng hậu. Shevchenko bị đầy đi làm lính trơn ở tiểu đoàn tiền phương Orenburg, bị cấm sáng tác và đã phải sống ở nơi lưu đày xa xôi hẻo lánh suốt mười năm ròng.

Các năm 18481849 Shevchenko được tham gia đoàn thám hiểm ở biển Aral. Với sự ưu ái của các sĩ quan ở đây, Shevchenko được tự do sáng tác và kết quả là có nhiều tác phẩm thơ cũng như hội họa được sáng tác trong thời kỳ này.

Thời kỳ sau khi ra tù[sửa | sửa mã nguồn]

Thám hiểm biển Aral - tranh của Taras Shevchenko
Mộ Taras Shevchenko ở nghĩa trang Smolensky, Saint Petersburg

Sau khi Sa hoàng Aleksandr II lên ngôi, năm 1857, Shevchenko được trả tự do. Ông được trở về Nizhny Novgorod, sau đó về Sankt-Peterburg. Thời kỳ này Shevchenko tiếp tục viết, vẽ và tập hợp những sáng tác trong thời kỳ lưu đày.

Năm 1859 ông về thăm quê hương Ukraina. Ngày 2 tháng 9 năm 1860 Shevchenko được phong Viện sĩ của Viện hàn lâm Nghệ Thuật. Năm 1860, tại Saint Petersburg, Shevchenko cho xuất bản lại bản mới của tập thơ Người hát rong (Kobzar).

Sau những năm tháng cơ cực tù đầy, Shevchenko có dự định trở về Ukraina sinh sống, đã có ý định mua đất làm nhà ở Ukraina và sẽ cưới vợ nhưng ông đã lâm bệnh hiểm nghèo. Buổi sáng ngày 10 tháng 3 năm 1861, Taras Hryhorovych Shevchenko qua đời.

Ông được chôn cất tại nghĩa trang Smolensky ở Saint Petersburg. 58 ngày sau đó, theo như Lời di chúc của Taras Shevchenko, hài cốt của ông được đem về an táng tại Đồi Chernecha (nay là Đồi Taras), thành phố Kaniv, tỉnh Cherkasy, bên sông Dnepr.

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Di sản văn học của Taras Shevchenko được coi là nền tảng của văn học Ukraina, và đến một mức độ lớn hơn, là nền tảng của ngôn ngữ Ukraina hiện đại. Taras Shevchenko là người đầu tiên nâng thơ ca Ukraina lên ngang tầm các nền thơ khác của châu Âu.

Taras Shevchenko trở thành biểu tượng của dân tộc Ukraina. Trong lịch sử văn học thế giới, tên tuổi của ông đứng ngang hàng với những thiên tài về ngôn ngữ như Pushkin, Goethe, Maeterlinck... Thơ của ông được dịch ra hơn hai trăm thứ tiếng của thế giới.

Ngoài thơ ca, Taras Shevchenko còn để lại một số lượng lớn các tác phẩm văn xuôi (phần nhiều được viết bằng tiếng Nga) và một số lượng lớn các tác phẩm hội họa có giá trị về mặt nghệ thuật.

Đặc điểm của thơ Taras Shevchenko[sửa | sửa mã nguồn]

Hình Taras Shevchenko trên tem thư Liên Xô năm 1989
Hình Taras Shevchenko trên đồng tiến vàng của Ukraina

