Thảo luận:Nam quốc sơn hà

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm




Đây có phải là bài thơ thần của Ngô Quyền không nhỉ, em tưởng đó là bài thơ thần của Lý Thường Kiệt chứ! 203.162.135.70 10:42, 18 Dec 2004 (UTC)

Không hợp nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Tôi nghĩ nên bỏ yêu cầu hợp nhất 2 bài, vì nhân vật và tác phẩm đều quan trọng. Nhưng chắc là cần biên tập lại cho đỡ trùng lặp. Avia 01:35, 14 tháng 6 2005 (UTC)

Chữ Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Tôi lấy được dị bản Nam quốc sơn hà từ sách "Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn" nhưng không biết viết chữ Hán. Nhờ ai biết viết chữ Hán viết giúp nguyên văn cho hoàn chỉnh.--Trungda 02:49, 5 tháng 10 2006 (UTC)

Hình[sửa | sửa mã nguồn]

Ý nghĩa của hình là gì? Nó chỉ viết lại lời của bài thơ, dịch ra quốc ngữ, đã có sẳn trong bài. NHD (thảo luận) 18:43, ngày 1 tháng 8 năm 2008 (UTC)

hình này (đang có trong bài), ai cũng dể dàng tạo ra (nếu muốn) và hoàn toàn không cần thiết ở đây. Đề nghị xóa bỏ.

Hình nào nhỉ? 210.86.225.146 (thảo luận) 05:34, ngày 25 tháng 9 năm 2008 (UTC)

Link hỏng[sửa | sửa mã nguồn]

Link hỏng nhiều quá! Newone (thảo luận) 04:07, ngày 21 tháng 12 năm 2010 (UTC)

Một vài thắc mắc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhắc tới Lý Thường Kiệt,Lê Hoàn,các cuộc đấu tranh chống Tống là nhắc tới Nam quốc sơn hà,đó là một bài thơ thần.Vị thần liên quan tới bài thơ trên là Trương Hống,Trương Hát.Tôi được biết hai vị thần đó còn được gọi là Đức thánh Tam Giang.Công đức của anh em ngài rất lớn, nên được nhiều triều đại tặng phong mỹ tự: “Đại vương thượng đẳng thần”. Hơn 300 làng ven các triền sông Cầu, sông Cà Lồ, sông Thương có đình đền thờ Đức Thánh Tam Giang.Bia đá trong đình làng tôi(Thần Chúc,Tiên Sơn,Việt Yên,Bắc Giang)cũng ghi Đức Thánh Tam Giang là tướng của Triệu Việt Vương.Ngoài ra,lễ hội "vật cầu nước"-lễ hội đặc biệt,hiện chỉ còn ở làng Vân (Vân Hà,Việt Yên,Bắc Giang)-cũng để tưởng nhớ công đức của Đức Thánh Tam Giang.

Tại làng Nôm(nay là thôn Đại Đồng,xã Đại Đồng, Văn Lâm, Hưng Yên- là một làng cổ có giá trị về lịch sử, văn hoá (như làng cổ Đường Lâm) và đã được đề nghị công nhận là di sản quốc gia) cũng có đình thờ Đức Thánh Tam Giang.Nhưng theo báo chí tại Việt Nam thì :"Tương truyền xưa kia, Đức thánh Tam Giang là tướng dưới thời Hai Bà Trưng, có công đánh giặc giúp dân, cứu nước. Không những thế, ông còn hiển linh giúp vua Lê Đại Hành đánh tan giặc Tống, được vua phong là “Hộ Quốc Phúc Thần” ".

Vậy phải chăng là có hai Đức thánh Tam Giang?Sự thực về bài thơ thần và Đức thánh Tam Giang là gì?

