Thơ một xu một bài

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thơ một xu một bài
Tập tin:Pomes Penyeach.jpg
Bìa cuốn Thơ một xu... ấn bản đầu tiên.
Ấn bản lần thứ nhất (Powells.com)
Thông tin sách
Tác giả James Joyce
Quốc gia Ireland
Thể loại Thơ
Nhà xuất bản Shakespeare and Company
Ngày phát hành 1927
Kiểu sách Print (Hardback & Paperback)
Số trang 47
ISBN 9781112863509

Thơ một xu một bài (tiếng Anh: Pomes Penyeach) là tên một tập thơ tình gồm 13 bài của nhà văn, nhà thơ Ai-len James Joyce, tiếp sau tập thơ Nhạc thính phòng (Chamber Music) đã in năm 1907. Những bài thơ trong tập này được viết trong khoảng thời gian 20 năm, từ 1904 đến 1924 và được xuất bản ngày 7 tháng 7 năm 1927 bởi Shakespeare and Co với giá bán một shilling (mười hai penny). Lúc đầu Joyce có ý định chỉ in 12 bài và định giá 1 đồng, nghĩa là mỗi bài một xu nhưng sau đó ông quyết định thêm vào một bài (Tilly). Tilly – nghĩa là thêm vào, hiểu theo cách nói của người thời nay thì đây là bài khuyến mại.

Tên tập thơ Pomes Penyeach là cả một câu chuyện dài, nhưng nếu nói một cách ngắn gọn thì đây là cách chơi chữ của James Joyce. Từ Pomes có thể hiểu theo tiếng AnhPoems (Thơ), và cũng có thể hiểu theo tiếng PhápPommes (Táo). Bởi vậy tên của tập thơ này có thể dịch là Thơ một xu một bài hoặc Táo một xu một quả.

Văn chương vốn bạc bẽo muôn đời nay, mặc dù đặt tên cho tập thơ như vậy nhưng sau khi nó được xuất bản, Joyce đã viết một bài thơ vui về tập thơ và người đã biên soạn ra nó.

Pennipomes Twoguineaseach
 
Sing a song of shillings
A guinea cannot buy,[1]
Thirteen tiny pomikins
Bobbing in a pie.
 
The printer's pie was published
And the pomes began to sing
And wasn't Herbert Hughesius
As happy as a king!
Thơ một xu – tiền cả đống
 
Tập thơ giá một đồng
Tiền vàng không mua được
Mười ba bài trong một
Một chiếc bánh ngon lành.
 
Khi chiếc bánh in xong
Thì thơ bắt đầu hát
Còn Herbert Hughesius[2]
Hạnh phúc như ông hoàng!

Nội dung tập thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Tập thơ gồm 13 bài sau đây:

  • Tilly (Dublin, 1904, tên lúc đầu là "Cabra")
  • Watching the Needleboats at San Sabba (Trieste, 1912)
  • A Flower Given to My Daughter (Trieste, 1913)
  • She Weeps over Rahoon (Trieste, 1913)
  • Tutto è sciolto (Trieste, 13 July 1914)
  • On the Beach at Fontana (Trieste, 1914)
  • Simples (Trieste, 1914)
  • Flood (Trieste, 1915)
  • Nightpiece (Trieste, 22 January 1915)
  • Alone (Zurich,1916)
  • A Memory of the Players in a Mirror at Midnight (Zurich, 1917)
  • Bahnhofstrasse (Zurich, 1918)
  • A Prayer (Paris, 1924)

Tập thơ mỏng này (toàn bộ chưa đầy 1000 từ) đã chứng tỏ một sức sống mãnh liệt theo thời gian. Một số bài (đặc biệt là "Tilly", "Bông hoa tặng cho con gái tôi", "Trên bãi biển ở Fontana", "Bahnhofstrasse") vẫn liên tục xuất hiện trong các tuyển tập thơ cho đến tận ngày nay.

Tập thơ này đã được Hồ Thượng Tuy dịch sang tiếng Việt.

Trích một số bài[sửa | sửa mã nguồn]

Xem đua thuyền ở San Sabba
 
Tôi nghe lời những con tim than thở
Trên nước sông và bên những mái chèo
Và tôi nghe ra những tiếng thở dài:
Không quay về, không còn quay về nữa.
 
Ôi con tim, ôi lời than hoa cỏ
Vô ích thôi, thương xót để mà chi
Cơn gió hoang bay đi chẳng quay về
Không quay về, không còn quay về nữa.
 
Bông hoa tặng cho con gái tôi
 
Như bông hoa hồng trắng, mong manh
Là bàn tay đã tặng
Cho ai trong lòng trĩu nặng
Và héo úa, như tình.
 
Nhưng mảnh mai hơn hoa hồng
Dịu dàng hơn quên lãng
Là đôi con mắt âu yếm
Cô bé với những đường gân xanh.[3]
 
Nàng khóc ở Rahoon
 
Mưa rơi lặng lẽ ở Rahoon
Người yêu của em nằm đấy
Em như nghe tiếng người đau đớn gọi
Qua vầng trăng xám mịt mùng.
 
Anh thân yêu, anh có nghe thấy chăng
Tiếng của người gọi em đau buồn vậy
Không có tiếng trả lời, và cơn mưa tối
Giữa trời đêm.
 
Anh và em cũng sẽ có một lần
Về ngủ yên như con tim buồn ấy
Dưới những bụi tầm ma và cỏ lối
Và tiếng mưa thì thầm.[4]
 
Trên bờ biển ở Fontana
 
Cơn gió gào trên bến
Tiếng sóng biển khóc than
Biển cổ xưa như đánh số lên
Từng viên đá ngầu bọt biển.
 