Di sản thơ ca của Taras Shevchenko là rất đồ sộ. Tuy nhiên, có thể nói rằng tất cả sức mạnh văn học của Shevchenko là ở tác phẩm Người hát rong (Kobzar). Nhìn bên ngoài, khối lượng của Người hát rong không lớn, nhưng nội dung bên trong lại là một tượng đài văn học phức tạp và phong phú: đấy là ngôn ngữ tiếng Ukraina trong lịch sử phát triển của nó, là chế độ nông nô và cuộc sống nhà binh khắc nghiệt cùng với những hoài niệm về ý chí tự do của phong trào Cô-dắc. Ở đây có một sự kết hợp tuyệt vời từ các ảnh hưởng: một mặt, từ ảnh hưởng của nhà triết học Ukraina, Hryhorii Skovoroda và từ những người hát rong dân gian, mặt khác – ảnh hưởng của Mickiewicz, Zhukovsky, PushkinLermontov. Trong Người hát rong có vùng đất thánh Kiev, có vùng thảo nguyên Zaporoze, có cảnh điền viên của đời sống nông dân Ukraina bình dị – tất cả đấy là nguyên khí của quốc gia với những khía cạnh đặc sắc từ vẻ đẹp, vẻ trầm tư và nỗi buồn đặc trưng Ukraina. Thơ ca của Taras Shevchenko xuất phát từ thơ ca dân gian, gắn liền với sử thi Cô-dắc, với văn hóa cổ Ukraina và một phần văn hóa Ba Lan cũng như gần gũi với nhiều hình tượng trong Câu chuyện về cuộc hành binh Igor.

Tuy nhiên, thơ Shevchenko càng hay bao nhiêu, càng đặc sắc bao nhiêu thì khi dịch ra ngôn ngữ khác sẽ càng khó bấy nhiêu. Khó khăn lớn nhất trong việc nghiên cứu và dịch thơ Shevchenko ở chỗ là thơ ông thấm đượm tinh thần dân tộc, hòa quyện chặt chẽ với lời ru tiếng hát, với ngôn ngữ dân gian. Trong thơ ông hầu như không thể xác định được ở đâu là nơi thơ ca dân gian Ukraina kết thúc và ở đâu là nơi bắt đầu sáng tạo riêng của Shevchenko. Đây lại là trở ngại chính trong việc dịch thơ Taras Shevchenko ra các ngôn ngữ khác (trừ các ngôn ngữ thuộc nhóm Slavơ), đặc biệt là khi dịch ra tiếng Việt.

Dịch ra tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Hình Taras Shevchenko trên tem thư Ukraina năm 1994
Hình Taras Shevchenko trên tem thư Ukraina năm 1997

Thơ Taras Shevchenko lần đầu tiên được nhà thơ Tế Hanh dịch 2 bài ra tiếng Việt qua tiếng Pháp từ năm 1959. Năm 1961, kỷ niệm 100 ngày mất của nhà thơ, báo Văn học đăng một số bài thơ do Thúy ToànNguyễn Xuân Sanh dịch từ tiếng Ngatiếng Pháp. Kể từ đó, thơ của ông được một số người khác trích hoặc phỏng dịch qua các ngôn ngữ trung gian và đã đăng trên các báo, tạp chí của Việt Nam, tuy nhiên có thể nói rằng các bản dịch này có số lượng ít ỏi và chất lượng thì còn khoảng cách với tinh thần của thơ Taras Shevchenko.

Năm 2004 nhân dịp kỷ niệm 190 năm ngày sinh Taras Shevchenko, Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản cuốn Thơ Taras Shevchenko gồm 36 bài thơ cùng với lời giới thiệu của ngài Pavlo Sultansky – Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Ukraina tại Việt Nam. Đây là quyển Thơ Taras Shevchenko được Nguyễn Viết Thắng dịch trực tiếp từ nguyên bản tiếng Ukraina sang tiếng Việt.

Năm 2012, Hội Nhà văn Việt Nam in cuốn Thơ Taras Shevchenko gồm phần 1: 36 bài thơ in song ngữ Ukraina – Việt và phần 2: tập hợp tất cả các lần giới thiệu Taras Shevchenko tại Việt Nam kể từ năm 1959 cùng với phần dịch cũng như trích dịch, phỏng dịch thơ Taras Shevchenko sang tiếng Việt.

Hiện nay Nguyễn Viết Thắng đang thực hiện dự án "Taras Shevchenko – 150 bài thơ và trường ca". Đến thời điểm hiện tại đã có hơn 100 bài được dịch ra tiếng Việt, trong số này có những tập thơ quan trọng như Người hát rong, Thơ viết trong tù… hay các trường ca nổi tiếng như Katerina, Haydamaky… đã được dịch ra tiếng Việt.

