Thảm sát Batavia năm 1740

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cuộc Thảm sát Batavia
Hai bức vẽ đen trắng về các sự kiện trong thảm sát. Ở bức vẽ bên trái, lính Hà Lan sát hại các cư dân người Hoa trong hậu cảnh các ngôi nhà của các cư dân này bị đốt. Ở bức vẽ bên phải, người Hà Lan hành hình các tù nhân người Hoa trong một sân trong.
Những tù binh người Hoa bị hành hình trong cuộc thảm sát
Ngày 9–22 tháng 10 năm 1740,
nhiều cuộc tập kích diễn ra liên tục trong tháng tiếp theo
Địa điểm Batavia, Đông Ấn Hà Lan
Đặc điểm Cuộc thảm sát
Kết quả Xem Kết cục
Các phe trong cuộc xung đột dân sự
Quân đội Công ty Đông Ấn Hà Lan, người dân Bản địa và nhiều nhóm nô lệ khác
Người Indonesia gốc Hoa
Thương và tử vong
500 quân Hà Lan bị giết
>10.000 người bị giết,
>500 bị thương

Cuộc Thảm sát Batavia năm 1740 (tiếng Hà Lan: Chinezenmoord, nghĩa là "Giết chết người Hoa"; tiếng Indonesia: Geger Pacinan, có nghĩa là "Bạo loạn tại phố người Hoa") là một cuộc tàn sát nhằm vào người Hoa tại thành phố cảng Batavia (nay là Jakarta) tại Đông Ấn Hà Lan. Bạo lực trong thành phố kéo dài từ ngày 09 tháng 10 năm 1740 cho đến ngày 22 tháng 10, những cuộc đụng độ nhỏ bên ngoài các thành lũy tiếp tục cho đến cuối tháng 11 năm đó. Đây là sự kiện phân biệt đối xử đối với người gốc HoaIndonesia được ghi nhận sớm nhất. Các nhà sử học đã ước tính rằng ít nhất 10.000 người Hoa đã bị tàn sát, số người sống sót là không chắc chắn, mặc dù con số này được dự đoán nằm trong khoảng từ 600 đến 3.000 người.

Trong tháng 9 năm 1740, tình trạng bất ổn bắt đầu nổi lên từ các cụm dân cư gốc Hoa, chúng được châm ngòi từ hoạt động đàn áp của chính phủ và thu nhập giảm do giá đường sụt giảm trước khi diễn ra vụ thảm sát. Để đáp lại, tại một cuộc họp của Hội đồng Ấn (Raad van indie), cơ quan quản lý của Công ty Đông Ấn Hà Lan, Toàn quyền Adriaan Valckenier tuyên bố rằng bất kỳ cuộc nổi dậy sẽ bị đáp trả bằng vũ lực trí mạng. Nghị quyết của ông có hiệu lực từ ngày 07 tháng 10 sau khi hàng trăm người Hoa, nhiều người trong số họ là các công nhân máy mía đường, đã giết chết 50 binh sĩ Hà Lan. Người Hà Lan đã phái quân đội đến tịch thu tất cả các loại vũ khí của người Hoa và đặt cộng đồng người Hoa dưới lệnh giới nghiêm. Hai ngày sau, sau khi nghe những tin đồn về sự tàn ác của người Hoa, các sắc dân khác ở Batavia bắt đầu đốt cháy nhà của người Hoa dọc theo phố Besar và binh sĩ Hà Lan đã phát động một cuộc tấn công bằng cách sử dụng súng thần công bắn vào các nhà ở của họ. Bạo lực nhanh chóng lan rộng khắp Batavia, rất nhiều người Hoa đã bị giết chết. Mặc dù Valckenier tuyên bố một lệnh ân xá vào ngày 11 tháng 10, song các băng nhóm quân không chính quy tiếp tục săn lùng và tiêu diệt người Hoa cho đến ngày 22 tháng 10, khi Valckenier kêu gọi một cách mạnh mẽ hơn nhằm chấm dứt chiến sự. Bên ngoài các bức tường bao quanh thành phố, quân đội Hà Lan tiếp tục giao chiến để ngăn chặn các công nhân nhà máy đường nổi loạn và sau vài tuần với những cuộc đụng độ nhỏ, quân đội do Hà Lan chỉ huy đã tấn công các thành lũy của người Hoa trong các nhà máy đường trên toàn vùng, đẩy lui những người sống sót về phía đông về phía Bekasi.

