Thành Quân Quán

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thành Quân Quán
Seonggyungwan quad.jpg
Hangul 성균관
Hanja (Hán tự) 成均館
Hán-Việt Thành Quân Quán
McCune-Reischauer Sŏngkyunkwan
Romaja quốc ngữ Sungkyunkwan

Sungkyunkwan (Hán Việt: Thành Quân Quán), cũng gọi là Taehak (태학, 太學, Thái Học), là học phủ tối cao của các vương triều Cao LyTriều Tiên tại Triều Tiên. Học phủ này tương đương với Quốc tử giámThái Học tại Trung Quốc. Thành Quân Quán dưới thời Cao Ly nay thuộc thành phố Kaesong tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên còn Thành Quân Quán dưới thời vương triều Triều Tiên nay nằm tại thủ đô Seoul của Hàn Quốc.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc tử giám, cơ sở giáo dục cao nhất dưới thời Cao Ly được hình thành từ tháng 11 năm 992 bởi Cao Ly Thành Tông. Quốc tử giám được đổi tên thành Thành Quân Quán vào tháng 6 năm 1304, và sau đó được di chuyển đến địa điểm Seongmun-gwan vào năm 1367 dưới thời Cao Ly Cung Mẫn Vương.

Sau khi nhà Triều Tiên được hình thành vào năm 1392, vua Thái Tổ di dời Thành Quân Quán về Hán Thành, nay là Seoul, và cũng cho thành lập 360 Hương giáo trên toàn quốc vào tháng 7 năm 1398 để thiết lập nên một hệ thống giáo dục quốc gia.

Thành Quân Quán bị tàn phá do hỏa hoạn vào năm 1400 và được xây dựng lại vào năm 1407. Thành Quân Quán lại được xây lại một lần nữa vào năm 1601 sau khi bị phá hủy trong Chiến tranh Nhật Bản-Triều Tiên (1592-1598).

Trong thời kỳ bán đảo Triều Tiên trở thành thuộc địa của Nhật Bản từ 1910–1945, Thành Quân Quán bị hạ cấp thành một thể chế tư và đổi tên thành Kinh Học Viện (Gyunghakwon), giáo dục bằng tiếng Triều Tiên bị cấm trong khi giáo dục bằng tiếng Nhật có tác động mạnh mẽ.

Sau năm 1945, Kinh Học Viện được đổi lại tên thành Thành Quân Quán và chức năng giáo dục được chuyển cho Đại học Sungkyunkwan được thành lập sau đó. Thành Quân Quán hiện là một trung tâm văn hóa.

Cấu trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Thành Quân Quán rộng khoảng 10.000 m², gồm khoảng 18 kiến trúc như:

  • Đại Thành Điện (대성전, Daeseongjeon): Đền thờ Khổng Tử.
  • Đông Vu (동무, Dongmu) và Tây Vu (서무, Seomu): Đền tưởng niệm 10 nho sinh của Khổng Tử, 18 học giả Triều Tiên.
  • Minh Luận Đường (명륜당, Myeongnyundang): Nhà học chính.
  • Tôn Kinh Các (존경각, Jongyeonggak): Thư viện
  • Đông trai (동재, Dongjae) và Tây trai (서재, Seojae): Ký túc xá
  • Phi Xiển Đường (비천당, Bicheon-dang): Nhà thi
  • Tế Khí Khố (제기고, Jegigo): Nhà cất giữ đồ cúng bái
  • Tiến sĩ thực đường (진사식당, Jinsasikdang): Nhà ăn
  • Chính Lục Sảnh (정록청, Jeongnokcheong): Nhà quản lí

Những người quản lý học phủ thuộc hàng tam phẩm (삼품, sampum) và có các chức vụ như Tế tửu (좨주, Jwaeju), Nhạc chính (악정, Akjeong), Trực giảng (직강 Jikgang), Bác sĩ (박사, Baksa, tức tiến sĩ), Học chính (학정, Hakjeong), Học lục (학록, Haknok), Học dụ (학유, Hagyu).

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Thành Quân Quán chủ yếu giảng dạy giáo lý liên quan đến Nho giáo, pháp luật, số học, thư pháp và phần lớn là nhằm chuẩn bị kiến thức cho các nho sinh trở thành quan lại triều đình. Mục tiêu chính của các nho sinh là vượt qua kỳ khoa cử, trong đó đánh giá khả năng thông hiểu và giải thích các cổ văn Trung Hoa theo hệ tư tưởng Nho giáo chính thống.

Khi mới được thành lập, Thành Quân Quán có 150 nho sinh, con số này tăng lên 200 vào năm 1429. Kỳ thi tuyển sinh của Thành Quân Quán cực kỳ khắc nghiệt, và chỉ cho phép con trai của các quan lại cấp cao hoặc lưỡng ban dự thi.

Có hai cách để được chấp nhận vào học tại Thành Quân Quán. Hoặc là các nho sinh phải vượt qua hai kỳ thi nhập học, Sinh viên thí (생원 시, Saeng-wonsi) và Tiến sĩ thí (진사 시, Jinsasi), hoặc hai kỳ thi khác, Tăng bảo (승보, Seungbo) và Ấm tự (음서, Eumseo). Nếu họ vượt qua những kỳ thi này, họ có cơ hội được chấp nhận.

Sau khi được chấp nhận, các nho sinh phải hoàn thành chương trình giảng dạy và đạt được số điểm tối thiểu là 300 nguyên/viên điểm (원점, Wonjeom) để đủ điều kiện để tham gia kỳ thi khoa bảng đầu tiên.

Các nho sinh nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]