Cái này chỉ là những dị bản thôi mà, do phong tục từng nơi mà các đời sau thêm vào. nó cũng như thần Cao Sơn có tới 4 thần khác nhauKien1980v (thảo luận) 11:42, ngày 20 tháng 5 năm 2011 (UTC)

Ngữ văn 7 đã bỏ tên tác giả Lý Thường Kiệt[sửa | sửa mã nguồn]

Với tư cách là một chuyên gia văn học trung đại Việt Nam, PGS. Bùi Duy Tân đã viết rất nhiều bài chứng minh rằng Lý Thường Kiệt không phải là tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà. Xin xem: Bùi Duy Tân (2007), Tuyển tập, Nxb. Giáo dục, các bài “Bàn thêm về văn bản và tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà”, tr.20-28; “Truyền thuyết về một bài thơ: Nam quốc sơn hà là vô danh, không phải của Lý Thường Kiệt”, tr.29-44; “Giới thiệu bài thơ Nam quốc sơn hà”, tr.59-64. Gần đây nhất, trên tạp chí Văn hoá dân gian, số 4, năm 2009, với bút danh Hữu Thế, PGS. Bùi Duy Tân trở lại vấn đề này. Theo ông, sai lầm cho rằng Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ “Nam quốc sơn hà” là “sai lầm có từ Hoàng Cao Khải (trong Việt sử yếu, nhất là Trần Trọng Kim (trong Việt Nam sử lược, 1920), Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu. Sự thực “Nam quốc sơn hà” là bài thơ thần khuyết danh hoặc vô danh, nằm trong truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát xuất hiện đầu thời tự chủ (có thể tác giả là Đỗ Pháp Thuận thời Lê Hoàn. Đây là phát hiện của GS. Hà Văn Tấn (1988) và khảo luận của PGS. Bùi Duy Tân (1996). Thành tựu này đã được xã hội chấp nhận khi chương trình sách giáo khoa mới nhất, Bộ Giáo dục và đào tạo đưa “Nam quốc sơn hà” vào dạy và học ở lớp 7 theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề khuyết danh - không ghi tác giả. (Xem Ngữ văn 7 trang 62 - 63 bài thơ thần "Sông núi nước Nam"

Như vậy từ nay không ghi tác giả Lý Thường Kiệt nữa Kien1980v (thảo luận) 13:05, ngày 14 tháng 10 năm 2011 (UTC)

Đức Thánh Tam Giang[sửa | sửa mã nguồn]

Bài thơ Nam quốc sơn hà nằm trong truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát (Long Nhãn, Như Nguyệt nhị thần truyện)[1] nên không cho truyền thuyết này vào bài viết là một thiếu xót. Hầu hết các bản chép truyền thuyết thì ban đầu bài thơ do thần đọc, vốn là bài thơ vô đề. Nhan đề do gọi từ câu đầu của bài thơ mà thành. Về tác giả thần của bài thơ, đây là vị thần tiêu biểu ở sông Cầu, sông Thương, được nhiều triều đại phong mỹ tự, là Thượng đẳng phúc thần. Nhưng tôi không biết là có đủ tiêu chuẩn để có bài viết riêng trên Wikipedia hay không. Mong các bạn cho ý kiến. Dưới đây là một gợi ý tôi mới tổng hợp.

Đức thánh Tam Giang

Đức thánh Tam Giang là danh xưng tôn kính mà nhân dân dùng để gọi hai thánh Trương Hống và Trương Hát, hai vị đã có công với đất nước chống giặc ngoại xâm. Tên gọi Thánh Tam Giang xuất phát từ tên gọi mà các triều đại Việt Nam phong cho hai ông : “Tam Giang thượng đẳng thần” . "Tam Giang" ở đây bắt nguồn từ cách gọi chung của ba con sông là sông Cầu, sông Thương, sông Đuống - nơi có nhiều đền thờ hai vị.[2] Hai anh em ngài đều là bậc tướng, chí dũng song toàn, là bậc đại nhân “sinh vi dũng tướng, tử vi minh thần”.

1. Tiểu sử

Hai ông sinh ra trong một gia đình gồm năm anh em, bốn trai, một gái. Ba người còn lại là Trương Lừng, Trương Lẫy, và người con gái là Trương Đạm Nương. Năm anh em sinh ngày 15 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ 502, người làng Vân Mẫu, xã Vân Mẫu, huyện Quế Dương (sau là Võ Giàng) quận Vũ Ninh, xứ Kinh Bắc, ( nay là thôn Hai Vân, phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh ).Thân mẫu là con gái họ Phùng, tên hiệu là Từ Nhan, sinh năm Quý Hợi 483 thời Tiền Lý Nam Đế, sắc đẹp hơn người, nết na thuần phục.