Năm sau, người Hoa ở khắp Java đã bị tấn công, gây ra một cuộc chiến tranh kéo dài hai năm giữa các lực lượng người Hoa và Java chống lại quân đội Hà Lan. Valckenier sau đó bị triệu hồi về Hà Lan và bị buộc tội liên quan đến vụ thảm sát, Gustaaf Willem van Imhoff đã được cử sang Indonesia thay thế chức Toàn quyền. Di sản của vụ thảm sát trong văn hóa đại chúng được tìm thấy trong văn học Hà Lan. Nó cũng được trích dẫn như là một từ nguyên có khả năng cho tên gọi của một số khu vực ở Jakarta.

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Adriaan Valckenier ra lệnh thảm sát người Hoa

Trong công cuộc thuộc địa hóa khu vực Đông Ấn (nay là Indonesia) của người Hà Lan, nhiều người Hoa lành nghề đã được thuê làm thợ xây dựng thành phố Batavia; phía tây bắc đảo Java;[1] ngoài ra nhiều người trong số họ còn làm thương nhân, người bán hàng và công nhân nhà máy mía đường.[2] Sự bùng nổ kinh tế, kết quả từ việc thúc đẩy thương mại giữa Đông Ấn và Trung Quốc thông qua cảng Batavia đã khiến lượng người nhập cư từ Trung Quốc đến Java tăng lên nhanh chóng. Tại Batavia, số lượng người Hoa tại đây đã lên đến 10.000 người vào năm 1740, chưa kể đến việc có hàng nghìn người khác sống tại các khu vực ngoại thành.[3] Người Hà Lan yêu cầu họ phải mang giấy đăng ký theo bên người, và trục xuất những người không tuân thủ quay trở về Trung Quốc.[4]

Chính sách trục xuất đã được thắt chặt trong thập niên 1730, sau khi một trận dịch sốt rét khiến hàng nghìn người bỏ mạng, trong đó có Toàn quyền Đông Ấn Hà Lan, Dirck van Cloon.[4][5] Theo nhà sử học người Indonesia Benny G. Setiono, tiếp theo trận dịch đó là sự gia tăng nỗi nghi ngờ và lòng oán hận của người bản địa và người Hà Lan đối với nhóm sắc dân người Hoa, cộng đồng ngày càng tăng về số lượng và ngày càng giàu có.[5] Như một kết quả, Ủy viên Nội vụ Bản địa Roy Ferdinand, theo lệnh của Toàn quyền Adriaan Valckenier, đã ra sắc lệnh vào ngày 25 tháng 7 năm 1740 rằng những người Hoa đáng nghi sẽ bị trục xuất đến Zeylan (nay là Sri Lanka), và buộc phải thu hoạch quế.[5][6][7][8] Nhiều thương gia người Hoa giàu có đã bị nhiều quan chức Hà Lan tham nhũng tống tiền và phải hối lộ để tránh bị trục xuất;[5][9][10] Stamford Raffles, một nhà thám hiểm và sử gia người Anh đã ghi chép rằng theo một số tư liệu của người Java, những người Hà Lan đã ra lệnh cho thủ lĩnh của người Hoa (người được người Hà Lan chỉ định làm người đứng đầu và đại diện cho người Hoa) tại Batavia là Liên Phú Quang (連富光, Ni Hoe Kong) trục xuất những người mặc đồ đen hoặc lam vì cho rằng những người này đều là người nghèo. Cũng có tin đồn rằng, những người này không bị trục xuất đến đích đến mà bị vứt xuống biển sau khi vừa rời khỏi Java,[3][9] và theo vài thông tin khác, một số đã chết khi xảy ra đụng độ trên tàu. Việc trục xuất những người này gây ra lo ngại cho những người còn ở lại, dẫn đến sự bỏ việc của nhiều công nhân Trung Quốc.[3][9]

Đồng thời, những người bản địa tại Batavia, bao gồm cả những nhân công người Betawi cũng đã dần mất lòng tin vào người Hoa. Yếu tố kinh tế đóng vai trò quan trọng trong vấn đề này: hầu hết người dân địa phương đều là người nghèo, và nhận thấy người Hoa đang ngụ cư ở những khu vực giàu có nhất trong thành phố.[11][12] Dù nhà sử học người Hà Lan A.N. Paasman đã gọi người Hoa thời bấy giờ là "Người Do Thái của châu Á",[7] nhưng trên thực tế, tình hình còn phức tạp hơn thế nhiều. Có rất nhiều người Hoa nghèo là những công nhân nhà máy đường sống quanh Batavia, những người cảm thấy rằng họ bị bóc lột ngang nhau bởi cả những ông chủ người Hà Lan lẫn người Hoa. Nhiều người Hoa giàu sang có nhà máy riêng còn lấn sang cả ngành nông nghiệp và thương thuyền, thu nhập chủ yếu dựa vào nhà máy và việc chưng cất arrack, một loại thức uống có cồn làm từ mậtgạo.[13][14] Tuy nhiên, những người Hà Lan đứng đầu đã cho định lại giá mía đường, mà chính điều này là thủ phạm chính gây nên bất ổn.[15] Vì sự suy giảm nghiêm trọng của giá đường trên toàn thế giới bắt đầu trong thập niên 1720 có căn nguyên từ xuất khẩu sang châu Âu tăng lên và cạnh tranh từ phía Tây Ấn,[16][17] do đó ngành công nghiệp đường ở Đông Ấn đã phải chịu thiệt hại đáng kể. Năm 1740, giá đường trên toàn thế giới đã giảm xuống chỉ còn một nửa giá năm 1720. Vì đường là nguồn xuất khẩu chính nên điều này đã gây nên những khó khăn tài chính nhất định cho thuộc địa này.[18]

