Thảo luận:Chữ Trung Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm

G thật thích bài viết này nhưng sửa hoài mà phần nhập đề vẫn thế nào, chẳng vừa ý chi cả. Mong có cao nhân nào ra tay? G.G 09:03, ngày 5 tháng 6 năm 2006 (UTC)

Người Việt có chữ viết riêng, trước khi dùng chữ Hán? "Trước khi bị đô hộ, ngươi Việt Nam cũng đã có chữ viêt riêng của mình mặc dầu thô sơ gồm những gạch và vòng..." [1]

Tôi nhận thấy bài viết này rất công phu và có giá trị, tuy nhiên còn có chút thiếu sót. Hoàng Đế là một nhân vật trong truyền thuyết của Trung Quốc, đã là truyền thuyết thì dĩ nhiên chúng ta không thể nào xác định xem ông ta có thực hay không? Có điều là hầu hết các tài liệu Trung Quốc đều không hề nói Hoàng Đế là người sáng tạo ra chữ viết. Cũng theo các tài liệu Trung Quốc, Thương Hiệt là vị Sử quan của Hoàng Đế và chính Thương Hiệt mới là người sáng tạo ra chữ viết. Hiện nay, người ta cho rằng chữ viết của Trung Quốc đã có từ trước đó, Thương Hiệt chỉ là người thu thập và chỉnh lý mà thôi. Ngoài ra, ở phần nói về Lục Thư, ví dụ minh họa cho khái niệm Chuyển chú là chưa rõ ràng. Theo định nghĩa, Chuyển chú là phương thức giải nghĩa một chữ này bằng cách dùng một chữ khác đồng nghĩa và cùng chung một bộ thủ (ví dụ như để giải thích chữ Lão 老, người ta dùng chữ Khảo 考). Cho nên, mong tác giả bổ chính cho phần này để bài viết được hoàn hảo hơn. (ttb359@gmail.com)203.162.3.145 16:29, ngày 5 tháng 7 năm 2007 (UTC)

Nếu bạn có thông tin về việc này, mời bạn bổ sung vào bài. Bất kỳ ai cũng có thể sửa đổi bài viết tại Wikipedia. Nguyễn Hữu Dng 17:11, ngày 5 tháng 7 năm 2007 (UTC)

Theo đề nghị của bạn, trước tiên tôi xin tạm thời bổ sung phần viết về truyền thuyết Thương Hiệt tạo tự:

"THƯƠNG HIỆT TẠO TỰ -- 倉頡作書"

Theo ghi chép trong sách sử, Trung Quốc thời thượng cổ trước sau có ba vị vua (đúng ra là các vị Tù trưởng Bộ lạc thị tộc), thường được gọi là “Tam Hoàng”: Phục Hi (2852—2738 TCN), Thần Nông (2737—2698 TCN), Hoàng Đế (2697—2598 TCN). Trong ba vị này, Hoàng Đế là người đầu tiên thống nhất các Bộ lạc ở Trung Quốc thời bấy giờ và được tôn làm vị lãnh tụ liên minh các Bộ lạc. Người dân Trung Quốc rất tôn sùng Hoàng Đế, họ tự xem mình là truyền nhân của ông ta. Hiện nay lăng mộ của Hoàng Đế tọa lạc tại ngọn núi Kiều sơn 橋山, phía bắc huyện thành Hoàng Lăng 黃陵縣城, Thành phố Diên An, Tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc.

Thương Hiệt 倉頡 cũng được cho là một vị vua (đúng ra thì ông ta chỉ là Tù trưởng một Bộ lạc nhỏ, trực thuộc khối liên minh của Hoàng Đế). Khi được giao nhiệm vụ Sử quan, Thương Hiệt nhận thấy các ký hiệu đang dùng không thể đáp ứng việc ghi chép sách sử và phục vụ việc cai trị của Hoàng Đế. Vì vậy, để sáng tạo ra chữ viết, ông đã chọn một nền đất ở bên bờ sông Vị 洧河 (hiện nay thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), tự tay dựng lên một ngôi nhà nhỏ, ngày đêm trầm tư, chuyên tâm vào công việc. Thời gian dần trôi qua không biết đã được bao lâu, một hôm trong lúc Thương Hiệt đang chìm đắm trong suy nghĩ, đột nhiên có con chim phượng hoàng không rõ từ đâu bay ngang qua ngôi nhà của ông. Nó đánh rơi một vật gì đó đang gắp trên mỏ và vật ấy lại rơi xuống trước mặt Thương Hiệt. Ông liền nhặt vật đó lên để xem xét và phát hiện đấy là một hòn đất có dấu chân của một con thú lạ in trên đó. Sau khi suy nghĩ khá lâu nhưng vẫn không nhận biết được dấu chân này thuộc về loài thú gì, may mắn thay, ông ta trông thấy một người thợ săn đi ngang qua. Thương Hiệt bèn đem vật ấy đến hỏi người thợ săn và được ông ta trả lời đó là dấu chân của con Tì Hưu 貔貅, một loài thú hoang dã trong truyền thuyết, tính tình rất hung dữ (người thì nói nó trông tựa như gấu, kẻ thì nói hình dạng giống như hổ – fabulous wild beast). Người thợ săn ấy còn nói thêm: đối với dấu chân tất cả các loài thú, ông ta chỉ cần nhìn sơ qua là biết ngay. Lời giải đáp của người thợ săn đã làm Thương Hiệt tỉnh ngộ. Ông hiểu rằng mọi sự vật trên đời đều hàm chứa đặc trưng riêng, nếu có thể vẽ ra được, mọi người chỉ nhìn vào là hiểu ngay ý nghĩa.