Năm Từ Nhan 18 tuổi, vào đêm rằm tháng 1 năm Canh Thìn (500) bà nằm chiêm bao thấy Thần Long quấn mình trên sông Lục Đầu, sau đó bà mang thai (theo cách gọi ngày âm lịch xưa thì 12 tháng trong năm gọi lần lượt là tháng Giêng, tháng 2,...,tháng 10,tháng 1, tháng Chạp). Sau 14 tháng mang thai, nhằm ngày 5 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ ( 502 ) bà lên chùa lễ phật trở về đến xứ Cửa Cữu làng Vân Mẫu thì trở dạ, sinh ra một bọc 5 con. Người mẹ hết lòng chăm lo các con ăn học. Năm anh em là học trò của Tiên sinh Lã Thị người hương Chu Minh, lộ Bắc Giang (tức xã Hương Mạc, huyện Từ Sơn ngày nay). Anh em học đến đâu lầu thông kinh sử đến đấy, ngày ngày chăm đọc binh thư, siêng rèn võ nghệ, nên đều là những người tinh thông văn võ. Khi anh em 17 tuổi thì mẹ mất (ngày 15 tháng 4 âm lịch năm Kỷ Hợi 519) và 5 anh em đã táng mẹ tại xứ đồng Bãi Cả, hiếu thảo thờ mẹ 3 năm.

2. Giúp Triệu Việt Vương đánh quân Lương[3]

2.1. Hoàn cảnh lịch sử

Năm 545 nhà Lương, đời vua Đại Đồng năm thứ bảy, cử tướng Dương PhiêuTrần Bá Tiên đem quân sang xâm lược Việt Nam. Lý Nam Đế đem quân chặn đánh nhưng vì quân ít không cản được giặc phải rút về miền núi động Khuất Lão (Tam Nông, Vĩnh Phú) trao quyền cho tướng Triệu Quang Phục, rồi mất tại đó. Triệu Quang Phục đưa quân về đầm Dạ Trạch (Hưng Yên) đánh phục kích, đồng thời truyền hịch trong dân gian tìm người tài giỏi đánh giặc giúp nước.

2.2. Nghe lời kêu gọi, chiêu dụ quân sĩ

Khi ấy hai ông Trương Hống, Trương Hát nghe có hịch chiêu tài, anh em bàn nhau xin lệnh thầy, dụng kế lập thân, về quê mộ quân để đi giúp nước. Lã Tiên sinh khen ngợi tinh thần trung quân ái quốc của học trò và tình nguyện đi theo giúp việc quân cơ.Trong buổi hội bàn, thầy trò lo lắng, quê hương mấy làng quanh đây là đất hiền lành, nghèo túng, vả lại gia tư bấn bách, không gạo, không tiền, người đi theo không có. May sao có Trương Đạm Nương là em gái trổ tài nội trợ đi vận động làng Ngà hộ muối (nay làng này còn mang tên làng Muối), làng Ngườm hộ gạo (Ngườm tức là làng Nghiêm Xá, vùng đó có câu “gạo Nghiêm Xá-cá Thất Gian”), làng Dạm Gấu giúp người (Dạm Gấu tức là làng Đa Cấu, trước đây nổi tiếng đất nghịch), làng Vát giúp rèn khí giới (Vát là làng Việt Vân, có nghề rèn nổi tiếng, tục ngữ: “Liềm thợ Rào, dao thợ Vát”). Lã mưu sỹ chọn ngày lành làm lễ bái yết thần linh, tôn Trương Hống làm chánh tướng, Trương Hát làm phó tướng, tế cờ ra quân, ngày đêm luyện tập (nay còn hai xứ đồng gọi là Bãi Kiếm và bãi Phất Cờ). Sau này các ông đến địa phận làng Tiên Tảo, huyện Kim Hoa, phủ Đa Phúc, lộ Bắc Giang thấy đất có thế ỷ giốc, tiến thoái lưỡng tiện có thể dụng binh liền cho quân hạ trại, làm tờ chiêu dụ nhân dân. Tờ rằng: “Đất nước Vạn Xuân ta đang thanh bình, càn nguyên hanh thái, bỗng đâu giặc Lương xâm lấn, xã tắc đảo điên, muôn dân khốn khổ. Bọn Hống-Hát chúng tôi xuất thân con nhà lam lũ, được học võ nghệ, có chút mưu cơ, dám đem sức lực người bản xứ, dấy binh cuốc cầy, địch cùng lang sói ngoại bang, giúp Triệu Việt Vương giữ an bờ cõi, dám mong chư vị bàn dân hưởng ứng nghĩa quân thì lấy làm may lắm”.Phụ lão làng ấy tiếp tờ, thấy các ông dung dị khác thường, uy nghi đường bệ, thi đua nhau cho con cháu đi theo làm quân sỹ. Rồi tiếng đồn khắp hạt ấy rằng có tướng tài mộ quân, đinh tráng các nơi tấp nập kéo đến và được hơn ba trăm người, phiên chế thành cơ đội, cắt cai ký chỉ huy, lập đại bản doanh ở làng Tiên Tảo, ngày đêm ra sức luyện rèn và sai sứ báo về Dạ Trạch.

