Thảo luận:William Butler Yeats

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm

--totrami 12:44, ngày 2 tháng 7 năm 2007 (UTC)

[[Hình: W. B. Yeats trong Wiki.jpg|nhỏ|phải|250px|

Nhà thơ Ai-len W. B. Yeats, giải Nobel năm 1923, sinh ra trong một gia đình nghệ sĩ. Bố là họa sĩ chân dung nổi tiếng, em trai cũng trở thành một họa sĩ lớn của Ai-len. Bản thân Yeats cũng từng học trường nghệ thuật và có ý định sẽ sống bằng nghề hội họa nhưng thơ ca đã xâm chiếm tâm hồn ông ngay từ những thành công đầu tiên. Năm 1887 Yeats đến Luân Đôn. Tại đây ông gặp gỡ và làm quen với nữ nghệ sĩ Maud Gone – một trong những thủ lĩnh của phong trào giải phóng dân tộc Ai-len. Yeats tham gia tích cực vào phong trào “Phục hưng Ai-len”. Mục đích của phong trào này là phục hồi tiếng Gaelic, tìm hiểu văn hoá và lịch sử Ai-len, sáng tác những tác phẩm dựa trên những huyền thoại, truyền thuyết của Ai-len, thành lập nhà hát dân tộc. Năm 1904 Yeats cùng với một số bạn bè thành lập “Nhà hát Abbas” và làm giám đốc nhà hát này đến năm 1938… Sinh ra giữa thời đại mà quê hương Ai-len của ông bắt đầu thức dậy một phong trào yêu nước. Đỉnh cao là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc 1919-1923. Thời đại này đã mang lại một xung lực cho sáng tác của ông. Thơ của Yaets mang đậm hơi thở, phong cách dân tộc Ai-len. Nhiều đề tài, hình tượng trong thơ ông được lấy từ kho tàng thơ ca dân gian kết hợp với khuynh hướng biểu tượng và lãng mạn trữ tình. Tác phẩm của ông giàu hình tượng với những quan sát tinh tế, vẻ đẹp bên ngoài kết hợp với chiều sâu trí tuệ bên trong. Yeats phản đối quan niệm “Nghệ thuật vị nghệ thuật” – rất thời thượng lúc bấy giờ. Ông viết: “Văn học cần thể hiện chính kiến và tình cảm chứ không phải là mục đích tự thân”. W. B. Yeats có sự ảnh hưởng rất lớn đến thơ ca Anh trong thế kỉ XX. Tên tuổi của ông đặt ngang hàng với những nhà thơ lớn nhất của thế kỉ XX.

[sửa] Tác phẩm chính:

Gió trong bãi sậy (The wind among the reeds, 1899), thơ

Catheleen con gái Houlihan (Catheleen ni Houlihan, 1902), kịch thơ

Chiếc mũ màu xanh ( The green helmet, 1910), thơ

Thiên nga ở Coole (The wild’s swans at Coole, 1919), thơ

Bốn vở kịch cho vũ nữ (Four plays for the dancers, 1921), thơ

Michael Robartes và vũ nữ (Michael Robartes and dancer, 1921), thơ

Con mèo và mặt trăng (The cat and the moon, 1926), kịch

Cái chết của Cuchulain (The death of Cuchulain, 1939), kịch

Những bài thơ và những vở kịch cuối cùng (Last poems and plays, 1940), thơ, kịch.


[sửa] Một số bài thơ

KHI EM ĐÃ GIÀ


Khi em đã già, mái tóc điểm bạc

Một mình em bên bếp lửa, cúi đầu

Em mở cuốn sách này, hãy đọc thật lâu

Có bóng xưa toả ra từ ánh mắt.


Biết bao kẻ yêu vẻ vui tươi phút chốc

Yêu vẻ đẹp của em, giả dối hoặc chân thành

Nhưng chỉ một người yêu tâm hồn hành hương của em

Và yêu nét buồn đổi thay trên gương mặt.


Em cúi xuống, giọng thì thào, khoan nhặt

Đượm vẻ buồn sao tình vội qua mau

Tình vút bay lên tận đỉnh núi cao

Giữa đám đông các vì sao giấu mặt.

(Nguyễn Viết Thắng dịch)


NỖI BUỒN TÌNH YÊU


Dưới mái hiên chim sẻ kêu ríu rít

Ánh trăng thanh và cả dải ngân hà

Và tiếng lá đang hoà âm xào xạc

Át tiếng khóc than nhân thế mờ xa.


Nàng thiếu nữ bờ môi hồng ảm đạm

Tựa hồ như đau đớn cả trần gian

Nàng giống như Odyssey bi thảm

Như vua Priam trước cái chết hiên ngang.


Và trỗi dậy, tiếng chim kêu ríu rít

Và giữa bầu trời buồn bã ánh trăng

Và tất cả tiếng lá cây xào xạc

Hòa nhập vào tiếng khóc của trần gian.

(Nguyễn Viết Thắng dịch)


ĐI VÀO BUỔI HOÀNG HÔN


Nào, con tim, hãy quên hết xiềng gông

Hãy xua đi ý nghĩ về phải, trái

Hãy cười lên trong hoàng hôn tê tái

Hít thở vào giọt sương buổi bình minh.


Mẹ của em Eire mãi mãi trẻ trung

Sương vẫn trong và hoàng hôn tê tái

Dù hy vọng đổ vào trong lửa cháy

Của tình yêu bị vu khống chết dần.


Nào con tim, hãy đến ngọn đồi con

Nơi bí ẩn muôn đời tình huynh đệ

Nơi mặt trời, mặt trăng và cây dẻ

Ta nhận về ý chí của dòng sông.


Và Chúa Trời sẽ đứng đấy một mình

Và cuộc đời, thời gian còn bay mãi

Và tình yêu không dịu êm bằng hoàng hôn tê tái

Và hy vọng không quí bằng sương buổi bình minh.

(Nguyễn Viết Thắng dịch)


GIỮA RỪNG CÂY DƯƠNG LIỄU


Tôi và em gặp nhau giữa rừng cây dương liễu

Bàn chân của em nhẹ nhàng rảo bước giữa rừng dương

Hãy yêu em - nàng bảo tôi - như những chiếc lá trên cành

Nhưng tôi dại dột, trẻ con, với nàng tôi không chịu.


Trên bãi đất nhỏ bờ sông - nàng đứng bên tôi

Bàn tay nàng nhẹ nhàng đặt trên vai tôi như là chiếc lá

Hãy yêu em - nàng bảo tôi - như đập nước yêu cây cỏ

Nhưng tôi trẻ con, dại dột... để bây giờ nước mắt đầy vơi.

(Nguyễn Hoàng Ái dịch)

Công cụ cá nhân