Phát hiện được mấu chốt cực kỳ quan trọng, Thương Hiệt dựa vào đó mà quan sát, tìm cách vẽ lại chỗ đặc trưng của các sự vật. Lấy ví dụ như chữ “nhật” 日 (mặt trời) thì vẽ hình một vòng tròn, ở giữa có một chấm đen, giống y như lúc chúng ta dùng mắt thường nhìn thẳng vào nó. Chữ “nguyệt” 月 (mặt trăng) thì do tính chất khi tròn, khi khuyết, với lại để phân biệt với mặt trời, cho nên không thể vẽ nó thành vòng tròn được. Vầng trăng khuyết đã được chọn để tạo thành chữ viết. Chữ “Đán” 旦 (buổi sáng, lúc mặt trời vừa nhô khỏi mặt đất hoặc đường chân trời) đã được vẽ lại y như thật. Con người là động vật cao cấp, chỗ khác biệt với các loài động vật chính bởi vì con người biết cách đứng thẳng và di chuyển trên đôi chân của mình. Chữ “nhân” 人 thuở ban đầu (Giáp cốt văn) chính là hình vẽ một người đứng thẳng, nhìn từ phía bên trái. Khi biến đổi sang thể chữ Khải, phần tay đã được lược bỏ, đôi chân được thể hiện rõ rệt 人. Tương tự như vậy, đặc trưng của “lộc” 鹿 (hươu, nai) là loài vật có đôi sừng đẹp. Đặc trưng của “mã” 馬 (ngựa) là giống vật có cái bờm dài. Chữ “Đỉnh” 鼎 là cái vạc nấu thức ăn thời cổ, có 3 chân và 2 quai. Chữ “Lịch” 鬲 cũng là cái vạc nhưng 3 chân to và rỗng (thức ăn chứa trong phần thân xuống cả 3 chân), không có quai… Cứ như vậy mà làm, tháng năm dần trôi, không biết mất hết bao nhiêu thời gian, Thương Hiệt đã tạo nên hệ thống chữ viết.

Bắt đầu từ Thương Hiệt, chữ Hán đã hình thành. Nhằm ghi nhớ sự kiện trọng đại này, chỗ nền nhà (nơi Thương Hiệt chọn để làm công việc sáng tạo ra chữ Hán) đã được người đời sau đặt tên là: “Phụng Hoàng hàm thư đài”『鳳凰銜書台』(tức: nền chim Phụng ngậm chữ). Địa danh này hiện nay thuộc huyện Tân Trịnh, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Đến thời Tống, một ngôi miếu có tên “Phụng Đài Tự” 鳳台寺 đã được xây dựng trên đó để kỷ niệm.

Đến thời Bắc Tống, vua Tống Thái Tông (976–997) vì lòng yêu thích thư pháp, đã ban lệnh thu thập bút tích của các vị danh nhân, hiền sĩ. Lập ra Bí các để cất giữ tài liệu. Vào năm 992 (niên hiệu Thuần Hóa), sau khi sắp xếp các tài liệu thành từng tập, Tống Thái Tông cho tiến hành việc in sao thành nhiều bản, dùng để ban cho cận thần và những người được ông ta yêu thích. Bản in này có tên “Thuần Hóa Bí các thiếp” (cũng được gọi là “Thuần Hóa các thiếp”). Ở trong quyển thứ 5, không rõ nguồn gốc từ đâu mà sưu tập được 28 chữ Hán cổ, tương truyền là chữ viết của Thương Hiệt. Nguyên văn các chữ này đọc theo âm Hán Việt hiện đại là: Mậu kỷ giáp ất, cư thủ cộng hữu, sở chỉ liệt thế, thức khí quang danh, tả hỗ nghệ gia, thụ xích thủy tôn, qua mâu phủ phất). Tuy nhiên, hầu hết các chuyên gia đều nghi ngờ nó là bản ngụy tạo của người đời sau! (Rất tiếc, bởi không biết cách gởi hình ảnh qua mạng Internet, cho nên tôi không đưa kèm theo đây được).