Ban đầu, một số thành viên của Hội đồng vùng Ấn (Raad van Indië) tin rằng người Trung Quốc (chỉ nhà Thanh) không bao giờ có thể tấn công Batavia, và đã đưa ra các biện pháp để kiểm soát người Hoa. Tuy nhiên điều này đã bị phe đối lập của Valckenier, do cựu Toàn quyền Zeylan Gustaaf Willem van Imhoff, người đã đến Batavia năm 1738, phản đối.[19][20][21] Một lượng lớn người Hoa đến định cư tại ngoại ô Batavia từ các thành phố gần đó. Tuy nhiên, vào ngày 26 tháng 9, Valckenier đã triệu tập một cuộc họp Hội đồng khẩn cấp, trong thời gian đó ông đã ra lệnh dùng vũ lực đáp trả lại bất kỳ cuộc nổi dậy của người Hoa.[5] Chính sách này tiếp tục để bị phe van Imhoff phản đối. Tác giả Vermeulen (1938),[a] cho rằng những căng thẳng giữa 2 phe phái đóng một vai trò nhất định trong các vụ thảm sát tiếp theo.[6]

Vào buổi tối ngày 1 tháng 10, Valckenier nhận được báo cáo rằng có một đám đông người Hoa tụ tập biểu tình bên ngoài cổng thành, do bức xúc với các điều khoản được đề ra trong cuộc họp Hội đồng khẩn cấp năm ngày trước đó. Valckenier vẫn nghi ngờ về tính xác thực của báo cáo này. Tuy nhiên, sau khi một trung sĩ người Bali bị người Hoa giết hại ngay bên ngoài thành, hội đồng đã quyết định áp dụng các biện pháp trừng phạt và tăng cường các đội quân bảo vệ.[6][22] Hai nhóm gồm 50 người Âu và một số người khuân vác bản địa đã được điều đến tiền đồn ở phía nam và phía đông thành phố, và kế hoạch cho tấn công đã sẵn sàng.[6][22]

Sự biến[sửa | sửa mã nguồn]

Vụ thảm sát[sửa | sửa mã nguồn]

Điểu khám đồ một phần thành phố Batavia, nơi diễn ra các vụ giao chiến, trong khi các ngôi nhà chìm trong lửa ở cận cảnh vào thời điểm xảy ra thảm sát người Hoa năm 1740.
Nhà cửa của người Hoa đều bị những người đối lập đốt cháy hết.

Sau khi nhóm công nhân nhà máy đường người Hoa sử dụng vũ khí tự chế để cướp và đốt cháy nhà máy,[13] hàng trăm người Hoa bị nghi ngờ do Liên Phú Quang lãnh đạo đã giết chết 50 binh sĩ Hà Lan tại Meester Cornelis (nay là Jatinegara) và Tanah Abang vào ngày 7 tháng 10.[b][c][5][10] Trước tình hình này, người Hà Lan đã gửi 1.800 quân chính quy, kèm theo schutterij (dân quân) và mười một tiểu đoàn lính nghĩa vụ để ngăn chặn cuộc nổi dậy; một lệnh giới nghiêm được ban ra, và thêm vào đó là một lễ hội của người Hoa vốn được lên kế hoạch đã bị hủy bỏ.[5] Lo sợ rằng người Hoa sẽ tấn công khi thấy có ánh nến, nên tất cả người dân trong thành phố được ra lệnh cấm thắp nến và bị bắt phải giao nộp "kể cả con dao nhà bếp nhỏ nhất".[26] Ngay ngày hôm sau, người Hà Lan đã đẩy lùi một cuộc tấn công bởi hơn một vạn người Hoa đến từ TangerangBekasi ở bên ngoài thành. Raffles ghi rằng, đã có 1.789 người Hoa bị giết trong cuộc tấn công này.[27] Trước những phản ứng giữ dội của lực lượng nổi dậy, Adriaan Valckenier buộc phải triệu tập một cuộc họp khẩn cấp vào ngày 9 tháng 10.[6][28]