Trích từ tập thơ Người hát rong[sửa | sửa mã nguồn]

Chữ ký của Taras Shevchenko
Maria, 1840 - Tranh của T. Shevchenko
Xem bói cho cô gái Ukraina - Tranh của T. Shevchenko
Chân dung tự họa
Chân dung tự họa
Tượng T. Shevchenko ở Kiev
Tượng T. Shevchenko ở Kharkiv
Tượng T. Shevchenko ở Dnipropetrovsk
Tượng T. Shevchenko ở Đồi Taras
Tổng thống Nga, Putin và tổng thấng Ukraina, Kuchma khai trương tượng T. Shevchenko ở St. Petersburg
Tượng T. Shevchenko ở Canada
Tượng T. Shevchenko ở Mỹ
Tượng T. Shevchenko ở Hungary
Tượng T. Shevchenko ở Brazil
Tượng T. Shevchenko ở Argentina
Tượng T. Shevchenko ở Gruzia
Тополя
 
По діброві вітер виє,
Гуляє по полю,
Край дороги гне тополю
До самого долу.
Стан високий, лист широкий —
Нащо зеленіє?
Кругом поле, як те море
Широке, синіє.
Чумак іде, подивиться
Та й голову схилить;
Чабан вранці з сопілкою
Сяде на могилі,
Подивиться — серце ниє:
Кругом ні билини!
Одна, одна, як сирота
На чужині, гине!
 
Хто ж викохав тонку, гнучку
В степу погибати?
Постривайте, все розкажу,
Слухайте ж, дівчата.
Полюбила чорнобрива
Козака дівчина.
Полюбила — не спинила,
Пішов та й загинув...
Якби знала, що покине,—
Була б не любила;
Якби знала, що загине,—
Була б не пустила;
Якби знала, не ходила б
Пізно за водою,
Не стояла б до півночі
З милим під вербою;
Якби знала!..
 
І то лихо —
Попереду знати,
Що нам в світі зустрінеться.
Не знайте, дівчата!
Не питайте свою долю...
Само серце знає,
Кого любить... Нехай в'яне,
Поки закопають!
Бо не довго, чорнобриві,
Карі оченята;
Біле личко червоніє
Не довго, дівчата!
До полудня, та й зав'яне,
Брови полиняють...
Кохайтеся ж, любітеся,
Як серденько знає.
 
Защебече соловейко
В лузі на калині, —
Заспіває козаченько,
Ходя по долині.
Виспівує, поки вийде
Чорнобрива з хати;
А він її запитає:
«Чи не била мати?»
Стануть собі, обіймуться, —
Співа соловейко;
Послухають, розійдуться,—
Обоє раденькі.
Ніхто того не побачить,
Ніхто не спитає:
«Де ти була, що робила?»
Сама собі знає.
Любилася, кохалася,
А серденько мліло:
Воно чуло недоленьку,
А сказать не вміло.
Не сказало — осталася,
День і ніч воркує,
Як голубка без голуба,
А ніхто не чує.
 
Не щебече соловейко
В лузі над водою,
Не співає чорнобрива,
Стоя під вербою;
Не співає,— як сирота,
Білим світом нудить.
Без милого батько, мати —
Як чужії люде.
Без милого сонце світить —
Як ворог сміється;
Без милого скрізь могила...
А серденько б'ється!
 
Минув і рік, минув другий
Козака немає;
Сохне вона, як квіточка, —
Ніхто не питає.
«Чого в'янеш, моя доню?» —
Мати не спитала,
За старого, багатого
Нищечком єднала.
«Іди, доню,— каже мати,—
Не вік дівовати.
Він багатий, одинокий —
Будеш пановати».
 
«Не хочу я пановати,
Не піду я, мамо!
Рушниками, що придбала,
Спусти мене в яму.
Нехай попи заспівають,
А дружки поплачуть:
Легше мені в труні лежать,
Ніж його побачить».
 