2.3 Được phong tướng quân, cùng vua đánh giặc

Triệu Quang Phục được tin cũng sai sứ lên phong Trương Hống làm thượng tướng quân, Trương Hát làm phó tướng quân, Lã tiên sinh làm quân sư, Trương Lừng, Trương Lẫy làm tỳ tướng, Đạm Nương làm hậu binh lương và lo kế sách phản công. Đúng kỳ thúc giáp, hai phía cùng truyền lệnh quân cơ, tỏa binh tiếp trận, quân Triệu Quang Phục ở Dạ Trạch tiến lên, quân Hống-Hát ở Tiên Tảo kéo xuống, thủy bộ bốn mặt giáp công, xung đột tung hoành đánh rất dữ dội. Quân Lương không sao chống cự nổi, đại bại rã rời, số chạy dẵm đạp lên nhau, chết hại nhiều vô kể, số bị bắt mặt mày tái mét, run rẩy van xin, chánh tướng Trần Bá Tiên tử trận, phó tướng Dương Phiêu phải thu nhặt tàn quân rút về Bắc quốc.Dẹp xong giặc rồi, khải hoàn tấu tiệp, Triệu Việt Vương kéo quân về Long Biên sang sửa đô thành.Nước nhà độc lập, Triệu Quang Phục lên ngôi vua, phong thưởng cho các tướng có công đánh giặc. Vua Triệu phong thực ấp cho hai anh em họ Trương ở Kinh Bắc, Trương Hống ở làng Tiên Tảo, huyện Kim Anh (nay là thôn Tiên Tảo, xã Việt Long, huyện Sóc Sơn) , Trương Hát ở làng Tam Lư, huyện Đông Ngàn (nay là thôn Tam Lư , Từ Sơn, Bắc Ninh) là nơi dấy binh cũ.(cách nhau 21km)

2.4 Tôi trung chẳng thờ hai vua

Được tin Triệu Quang Phục lên ngôi vua, Lý Phật Tử (người họ Lý Nam Đế) đã đem quân đánh lại nhưng không thắng, bèn dùng kế cầu hôn gả con. Trương Hống và Trương Hát đã can Triệu Việt Vương đừng gã Cảo Nương cho Nhã Lang. Nhưng Triệu Quang Phục không nghe, mắc mưu của Lý Phật Tử, rồi bị đánh úp. Lý Phật Tử lên ngôi vua tự xưng là Hậu Lý Nam Đế và biết các ông là tướng tài giỏi bèn cho người vời ra làm quan. Song các ông nhất lòng trung quân không theo Lý Phật Tử, thưa lại rằng: Tôi trung chẳng thờ hai vua, gái trinh chẳng đổi hai chồng, huống hồ ngươi là người bội nghĩa mà còn muốn khuất cái tiết bất di dịch này ư? Biết không thể khuất phục được, Lý Phật Tử lệnh truy bắt các ông khắp nơi. Các ông trốn vào ở núi Phù Long; Nam Đế nhiều lần cho người đến truy nã không được, mới treo ngàn vàng cầu người bắt. Các ông bàn nhau cùng đem gia quyến xuôi dòng sông Cầu, uống thuốc độc để giữ trọn tấm lòng trung với vua. Nhân dân dọc theo sông Cầu và các nơi các ông từng đóng quân đánh giặc đã vô cùng khâm phục, thương tiếc, lập đền thờ làm Thần.