Cũng vào lúc đó, nhiều tin đồn lan truyền đến tai các nhóm sắc dân khác tại Batavia, bao gồm các nô lệ từ BaliSulawesi, cũng như các đội quân người Bugi và Bali rằng người Trung Quốc đang âm mưu để sát hại, hãm hiếp hoặc biến họ thành nô lệ.[4][29] Những nhóm này đã nổi dậy đốt phá các nhà cửa của người Hoa dọc theo phố Besar. Người Hà Lan cũng đã cho quân đi đánh phá vào các khu định cư khác của người Hoa tại Batavia, đi đến đâu họ đốt phá và giết người đến đấy. Chính trị gia và nhà phê bình Chủ nghĩa thực dân người Hà Lan Wolter Robert van Hoëvell đã viết rằng "Phụ nữ đang mang thai và cho con bú, trẻ em, và cả những người già đang run rẩy đều ngã xuống dưới lưỡi gươm. Tù nhân thì bị người ta giết như giết cừu".[d][30]

Quân đội dưới quyền Trung úy Hermanus van Suchtelen và Đại úy Jan van Oosten, một người sống sót từ Tanah Abang, đã đánh chiếm những cơ sở trong quận người Hoa; Suchtelen cùng quân lính của mình chiếm giữ trại chăn nuôi gia cầm, trong khi van Oosten đem lính đánh chiếm một bưu điện nằm cạnh một con kênh gần đó.[31] Vào khoảng 5:00 giờ chiều, người Hà Lan đã dùng súng thần công bắn phá vào các nhà ở của người Hoa, khiến chúng bị bắt lửa.[32][8] Một số người bị chết trong nhà, trong khi nhiều người khác bị bắn chết ngày sau khi vừa ra khỏi cửa, hoặc tự mình tìm đến cái chết trong tuyệt vọng. Những người chạy thoát đến con kênh gần khu nhà ở thì bị đội quân Hà Lan đang chờ trên những con thuyền nhỏ giết hết.[32] Trong khi đó, đội quân khác đang đi tuần tra tại khu nhà bị cháy, gặp ai còn sống là giết tất, không kể một ai.[30] Những hành động kiểu thế này dần lan nhanh ra khắp thành phố.[32] Vermeulen nói rằng, rất nhiều người trong số các thủ phạm đều là thủy thủ và nhiều "thành phần xấu và bất thường của xã hội" khác.[e][33] Trong thời gian này, nạn cướp bóc diễn ra liên miên.[33][27]

Tù binh người Hoa bị người Hà Lan sát hại trong ngày 10 tháng 10 năm 1740.

Bạo lực tiếp tục lan rộng vào ngày tiếp theo, những bệnh nhân người Hoa đang ở trong một bệnh viện cũng bị bắt ra ngoài rồi sát hại.[34] Những nỗ lực để dập tắt đám cháy ở các khu vực bị bắn phá ngày hôm trước không mang lại kết quả mà ngọn lửa ngày càng lan rộng ra cho đến ngày 12 tháng 10.[35] Trong khi đó, một nhóm gồm 800 binh sĩ Hà Lan và 2.000 người dân bản địa đã tấn công Kampung Gading Melati, nơi đang là đại bản doanh của những người Hoa còn sống do Khe Pandjang đứng đầu.[f] Mặc dù người Hoa cố gắng sơ tán đến khu vưc Paninggaran ở gần đó, nhưng họ lại bị quân Hà Lan đánh đuổi. Đã có 450 người bên phía Hà Lan và 800 người bên phe nổi loạn thương vong trong cả hai vụ tấn công.[27]

Những cuộc săn lùng và bạo lực tiếp diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù Valckenier tuyên bố một lệnh ân xá vào ngày 11 tháng 10, các băng nhóm quân không chính quy tiếp tục săn lùng và tiêu diệt người Hoa.[38] Hội đồng Toàn quyền Đông Ấn Hà Lan ra thông báo, ai giao nộp đầu người Hoa cho quan quân sẽ nhận được 2 đồng Ducat, đây vốn là kế sách để khuyến khích dân chúng bản địa.[38] Và kết quả là những người Hoa vốn đã chạy thoát khỏi cuộc sát hại lần trước nay lại bị các băng nhóm địa phương sát hại và đem nộp quan quân, còn các băng nhóm thì nhận được phần thưởng. Người Hà Lan phối hợp với người bản địa tại các khu vực khác nhau ở Batavia; lính ném lựu gốc Bali và Bugi được gọi đến để gia nhập vào quân đội vào ngày 14 tháng 10.[38] Ngày 22 tháng 10, Valckenier tiếp tục kêu gọi một cách mạnh mẽ hơn nhằm chấm dứt chiến sự.[34] Ông ân xá cho tất cả người Hoa, ngoại trừ những người đầu đảng. Ông đã hiến tặng 500 rijksdaalder cho các nạn nhân.[39]