Не слухала стара мати,
Робила, що знала;
Все бачила чорнобрива,
Сохла і мовчала.
Пішла вночі до ворожки,
Щоб поворожити:
Чи довго їй на сім світі
Без милого жити?
«Бабусенько, голубонько,
Серце моє, ненько!
Скажи мені щиру правду,
Де милий-серденько?
Чи жив, здоров, чи він любить,
Чи забув-покинув?
Скажи ж мені, де мій милий?
Край світа полину!
Бабусенько, голубонько,
Скажи, коли знаєш!
Бо видає мене мати
За старого заміж.
Любить його, моя сиза,
Серце не навчити.
Пішла б же я утопилась —
Жаль душу згубити.
Коли нежив чорнобривий,
Зроби, моя пташко,
Щоб додому не вернулась...
Тяжко мені, тяжко!
Там старий жде з старостами...
Скажи ж мою долю».
«Добре, доню; спочинь трошки..
Чини ж мою волю.
Сама колись дівовала,
Теє лихо знаю;
Минулося — навчилася,
Людям помагаю.
Твою долю, моя доню,
Позаторік знала,
Позаторік і зіллячка
Для того придбала».
 
Пішла стара, мов каламар
Достала з полиці.
«Ось на тобі сего дива!
Піди до криниці;
Поки півні не співали,
Умийся водою,
Випий трошки сего зілля —
Все лихо загоїть.
Вип'єш — біжи якомога;
Що б там ні кричало,
Не оглянься, поки станеш
Аж там, де прощалась.
Одпочинеш; а як стане
Місяць серед неба,
Випий ще раз; не приїде —
Втретє випить треба.
За перший раз, як за той рік,
Будеш ти такою;
А за другий — серед степу
Тупне кінь ногою.
Коли живий козаченько,
То зараз прибуде.
А за третій... моя доню,
Не питай, що буде.
Та ще, чуєш, не хрестися,
Бо все піде в воду.
Тепер же йди, подивися
На торішню вроду».
 
Взяла зілля, поклонилась:
«Спасибі, бабусю!»
Вийшла з хати: «Чи йти, чи ні?
Ні, вже не вернуся!»
Пішла, вмилась, напилася,
Мов не своя стала,
Вдруге, втретє, та, мов сонна,
В степу заспівала:
 
«Плавай, плавай, лебедонько,
По синьому морю,
Рости, рости, тополенько,
Все вгору та вгору!
Рости тонка та висока
До самої хмари,
Спитай бога, чи діжду я,
Чи не діжду пари?
Рости, рости, подивися
За синєє море:
По тім боці — моя доля,
По сім боці — горе.
Там десь милий чорнобривий
По полю гуляє,
А я плачу, літа трачу,
Його виглядаю.
Скажи йому, моє серце,
Що сміються люде;
Скажи йому, що загину,
Коли не прибуде.
Сама хоче мене мати
В землю заховати...
А хто ж її головоньку
Буде доглядати?
Хто догляне, розпитає,
На старість поможе?
Мамо моя, доле моя!
Боже милий, боже!
Подивися, тополенько,
Як нема — заплачеш
До схід сонця ранісінько,
Щоб ніхто не бачив.
Рости ж, серце-тополенько,
Все вгору та вгору;
Плавай, плавай, лебедонько,
По синьому морю!»
 
Таку пісню чорнобрива
В степу заспівала.
Зілля дива наробило —
Тополею стала.
Не вернулася додому,
Не діждала пари;
Тонка-тонка та висока —
До самої хмари.
По діброві вітер виє,
Гуляє по полю,
Край дороги гне тополю
До самого долу.