3. Sinh vi dũng tướng, tử vi minh thần[4][5][6]


3.1 Hiển linh giúp Nam Tấn Vương đánh giặc Lý Huy[7][8]

Xét Sử ký của Đỗ Thiện chép thời Nam Tấn Vương nhà Ngô đi đánh giặc Lý HuyLong Châu (Tây Long), đóng quân ở cửa Phù Lan (sông Lục Đầu), đêm ngủ mộng thấy hai người y quan kỳ vĩ, diện mạo khôi ngô, đến xin tòng quân trợ chiến. Sau khi Thần kể hết sự tình lúc sống theo Triệu Quang Phục đánh giặc, chết được Thượng đế thương vô tội chết chẳng phải mệnh, phong làm Thủy thần, thống lĩnh tướng các âm binh, hiệu là Thần Giang Đô Phó Sứ,đã từng trợ thuận Ngô Quyền trong chiến dịch Bạch Đằng vua tỉnh dậy, bảo đem cỗ rượu đến điện tế, khấn rằng: Quả có anh linh, hãy phù trợ chiến dịch này, nếu được thắng lợi, tức thì dựng miếu và phong tước, hương hỏa đời đời. Lại hôm khác, vua mộng thấy hai Vương đốc binh, bộ ngũ liên thuộc đều có mặt mày như quỷ thần cả, hàng ngũ rất nghiêm, bộ lạc rất chỉnh tề hội tại cửa Phù Lan. Binh ông anh đóng từ sông Vũ Bình đến sông Như Nguyệt tiến đến đầu nguồn sông Phú Lương; Binh ông em đi từ men sông Lạng Giang vào sông Nam Bình (sông Thương). Vua tỉnh dậy bảo với tả hữu, quả nhiên trận ấy được toàn thắng. Bình xong giặc Tây Long, vua sai Sứ chia chỗ lập đền thờ, đều phong làm Phúc Thần một phương, chiếu phong anh là Đại Đương Giang Đô Hộ Quốc Thần Vương, lập đền ở cửa sông Như Nguyệt(cửa sông Cà Lồ, Ngã ba Xà, chỗ sông Cà Lồ đổ ra sông Cầu). Còn em là Tiểu Đương Giang Đô Hộ Quốc Thần Vương, lập đền ở cửa sông Nam Bình (cửa sông Thương).

3.2. Hiển linh giúp Lê Đại Hành chống Tống - Bài thơ Thần ra đời[9]

Năm Tân Tị niên hiệu Thiên Phúc (981), triều Lê, Tống Thái Tông sai tướng quân Nhân Bảo, Tôn Toàn đem binh xâm lược phương Nam đến cửa biển Đại Than. Vua Đại Hành cùng tướng quân Phạm Cự Lượng dựng lũy, cầm cự với giặc ở sông Đồ Lỗ. Lê Đại Hành đêm canh ba nằm mộng thấy thần nhân tới bái lạy trên sông. Thần kể sự tình lúc còn sống theo vua đánh giặc, chết được Thượng đế thương tình ban tên cho là Thần bộ quan (thủy thần), thống lĩnh tướng các âm binh. Nay giặc Tống sang xâm phạm bờ cõi, xin được cùng hoàng đế đánh giặc Bắc Tống để cứu sinh dân". Vua tỉnh dậy, lập tức thắp hương khấn vái xin được thần nhân trợ giúp, sau đó giết súc vật, đốt vàng mã làm lễ cúng tế. Đêm ấy, Đại Hành lại mộng thấy thần nhân thống lĩnh âm binh tiến đánh giặc. Canh ba, đêm tháng mười, trời đất tối đen, mưa to gió lớn đùng đùng, quân Tống kinh hoàng, tháo chạy tán loạn, thần nhân ẩn mình trên không trung lớn tiếng ngâm thơ:

”Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư,
Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm,
Hội kiến thịnh trần tận tảo trừ. “
”(Núi sông nước Nam vua Nam ở,
Trời xanh đã định trong sách trời,
Cớ sao giặc Bắc sang xâm phạm,
Sẽ gặp cuồng phong đánh tơi bời).”

Quân Tống nghe bài thơ đó đánh giết lẫn nhau rồi mạnh ai người nấy chạy tháo thân về nước. Vua phong thưởng tướng sĩ rồi truy phong công lao hai thần. Một là Khước Địch đại vương, lập đền ở ngã ba sông Long Nhãn (hay Long Nhỡn,cũng là sông Thương?). Một là Uy Linh đại vương, lập đền ở ven sông Như Nguyệt".