Tuy vậy, ở ngoại thành, những cuộc tập kích giữa phiến quân người Hoa và quân Hà Lan tiếp tục diễn ra. Ngày 25 tháng 10, sau hai tuần giao chiến lẻ tẻ, 500 người Hoa được trang bị vũ khí tiếp cận được Cadouwang (nay là Angke), nhưng bị kỵ binh Hà Lan dưới sự chỉ huy của Ridmeester Christoffel Moll, sĩ quan Daniel Chits và Pieter Donker đẩy lui. Ngày hôm sau, đội kỵ binh gồm có 1.594 người Hà Lan lẫn bản địa hành quân hướng tới "Đại bản doanh" của quân nổi dậy tại nhà máy đường ở Salapadjang. Đầu tiên, họ trốn ở trong khu rừng gần đó và sau đó cho người phóng hỏa đốt cháy nhà máy, các phiến quân khác đang trú tại nhà máy khác ở Boedjong Renje cũng phải chịu chung cảnh ngộ, nhưng sự việc được thực hiện bởi một nhóm khác.[40] Sợ người Hà Lan tới, những người Hoa còn lại đã rút về nhà máy ở Kampung Melaya, trong khi thành trì Salapadjang đã bị quân Hà Lan chiếm đóng. Sau khi đánh bại người Hoa và tái chiếm Qual, quân Hà Lan rút về Batavia.[41] Trong khi đó, những người Hoa chạy thoát về phía tây lại bị 3.000 quân của Vương quốc Banten, một vương quốc nằm ở phía tây đảo Java, chặn lại, buộc họ phải quay lại phía đông dọc theo bờ biển phía bắc đảo Java.[42] Vào ngày 30 tháng 10, họ quay trở về đến Tangerang.[41]

Một lệnh ngừng bắn được Crummel đưa ra vào ngày 02 tháng 11, trong khi ông cùng binh lính của mình quay trở lại Batavia, sau khi chỉ đạo 50 binh lính đồn trú tại Cadouwang. Khi ông quay về vào buổi trưa, không còn người Hoa đóng quân trong thành.[43] Vào ngày 8 tháng 11, Vương quốc Cirebon đã gửi khoảng 2.000-3.000 quân bản địa đến để bảo vệ thành phố. Việc cướp bóc tiếp tục diễn ra cho đến ngày 28 tháng 11, và những nhóm quân bản địa cũng còn trú ở lại đây đến cho đến hết tháng 11.[38]

Kết cục[sửa | sửa mã nguồn]

Van Imhoff và hai thành viên trong hội đồng bị bắt với lý do không phục tùng Valckenier

Hầu hết, các học giả đều cho rằng đã có ít nhất 10.000 người Hoa bị sát hại trong thành Batavia và có trên 500 người bị thương nặng. Khoảng 600 đến 700 ngôi nhà thuộc sở hữu của người Hoa đã bị lục soát và cháy rụi sau những vụ hỏa hoạn.[44][45] Vermeulen cho rằng đã có khoảng 600 người sống sót qua sự kiện này, nhưng theo học giả người Indonesia A.R.T. Kemasang đã có khoảng 3.000 người thoát chết.[46] Benny G. Setiono ghi chú rằng 500 bệnh nhân và tù nhân đã bị sát hại,[44] tổng cộng có 3.432 người sống sót. Tuy nhiên, làn sóng tẩy chay người Hoa vẫn còn chưa kết thúc mà được tiếp diễn bằng một cuộc thảm sát khác tại Semarang[47] và sau này tại SurabayaGresik.[47]

Là một phần trong các điều khoản để chấm dứt bạo lực, tất cả người Hoa tại Batavia được di chuyển đến pecinan (giống như Chinatown), nằm bên ngoài thành phố, mà bây giờ được biết đến là Glodok.[48] Điều này cho phép người Hà Lan có thể theo dõi hành vi của người Hoa dễ dàng hơn. Trong năm 1743, nhiều người Hoa đã quay trở lại sinh sống bên trong Batavia. Hàng trăm thương gia đã hoạt động trở lại. Trong khi những người Hoa khác lại do Khe Pandjang dẫn đầu trốn sang Trung Java,[36] và tại đây họ đã tấn công các trạm giao thương Hà Lan, và sau đó gia nhập quân đội khởi nghĩa dưới sự chỉ huy của Quốc vương Pakubuwono II của Vương quốc Mataram trên đảo Java. Mặc dù cuộc nổi dậy bị dập tắt năm 1743,[49] nhưng những cuộc xung đột tại Java tiếp tục xảy ra gần như không bị đứt quãng trong vòng 17 năm trời.[2]