Đối với vấn đề nguồn gốc sáng tạo chữ Hán, đại văn hào Lỗ Tấn (1881— 1936), cũng đã từng nêu nhận xét: “Trong xã hội Trung Quốc cổ đại, Thương Hiệt không phải chỉ duy nhất có một. Người thì khắc ký hiệu riêng của mình lên chuôi dao, kẻ thì vạch lên cửa nhà một số nét để ghi nhớ công việc. Mọi người cùng xem ký hiệu, vạch khắc mà trong lòng cùng hiểu, qua lời nói mà truyền đạt ý nghĩa cho nhau. Số lượng ký hiệu ngày càng nhiều, Sử quan bèn thu nhặt, tập hợp lại rồi phát triển thành chữ viết. Nguồn gốc văn tự Trung Quốc, e rằng cũng không thể nào ở ngoài diễn tiến này”. Nhận xét trên đây của Lỗ Tấn có thể tóm gọn trong hai ý sau: Một là, văn tự Trung Quốc bắt nguồn từ các vạch khắc, ký hiệu đồ họa. Hai là, trong lịch sử Trung Quốc, đã từng có rất nhiều người (tạm gọi là Thương Hiệt) cùng nhau đóng góp, xây dựng qua nhiều đời, mới có thể tạo nên hệ thống chữ viết của người Hán.

Tóm lại, chữ viết chính là thành quả sáng tạo qua nhiều đời của nhân dân Trung Quốc cổ đại. Nếu như Thương Hiệt có thật, ông ta chỉ có thể là người sưu tập, chỉnh lý và phát triển chữ viết mà thôi. Chữ viết của người Trung Quốc quyết không thể do một cá nhân nào sáng tạo ra.(email: ttb359@gmail.com)203.162.3.154 20:47, ngày 4 tháng 8 năm 2007 (UTC)

Phần viết về Chuyển chú trong Lục thư chưa rõ ràng, tôi xin góp ý với nội dung như sau:

Chuyển chú (轉注): là phương pháp dùng hai chữ Hán giải thích cho nhau với điều kiện: chúng phải cùng chung Bộ thủ (tức Hình bàng) và ý nghĩa thì tương đồng. Ví dụ như để giải thích cho chữ Lão 老: người già 70 tuổi, người ta bèn dùng chữ Khảo 考: già nua, sống thọ (Thuyết văn: 老, 考也). Ngược lại để giải thích cho chữ Khảo 考, người ta bèn dùng chữ Lão老 (Thuyết văn: 考, 老也). Ở hai chữ vừa ví dụ trên đây, Lão 老 vốn là Bộ thủ còn Khảo 考là một chữ thuộc bộ Lão老.

Tương tự như vậy là cặp chữ: Châu 舟: thuyền, đò và Thuyền 船: thuyền, tàu, ghe, đò. Cả hai chữ này cùng thuộc bộ Châu 舟. Cặp chữ: Hình 刑: hình phạt, giết, cắt và Kỉnh 剄: hình phạt, cắt đầu. Hai chữ này cùng thuộc bộ Đao 刀 (cây dao). Cặp chữ: Đỉnh 頂: đỉnh, ngọn, chóp, nóc và Điên 顛: đỉnh, ngọn, chóp, chỏm. Hai chữ này cùng thuộc bộ Hiệt 頁 (cái đầu). Cặp chữ: Ải 隘: nhỏ, hẹp, hẹp hòi và Hiệp 陜 (cùng nghĩa với chữ Hiệp 陿): hẹp, nhỏ hẹp. Hai chữ này cùng thuộc bộ Phụ 阜 (gò, đất liền). (email: ttb359@gmail.com)203.162.3.154 17:09, ngày 6 tháng 8 năm 2007 (UTC)

[sửa] Đã thêm 2 trang chuyển hướng Lục thưBộ thủ

Tôi đã thêm 2 trang chuyển hướng (Lục thư,Bộ thủ) chuyển đến hai mục chính của trang này:

Vậy nên hễ ai có thay đổi tên đề mục thì cảm phiền sửa luôn trang chuyển hướng tương ứng giùm.

Cám ơn.

Lê Harusada (thảo luận) 15:49, ngày 21 tháng 12 năm 2007 (UTC)

Công cụ cá nhân