3.3. Hiển linh giúp Lí Thường Kiệt chống Tống - Bài thơ Thần xuất hiện lần thứ hai[10]

Thời vua Nhân Tông nhà Lý (1075), binh Tống nam xâm kéo đến biên cảnh; vua sai Thái uý Lý Thường Kiệt dựa bờ sông đóng cừ để cố thủ. Một đêm kia quân sĩ nghe trong đền có tiếng ngâm to rằng:

”Sông núi nhà Nam Nam đế ở
Phân minh trời định tại thiên thư.
Cớ sao nghịch lỗ sang xâm phạm?
Bọn chúng rồi đây sẽ bại hư.”

Quả nhiên quân Tống chưa đánh đã tan rã. Thần mộng rõ ràng, mảy lông sợi tóc chẳng sai.

Niên hiệu Trùng Hưng năm đầu (Trần Nhân Tông), sắc phong Như Nguyệt Khước Địch Đại Vương, năm thứ tư gia phong Thiện Hựu Dũng Cảm.

Các triều vua về sau: Trần, đem quân đánh giặc phương Bắc tại dòng sông Cầu đều được Thần âm phù đánh thắng và đều có sắc phong cao nhất cho Thần là “Tam Giang thượng đẳng thần”.

4. Nơi thờ

Có từ 290 đến 372 làng xã tôn thờ Đức Thánh Tam Giang thuộc 5 tỉnh, 16 huyện thị ven các triền sông Cầu từ Đu Đuống (Thái Nguyên) đến Ngã Ba Xà (Tam Giang-Yên Phong), rồi tới Lục Đầu Giang (sông Cầu dài 290km, như vậy trung bình cứ 1km lại có một làng thờ). Một số nơi tiêu biểu gồm: đền chính thờ Trương Hống, Trương Hát, nơi sinh hai thánh, nơi ra đời bài thơ Thần.[11]

  • Đền chính thờ Trương Hống ở làng Vọng Nguyệt(còn gọi là Thôn Đoài)[12] (xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh - đất hiếu học với 8 vị đỗ đại khoa thời Phong Kiến), cạnh làng Như Nguyệt (quê Hứa Tam Tỉnh ). Hội làng Vọng nguyệt tổ chức trong ba ngày 25, 26, 27 tháng 2 âm lịch.[13].Đền Xà, tương truyền là nơi thờ hai vị Đại Vương Tôn Thần họ Trương – Thánh Tam Giang Trương Hống, Trương Hát, đọc bài thơ thần lần thứ hai - đã được tu bổ lại. Trước cửa đền Xà, năm 2000 Nhà nước đã xây dựng một nhà bia hình tứ giác hai tầng mái. Bên trong dựng một tấm bia lớn đặt trên mình con rùa. Đầu rùa đặt một bình hương. Mặt trước bia nhìn vào đền khắc bài thơ Thần bằng chữ Hán. Mặt sau, phần trên dịch âm, phần dưới dịch nghĩa bài thơ Thần.[14]
  • Đền thờ chính Trương Hát ở làng Phượng Nhỡn[15] ở cửa sông Thương. Làng Phượng Nhỡn có lẽ thuộc huyện Long Nhỡn thời Lí - Trần, cuối thời Lê thuộc huyện Phượng Nhỡn (nay là Làng Kế?). Làng Kế thuộc xã Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang tỉnh Bắc Giang. Cũng là đất hiếu học, quê của trạng nguyên Giáp Hải. Nhưng hiện nay di tích tiêu biểu ở Làng kế là chùa Đống Nghiêm, Nghè Cả (đền Dĩnh Kế- Đền thờ Cao Sơn, Quý Minh đại vương - hai vị tướng của Hùng Vương phò vua giúp nước), miếu thờ bà chúa chợ, là những di tích lịch sử văn hoá tiêu biểu đã được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia (không thấy nhắc tới đền thờ Đức Thánh Tam Giang).[16][17]
  • Cụm di tích về quê hương Thánh Tam Giang tại phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh : nghè Chu Mẫu tương truyền nơi thờ Thánh Tam Giang, nhà cố trạch tương truyền là nhà ở thuở nhỏ của các Thánh và đặc biệt là Đền Vân Mẫu. Thời Hậu Ngô, triều đình và nhân dân trong vùng xây dựng đền thờ với các hạng mục: Lăng mộ Đức Thánh Mẫu xây phía ngoài cùng, kế đến là sân đền và đền tế gồm 3 gian 2 dĩ, vào đền chính gồm 5 gian và hậu cung. Năm 1953, giặc Pháp phá hết chỉ còn phần lăng mộ. Song điều quý giá là làng xã nơi đây còn gìn giữ được tượng thờ cổ, thần phả, sắc phong và nhiều đồ thờ tự cổ quý phản ánh rõ nét, sâu sắc về quê hương Thánh Tam Giang.Năm 1975, nhân dân địa phương xây lại với quy mô nhỏ. Năm 1989, khu lăng mộ được công nhận di tích lịch sử cấp Quốc gia. Năm 2005, Vân Dương đã tổ chức xây dựng lại đền trên cơ sở những nghiên cứu của ngành văn hóa về kiến trúc. Đền Vân Mẫu gồm các hạng mục: nhà bia, lăng mộ, sân lăng mộ, 5 gian đền chính, 1 hậu cung và khơi 1 giếng mắt rồng. Trong đền có 3 bức hoành phi: Từ Nhan thánh mẫu, thượng đẳng phúc thần, tam giang linh thần; hậu cung có tượng thờ Thánh Mẫu.[18][19]