Ngày 06 tháng 12 năm 1740, van Imhoff cùng bộ thuộc đã bị bắt giữ theo lệnh của Valckenier với lý do bất phục tùng. Vào ngày 13 tháng 1 năm 1741, họ đã được gửi về Hà Lan trên một con tàu riêng biệt, con tàu cập bến vào ngày 19 tháng 9 năm 1741.[50][51] Tại Hà Lan, van Imhoff thuyết phục hội đồng rằng Valckenier làm thế này là để đổ lỗi vụ thảm sát lên đầu ông, vì thế ông đã đưa ra một bài phát biểu "Consideratiën qua den tegenwoordigen staat van de Ned. OI Comp". ("Cân nhắc về tình trạng hiện tại của Công ty Đông Ấn Hà Lan") vào ngày 24 tháng 9.[52][53] Như là kết quả của bài diễn văn, các cáo buộc chống lại ông và bộ thuộc của ông đã bị bác bỏ.[54] Ngày 27 tháng 10 năm 1742, van Imhoff quay trở lại Batavia bằng chiến hạm Hersteller trên cương vị là Tân Toàn quyền Đông Ấn Hà Lan. Rất nhiều kỳ vọng được các quan chức cấp cao đã đặt vào ông. Ông đến Đông Ấn vào ngày 26 tháng 5 năm 1743.[52][55][56]

Van Imhoff bị gửi về Hà Lan, nhưng sau đó lại được bổ nhiệm làm Tân Toàn quyền Đông Ấn Hà Lan

Valckenier bị yêu cầu thay thế vào cuối năm 1740,[57] và trong tháng 2 năm 1741 đã nhận được thông báo từ phía VOC rằng van Imhoff sẽ làm người kế nhiệm ông. Một nguồn khác lại nói rằng, Toàn quyền Công ty Đông Ấn Hà Lan đã thông báo với Valckenier rằng ông đã được thay thế bằng van Imhoff, vì lý do lượng đường và cà phê được xuất khẩu vào năm 1739 quá ít và điều này đã gây thiệt hại lớn đến tài chính.[58][59] Khi nhận được thông báo, thì van Imhoff lại đang trên đường quay trở về Hà Lan. Valckenier rời khỏi Đông Ấn vào ngày 6 tháng 11 năm 1741, sau khi chỉ định Johannes Thedens tạm thời giữ chức. Nắm quyền chỉ huy một hạm đội tàu buôn, Valckenier hướng về phía Hà Lan mà tiến. Ngày 25 Tháng 1 năm 1742, ông đến Cape Town, nhưng đã bị Toàn quyền ở đây là Hendrik Swellengrebel bắt giữ và điều tra theo lệnh của cấp trên. Tháng 8 năm 1742, Valckenier lại bị trả về Batavia, tại đây ông bị giam cầm trong Pháo đài Batavia, và ba tháng sau, ông bị lên án dựa trên nhiều điều, bao gồm việc đã tham gia trong vụ thảm sát.[60] Tháng 3 năm 1744, ông bị kết tội và bị kết án tử hình, toàn bộ gia tài của ông đều bị tịch thu.[61] Tháng 12 năm 1744, Valckenier được phép lên tiếng để tự bảo vệ bản thân.[56][62][63] Valckenier yêu cầu thêm bằng chứng từ phía người Hà Lan, nhưng ông đã chết vì bệnh tật trong nhà giam ngày 20 tháng 6 năm 1751, trước khi công cuộc điều tra được kết thúc. Án tử hình bị hủy bỏ sau khi ông qua đời vào năm 1755.[55][63] Nhà sử học Vermeulen cho rằng, vụ điều tra này được thực hiện một cách không công bằng và động cơ chủ yếu chỉ là sự phẫn nộ phổ biến tại Hà Lan.[64] Điều này được chính thức công nhận vào năm 1760, khi con trai của Valckenier là Adriaan Isaak Valckenier, nhận được số tiền bồi thường tổng cộng lên tới 725.000 Gulden.[65]