[1839 С.-Петербург]

Cây dương
 
Tiếng gió hú trong rừng
Gió đi dạo trên đồng
Gió làm cho cúi xuống
Sát đất một cây dương.
Thân cao và lá rộng
Màu xanh đến lạ lùng
Đồng ruộng, như đại dương
Bao la và xanh thắm.
Người buôn nhìn cây dương
Thấy lòng mình trĩu nặng
Người chăn cừu buổi sáng
Ngồi trên nấm mồ con
Thấy tê tái cõi lòng
Nhưng không còn gì hết
Cây dương đang dần chết
Nơi xứ lạ, cô đơn!
 
Chuyện vì đâu, do ai
Mà nên nông nỗi vậy?
Kể cho các cô gái
Xin hãy lắng nghe này.
Một cô gái mắt đen
Yêu một chàng Cô-dắc
Chàng cũng yêu thương nàng
Rồi ra đi và chết…
Giá như mà biết trước
Thì đã chẳng yêu đương
Giá biết chàng sẽ chết
Thì đã không buông chàng.
Giá như mà biết được
Thì không đợi đến đêm
Đã không đi lấy nước
Để gặp gỡ với chàng
Giá như mà biết được!...
 
Bởi vì không biết được
Điều phía trước đang chờ
Bởi thế mà số kiếp
Đừng căn vặn làm chi
Nhưng con tim biết được
Yêu ai. Cứ yêu đi
Một khi còn chưa về
Nằm ngủ yên dưới đất.
Bởi vì đôi mắt đẹp
Đâu có được lâu dài
Bởi vì trên gương mặt
Màu hồng đỏ chóng phai
Chỉ được đến nửa ngày
Lông mày đen phai nhạt
Em hãy yêu, hãy yêu
Như con tim vẫn biết.
 
Sơn ca cất tiếng hót
Trên cành cây kim ngân
Người Cô-dắc khẽ hát
Trong thung lũng một mình
Cô gái từ nhà tranh
Ra với người gặp gỡ
Người Cô-dắc hỏi nhỏ:
"Mẹ có đánh em không?"
Họ bên nhau, rất gần
Chim sơn ca vẫn hát
Gặp gỡ rồi ly biệt
Con tim đập rộn ràng…
Không ai nhìn thấy họ
Không có ai hỏi cả:
"Em ở đâu, với ai?"
Chỉ mình nàng biết thôi.
Đã yêu và dan díu
Con tim đã tái tê
Tim cảm nhận điều chi
Không biết cách bày tỏ
Chưa nói – còn lại đó
Vẫn ngày đêm thỏ thẻ
Bồ câu chẳng có đôi
Không ai nghe thấy cả…
 
Sơn ca không hát nữa
Bên hồ nước, trong rừng
Cô gái giờ không còn
Hát bên cây liễu nhỏ.
Đừng hát – cô đơn ạ
Cả thế giới hoang tàn
Không có chàng – người thân
Cũng là người xa lạ.
Thiếu chàng, vầng dương nhỏ
Như kẻ thù đang cười
Những nấm mồ khắp nơi…
Mà con tim rộn rã.
 
Một năm, hai năm qua
Người thương chẳng trở về
Nàng như hoa khô héo
Lặng lẽ như nấm mồ.
Mẹ không hỏi: "Điều gì
Mà nên nông nỗi vậy?"
Mẹ tìm cho con gái
Người giàu có nhưng già.
"Con về với người ta
Hãy nghe theo lời mẹ
Người cô đơn, giàu có
Con là một quí bà!"
 
"Con không làm quí bà
Con không đi đâu cả
Thà mẹ đem con mẹ
Chôn vùi xuống nấm mồ.
Thà rằng con nằm nghe
Lời nguyện cầu, than khóc
Thà rằng con sẽ chết
Hơn làm vợ ông già".
 