5. Sắc phong của các Triều đại Phong Kiến[21][22] Anh em Đức Thánh được triều đại phong kiến phong 17 đạo sắc, tiêu biểu là:

Trương Hống: Đại Đương Giang Đô Hộ Quốc Thần Vương
Trương Hát: Tiểu Đương Giang Đô Hộ Quốc Thần Vương

(do Nam Tấn Vương sắc phong, theo Việt điện u linh, Đại Việt sử kí toàn thư)

Trương Hống: Khước Địch Đại Vương
Trương Hát: Uy Địch Đại Vương (hoặc Uy Linh đại vương)

(Do Nam Tấn Vương sắc phong-theo Lĩnh Nam chích quái,và vua Trần Nhân Tông sắc phong năm Trùng Hưng 1 (1285), theo Việt điện u linh, Đại Việt sử kí toàn thư)

Trương Hống: Khước Địch Trợ Thuận Đại Vương
Trương Hát: Uy Địch Dũng Cảm Đại Vương

(Do vua Trần Nhân Tông sắc phong năm Trùng Hưng 4 (1288), theo Việt điện u linh, Đại Việt sử kí toàn thư)

Khước Địch Thiện Hựu Trợ Thuận Đại Vương
Uy Địch Dũng Cảm Hiển Thắng Đại Vương

(theo Việt điện u linh, trong tác phẩm cùng tên)

Tam Giang thượng đẳng thần (sắc phong cao nhất cho Thần, do các triều vua về sau đời , Nguyễn)

Trương Hống: Tức Khước Địch Đại Vương,
Trương Hát: Tức Uy Địch Đại Vương,
Trương Lừng : Lẫn Nhĩ Đại Vương,
Trương Lẫy: Lã Sậu Đại Vương;
Đạm Nương: Đức Vương Cô (thường gọi là Đạm Nương công chúa)

(Theo cuốn Thần Phả hiện được lưu giữ tại Ban quản lý di tích đền Vân Mẫu ở thôn Hai Vân, phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh)

6. Đánh giá

“Hai họ Trương đây là tôi Việt Vương, không chịu khuất phục vua Nam Đế, cái khí trung nghĩa hạo nhiên thường phảng phất ở khoảng trời đất, không nên lấy tý lông mảy vết mà bàn luận vậy. Sống làm danh tướng, chết là danh thần, cho vua Tấn Vương nằm thấy mà giặc Côn Lôn phá tan, ngâm bài thơ Nam Quốc mà quân nhà Tống không bị đánh tự tan vỡ, lấy sự báo ứng như thế, phong làm Phúc Thần, hưởng được cúng vái nghìn xưa, đội ân vinh phong tặng ở cửu trùng, hai đền thờ ngày nay vẫn còn, người ở hai bên sông đều tránh tên huý, gọi hát bằng xướng. Tinh anh đầy dẫy, nghìn trăm năm vẫn thường như một ngày, khiến cho đương thời, những kẻ cam lòng đầu giặc, mưu cầu phú quý một thời, đâu được trổi thơm muôn đời, khiến cho người ta thán mộ mà hăng hái lên như hai Vương này vậy.”- Hoàng Xuân Hãn[23]

Chú thích:

  1. ^ Về thời điểm ra đời của bài thơ Nam quốc sơn hà, Nguyễn Thị Oanh, TC Han Nom 1/ 2002
  2. ^ [http://www.bachkhoatrithuc.vn/encyclopedia/4725-4725-633954331746783054/T--Ta-giao--Ty-kheo/Thanh-tam-giang.htm Bách khoa tri thức
  3. ^ Hội đền Vân Mẫu, Thúy Nga, Thứ hai, 21/02/2011 - 08:45
  4. ^ Về thời điểm ra đời của bài thơ Nam quốc sơn hà, Nguyễn Thị Oanh, TC Han Nom 1/ 2002
  5. ^ [http://www.sugia.vn//assets/file/phap_thuan.pdf Pháp Thuận và bài thơ thần nước Nam sông núi, Nguồn: Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt nam T.II, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 2001, tr. 473-485. ]
  6. ^ Chuyện Trương Hống và Trương Hát, Việt Điện U Linh tập, Huyền sử, Dã sử, http://www.lichsuvietnam.info, theo Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, tr.303
  7. ^ Chuyện Trương Hống và Trương Hát, Việt Điện U Linh tập, Huyền sử, Dã sử, http://www.lichsuvietnam.info, theo Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, tr.303
  8. ^ Về thời điểm ra đời của bài thơ Nam quốc sơn hà, Nguyễn Thị Oanh, TC Han Nom 1/ 2002
  9. ^ Về thời điểm ra đời của bài thơ Nam quốc sơn hà, Nguyễn Thị Oanh, TC Han Nom 1/ 2002
  10. ^ Chuyện Trương Hống và Trương Hát, Việt Điện U Linh tập, Huyền sử, Dã sử, http://www.lichsuvietnam.info, theo Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, tr.303
  11. ^ Chuyện Trương Hống và Trương Hát, Việt Điện U Linh tập, Huyền sử, Dã sử, http://www.lichsuvietnam.info, theo Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, tr.303
  12. ^ Chuyện Trương Hống và Trương Hát, Việt Điện U Linh tập, Huyền sử, Dã sử, http://www.lichsuvietnam.info, theo Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, tr.303
  13. ^ Lễ hội làng Vọng Nguyệt - Những hoạt động truyền thống, N.A - Bảo tàng BN, 22/03/2012 2:50:15
  14. ^ Nơi ra đời bài thơ “Thần” - Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Đại Việt, Dương Quang Luân
  15. ^ Chuyện Trương Hống và Trương Hát, Việt Điện U Linh tập, Huyền sử, Dã sử, http://www.lichsuvietnam.info, theo Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, tr.303
  16. ^ Làng Kế - Làng khoa bảng của thành phố
  17. ^ Lễ hội Dĩnh Kế
  18. ^ Đền Vân Mẫu và sự tích về Thánh Tam Giang, Đỗ Thị Thủy, Bảo tàng Bắc Ninh, Thứ năm, 21/06/2007 - 23:00
  19. ^ Hội đền Vân Mẫu, Thúy Nga, Thứ hai, 21/02/2011 - 08:45
  20. ^ Phòng tuyến sông Như Nguyệt sắp trôi sông, Mai Hoa, VTC
  21. ^ Chuyện Trương Hống và Trương Hát, Việt Điện U Linh tập, Huyền sử, Dã sử, http://www.lichsuvietnam.info, theo Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, tr.303
  22. ^ Về thời điểm ra đời của bài thơ Nam quốc sơn hà, Nguyễn Thị Oanh, TC Han Nom 1/ 2002
  23. ^ Chuyện Trương Hống và Trương Hát, Việt Điện U Linh tập, Huyền sử, Dã sử, http://www.lichsuvietnam.info, theo Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, tr.303

Thần ChúcHamhochoilatoi (thảo luận) 16:23, ngày 12 tháng 3 năm 2013 (UTC)

Bản chuẩn?[sửa | sửa mã nguồn]

Không có bản nào là bản chuẩn, vì chưa biết bài thơ ban đầu là bản nào, tất cả đều là dị bản. Bản mà hay đựơc trích dẫn nhất là bản hay nhất, bản ra sau dựa vào bản ra trước và hoàn thiện dần cho hay hơn, chứ đó không phải là bản chuẩn.Hamhochoilatoi (thảo luận) 11:44, ngày 29 tháng 4 năm 2013 (UTC)