Ngành sản xuất đường trong khu vực bị ảnh hưởng rất nhiều bởi vụ thảm sát, rất nhiều công nhân người Hoa, nguồn nhân lực chính trong hoạt động sản xuất, đều đã bị giết hoặc bị mất tích. Ngành này bắt đầu phục hồi sau khi Toàn quyền van Imhoff lên nắm quyền, và thành lập một thuộc địa ở Tangerang. Ban đầu khu vực này chỉ dành cho những người đến từ Hà Lan, nhưng những người mới định cư tại Đông Ấn này đều quá lười biếng. Tuy nhiên, ông cũng không thể thu hút người định cư mới vì thuế má quá cao và do đó bắt buộc phải bán đất cho những cư dân sống ở Batavia. Đúng như dự đoán, rất nhiều người đã đăng ký thuê đất và trong đó cũng có rất nhiều người Hoa.[17] Sản lượng tăng đều đặn sau này, nhưng chỉ trong giai đoạn 1740-1760, và sau đó số lượng mía đường được sản xuất lại giảm, và đi cùng với đó là số nhà máy cũng giảm.[17][66] Năm 1710 có tới 131 nhà máy hoạt động trên toàn địa bàn, nhưng trong những năm 1750, con số này đã giảm xuống chỉ còn 66.[14]

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Vermeulen mô tả vụ thảm sát là "một trong những sự kiện nổi bật nhất trong của chủ nghĩa thực dân Hà Lan trong thế kỷ 18".[g][67] Trong luận án tiến sĩ của mình, W. W. Dharmowijono cho rằng sự kiện này đã ảnh hưởng không nhỏ đến văn học Hà Lan thời bấy giờ, một trong những ví dụ là bài thơ của Willem van Haren đã lên án vụ thảm sát (có niên đại từ 1742) và nhiều bài ​​thơ của các tác giả vô danh, xuất hiện cùng thời, đã phê phán người Hoa.[68][69]

Những từ miệt thị người gốc Hoa đã xuất hiện trong ngôn ngữ đại chúng ở Indonesia, ở cả cấp độ địa phương và toàn dân. Ví dụ, từ Cina đã được sử dụng từ năm 1967 thay thế cho từ vốn thông dụng trước đó Tionghoa, nó được hiểu là có nghĩa tiêu cực tương tự với từ inlander (người bản địa) chỉ người bản xứ Indonesia và từ Nigger (mọi đen) chỉ người gốc Phi[70]. Từ Tionghoa đã được sử dụng lại sau khi bắt đầu Cải cách. Nhưng sau này từ Cina không được coi là tiêu cực bởi các thế hệ trẻ của người Hoa ở Indonesia. Tuy nhiên cách đánh vần quốc tế từ Chinah vẫn được chấp nhận rộng rãi hơn.

Khi ấy, nhà Thanh có hạn chế về việc đi ra ngoài biển, những ai đã đi ra thì không thể quay trở về.[71] Vì thế khi tin tức về vụ thảm sát truyền đến triều đình, Càn Long Đế đã cho rằng đây là những kẻ chống lại lệnh của triều đình, đáng bị chính pháp, ra ngoài có chuyện gì thì tự lo lấy.[71]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ In Vermeulen, Johannes Theodorus (1938). De Chineezen te Batavia en de troebelen van 1740 [The Chinese of Batavia and the Troubles of 1740] (bằng tiếng Hà Lan). Leiden: Proefschrift. [6]
  2. ^ Liên Phú Quang được ghi lại là đã sống sót sau cả vụ tấn công và cuộc thảm sát. Không rõ ông làm điều đó bằng cách nào; có suy đoán rằng ông có một hầm bí mật bên dưới tư gia hoặc ông đã mặc trang phục của phụ nữ và ẩn nấp bên trong lâu đài của toàn quyền.[23] W. R. van Hoëvell đưa ra giả thuyết là Liên Phú Quang tập hợp vài trăm người sau khi trốn thoát khỏi lâu đài và ẩn nấp tại một nhà thờ Bồ Đào Nha gần các khu phố người Hoa.[24] Sau đó, ông bị người Hà Lan bắt và buộc tội lãnh đạo cuộc nổi dậy, song ông đã không thú nhận mặc dù bị tra tấn.[23]
  3. ^ Ví dụ, đồn nhỏ Qual, nằm gần sông Tangerang và được bố trí 15 lính, đã bị ít nhất năm trăm người Hoa bao vây.[25]
  4. ^ Nguyên văn: "... Zwangere vrouwen, zoogende moeders, argelooze kinderen, bevende grijsaards worden door het zwaard geveld. Den weerloozen gevangenen wordt als schapen de keel afgesneden".
  5. ^ Nguyên văn: "... vele ongeregelde en slechte elementen..."
  6. ^ Những tên phiên âm được các nguồn đưa ra là Khe Pandjang, Que Pandjang, Si Pandjang, hoặc Sie Pan Djiang.[27][36][37]
  7. ^ Nguyên văn: "... markante feiten uit onze 18e-eeuwse koloniale geschiedenis tot onderwerp genomen".