Bà mẹ không đầu hàng
Mẹ làm, như mẹ muốn
Cô gái đôi mắt đen
Héo hon và im lặng.
Rồi sau nàng quyết định
Tìm thầy bói trong đêm
Xem bao ngày được sống
Có còn gặp người thương?
"Bà yêu dấu của con
Tấm lòng con chân thành
Cho con biết sự thật
Những điều con ước mong.
Người yêu dấu của con
Còn sống, còn khỏe mạnh
Và có còn yêu mến
Hay đã bỏ rơi con.
Bà yêu dấu của con
Như bà cũng đã biết
Mẹ già con bắt ép
Con phải đi lấy chồng
Nhưng người đó con không
Một chút nào yêu hết
Con đã muốn trầm mình
Chỉ lòng còn thương tiếc.
Nếu người yêu con chết
Xin bà hãy làm cho
Để con không quay về
Không quay về nhà nữa
Ở nhà người ta đã
Chuẩn bị để cưới con".
"Được thôi, nhưng mà con
Nghe lời ta khuyên nhủ
Đau khổ ta cũng từng
Nên giờ ta hiểu rõ
Dù đã qua tất cả
Ta học được bao điều
Chuyện của con gái yêu
Ta từ lâu biết rõ
Ta từ lâu chuẩn bị
Một liều thuốc cho con."
 
Nói xong bà liền mang
Thứ thuốc đen như mực
"Con hãy lấy thuốc này
Rồi đứng kề bên giếng
Khi gà chưa gáy sáng
Hãy rửa mặt rửa mày
Sau đó con hãy uống
Và đừng sợ gì nghe!
Con cũng đừng nhìn xa
Dù tiếng kêu ở đó
Chạy đến nơi con đã
Chia tay với người ta.
Lúc đó giữa trời xa
Một vầng trăng sáng tỏ
Con uống thêm lần nữa
Chưa thấy – tiếp lần ba.
Sau lần một quay về
Với ngày xưa thiếu nữ
Sau lần hai – từ xa
Dồn dập bàn chân ngựa
Nếu người yêu còn đó
Sẽ lập tức quay về
Còn sau lần thứ ba…
Tốt nhất đừng hỏi nữa.
Đừng hỏi nữa, bởi vì
Tất cả vào trong nước
Bây giờ con hãy đi
Nhìn vẻ xưa nét đẹp".
 
Thế là nàng lấy thuốc
"Con xin cảm ơn bà"
Nàng lặng lẽ bước ra
Nghĩ: "Chắc không về được!"
Nàng rửa mặt, uống thuốc
Và không chỉ một lần
Mà ba lần liên tục
Rồi khóc và hát lên:
 
"Thiên nga của ta ơi
Hãy bơi đi trên biển
Cây dương của ta ơi
Hãy cao lên, hãy lớn
Hãy cao và thanh mảnh
Chạm tới đám mây kia
Hỏi trời: người ta yêu
Có còn yêu ta nữa?
Và cây dương hãy nhìn
Về bên kia biển cả
Vì bên kia – vui mừng
Còn bên này – đau khổ
Người yêu ta đâu đó
Đang rảo bước trên đồng
Mặc ta khóc, tháng năm
Phí hoài vì người đó.
Hãy nói rằng: thiên hạ
Đang chế giễu, đang cười
Ta sẽ chết, nếu người
Không còn quay về nữa!
Cả mẹ ta cũng thế
Mẹ muốn đem chôn vùi
Nhưng rồi ai sau này
Sẽ chăm lo cho mẹ
Biết lấy ai giúp đỡ
Ai an ủi mẹ già?
Ôi mẹ, mẹ của ta
Ôi người yêu, lạy Chúa!
Nếu người ta yêu thương
Không còn bên kia biển
Ngươi hãy khóc về đêm
Thâu đêm và suốt sáng
Cây dương ơi hãy lớn
Và cao hướng bầu trời
Còn thiên nga hãy bơi
Về phía bên kia biển!"
 
Nàng đã khóc và hát
Những câu hát đau buồn
Mặc cho người kinh ngạc
Nàng biến thành cây dương.
Không trở về nhà mình
Hạnh phúc chưa được hưởng
Cây dương cao, thanh mảnh
Vươn tới tận mây xanh.
Tiếng gió hú trong rừng
Gió đi dạo trên đồng
Gió làm cho cúi xuống
Sát đất một cây dương.

Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Monuments