Tôi cảm thấy từ cơn gió lạnh
Quây lấy con với sự ấm nồng
Tôi chạm lên bờ vai run
Và bàn tay bé bỏng.
 
Xung quanh chúng tôi từ phía trên
Nỗi sợ và bóng đêm đổ xuống
Còn trong con tim, sâu bất tận
Cơn đau tình![5]
 
Triều cường
 
Trên vách đá những chùm nho nâu-vàng
Con nước no nê thỏa mãn quét lên
Như gà mái – giang cánh trên mặt nước
Ngày ảm đạm u buồn.
 
Vẻ hoang dã của con nước nhẫn tâm
Giương cái bờm xù – còn ở phía trên
Ngày mệt mỏi chau mày nhìn ra biển
Vẻ ngạo mạn coi thường.
 
Dâng lên và chiếm lĩnh, ôi cành nho vàng
Những quả nho dưới con nước triều dâng
Của tình yêu vuốt ve, rộng lớn và tàn nhẫn
Trước vẻ lưỡng lự của anh.[6]
Bản dịch của Hồ Thượng Tuy
Watching The Needleboats At San Sabba
 
I heard their young hearts crying
Loveward above the glancing oar
And heard the prairie grasses sighing:
No more, return no more!
 
О hearts, О sighing grasses,
Vainly your loveblown bannerets mourn!
No more will the wild wind that passes
Return, no more return.
 
A Flower Given To My Daughter
 
Frail the white rose and frail are
Her hands that gave
Whose soul is sere and paler
Than time's wan wave.
 
Rosefrail and fair — yet frailest
A wonder wild
In gentle eyes thou veilest,
My blueveined child.
 
She Weeps Over Rahoon
 
Rain on Rahoon falls softly, softly falling,
Where my dark lover lies.
Sad is his voice that calls me, sadly calling,
At grey moonrise.
 
Love, hear thou
How soft, how sad his voice is ever calling,
Ever unanswered, and the dark rain falling,
Then as now.
 
Dark too our hearts, О love, shall lie and cold
As his sad heart has lain
Under the moongrey nettles, the black mould
And muttering rain.
 
On The Beach At Fontana
 
Wind whines and whines the shingle,
The crazy pierstakes groan;
A senile sea numbers each single
Slimesilvered stone.
 
From whining wind and colder
Grey sea I wrap him warm
And touch his trembling fineboned shoulder
And boyish arm.
 
Around us fear, descending
Darkness of fear above
And in my heart how deep unending
Ache of love!
 
Flood
 
Goldbrown upon the sated flood
The rockvine clusters lift and sway;
Vast wings above the lambent waters brood
Of sullen day.
 
A waste of waters ruthlessly
Sways and uplifts its weedy mane
Where brooding day stares down upon the sea
In dull disdain.
 
Uplift and sway, О golden vine, —
Your clustered fruits to love's full flood,
Lambent and vast and ruthless as is thine
Incertitude!

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Guinea - Đồng ghinê (tiền vàng của nước Anh xưa, giá trị tương đương 21 silinh).
  2. ^ Người biên soạn tập thơ này là Herbert Hughesius. Joyce rất lấy làm hài lòng trước việc làm này.
  3. ^ Bài thơ này về lần Amalia Popper (tình nhân của Joyce) gặp con gái Lucia của ông. Tình yêu tuyệt vọng với Samuel Beckett (1906 – 1989) đã làm cho Lucia mắc bệnh tâm thần phân liệt. Chi tiết này cũng được Joyce nói đến trong tác phẩm văn xuôi "Giacomo Joyce": "Bông hoa nàng tặng cho con gái của tôi. Món quà tặng mong manh, người tặng quà mong manh, đứa bé có những đường gân xanh mỏng mảnh" (A flower given by her to my daughter. Frail gift, frail giver, frail blue-veined child).
  4. ^ Bài thơ này viết về Nora Barmacle, vợ của James Joyce. Nghĩa địa Rahoon ở xứ Galway, Ai-len là nơi yên nghỉ của Michael Bodkin, người từng yêu Nora và đã chết vì tình. Trong truyện "Người chết" (cuối tập Người Dublin) của Joyce có nói đến những chi tiết này.
  5. ^ Đây là bài thơ viết về lần tắm cho con trai Giorgio.
  6. ^ Khổ cuối: "Uplift and sway… Incertitude!" bằng văn xuôi sẽ là: "Em nhô lên và em đung đưa, ô cành nho vàng, những quả nho của em dưới con nước lớn của tình yêu ve vuốt, to lớn và nhẫn tâm, như vẻ lưỡng lự (không tin chắc) của em". Hình tượng "cành nho vàng", cũng như "cành hoa tan tác" ở bài "Tilly" có nguồn gốc từ những lời của Chúa Giê-su Christ: "Ta là gốc nho thật, Cha ta là người trồng nho. Hễ nhánh nào trong ta mà không kết quả thì Ngài chặt hết, và Ngài tỉa sửa những nhánh nào kết quả để được sai trái hơn. Hãy cứ ở trong ta thì ta sẽ ở trong các ngươi. Như nhánh nho, nếu không dính vào gốc nho, thì không tự mình kết quả được, nếu các ngươi chẳng ở trong ta thì cũng không kết quả được.<…> Cũng như nhánh nho, nhánh khô đi, người ta lượm lấy, quẳng vào lửa thì nó cháy". (Tân Ước_Giăng, XV:1-6). Từ cuối cùng: Incertitude – không chắc là còn tìm lại được những giá trị tinh thần mà Joyce đã có từ thời thơ ấu. Có lẽ vì do yêu nhiều và phóng đãng quá rồi hối hận chăng? Nỗi khổ này hành hạ Joyce đến suốt cuộc đời.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]