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tan 2005, tr. 796
  2. ^ a ă Ricklefs 2001, tr. 121
  3. ^ a ă â Armstrong, Armstrong & Mulliner 2001, tr. 32
  4. ^ a ă â Dharmowijono 2009, tr. 297
  5. ^ a ă â b c d đ Setiono 2008, tr. 111–113
  6. ^ a ă â b c d Dharmowijono 2009, tr. 298
  7. ^ a ă Paasman 1999, tr. 325–326
  8. ^ a ă Hall 1981, tr. 357
  9. ^ a ă â Pan 1994, tr. 35–36
  10. ^ a ă Dharmowijono 2009, tr. 302
  11. ^ Raffles 1830, tr. 233–235
  12. ^ van Hoëvell 1840, tr. 461–462
  13. ^ a ă Kumar 1997, tr. 32
  14. ^ a ă Dobbin 1996, tr. 53–55
  15. ^ Mazumdar 1998, tr. 89
  16. ^ Ward 2009, tr. 98
  17. ^ a ă â Ota 2006, tr. 133
  18. ^ von Wachtel 1911, tr. 200
  19. ^ Dharmowijono 2009, tr. 297–298
  20. ^ van Hoëvell 1840, tr. 460
  21. ^ Encyclopædia Britannica 2011, Gustaaf Willem
  22. ^ a ă van Hoëvell 1840, tr. 466–467
  23. ^ a ă Dharmowijono 2009, tr. 302–303
  24. ^ van Hoëvell 1840, tr. 585
  25. ^ van Hoëvell 1840, tr. 473
  26. ^ Pan 1994, tr. 36
  27. ^ a ă â b Raffles 1830, tr. 235
  28. ^ Setiono 2008, tr. 114
  29. ^ Setiono 2008, tr. 114–116
  30. ^ a ă van Hoëvell 1840, tr. 485
  31. ^ van Hoëvell 1840, tr. 486
  32. ^ a ă â Setiono 2008, tr. 117
  33. ^ a ă Dharmowijono 2009, tr. 299
  34. ^ a ă Setiono 2008, tr. 118–119
  35. ^ van Hoëvell 1840, tr. 489–491
  36. ^ a ă Dharmowijono 2009, tr. 301
  37. ^ Setiono 2008, tr. 135
  38. ^ a ă â b Dharmowijono 2009, tr. 300
  39. ^ van Hoëvell 1840, tr. 493–496
  40. ^ van Hoëvell 1840, tr. 503–506
  41. ^ a ă van Hoëvell 1840, tr. 506–507
  42. ^ Ricklefs 1983, tr. 270
  43. ^ van Hoëvell 1840, tr. 506–508
  44. ^ a ă Setiono 2008, tr. 119
  45. ^ van Hoëvell 1840, tr. 491–492
  46. ^ Kemasang 1982, tr. 68
  47. ^ a ă Kemasang 1981, tr. 137
  48. ^ Setiono 2008, tr. 120–121
  49. ^ Setiono 2008, tr. 135–137
  50. ^ Geyl 1962, tr. 339
  51. ^ van Eck 1899, tr. 160
  52. ^ a ă Blok & Molhuysen 1927, tr. 632–633
  53. ^ Raat 2010, tr. 81
  54. ^ van Eck 1899, tr. 161
  55. ^ a ă Setiono 2008, tr. 125–126
  56. ^ a ă Geyl 1962, tr. 341
  57. ^ Vanvugt 1985, tr. 106
  58. ^ Ricklefs 2001, tr. 124
  59. ^ Raat 2010, tr. 82
  60. ^ Stellwagen 1895, tr. 227
  61. ^ Blok & Molhuysen 1927, tr. 1220–1221
  62. ^ Vanvugt 1985, tr. 92–95, 106–107
  63. ^ a ă Blok & Molhuysen 1927, tr. 1220
  64. ^ Terpstra 1939, tr. 246
  65. ^ Blok & Molhuysen 1927, tr. 1221
  66. ^ Bulbeck và đồng nghiệp 1998, tr. 113
  67. ^ Terpstra 1939, tr. 245
  68. ^ Dharmowijono 2009, tr. 304
  69. ^ Raffles 1830, tr. 231
  70. ^ Setiono 2008, tr. 986–987
  71. ^ a ă Nguyễn Duy Chính. “Quan niệm về biển cả của người Trung Hoa dưới hai triều Minh-Thanh”. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (75). 2009. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2013. 

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tư liệu trên mạng

Tọa độ: 6°7′50,97″N 106°47′56,85″Đ / 6,11667°N 106,78333°Đ / -6.11667; 106.78333