Thần Tài

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thần Tài là một vị thần trong tín ngưỡng Việt Nam và một số nước phương Đông.

Theo truyền thuyết, thần tài chính là Triệu Công Minh, người đời nhà Tần. Ông lánh đời đi tu tại núi Chung Nam. Về sau đắc đạo, ông được phong làm Chính Nhất Huyền Đàn Nguyên Soái, coi việc đuổi trừ ôn dịch, cứu bệnh trừ tà. Hơn nữa, ai bị oan ức đến cầu cứu ông thì được giúp đỡ. Người buôn bán thì cúng cầu ông để được phát đạt may mắn.

Người ta thường vẽ ông hình một người mặt đen, râu rậm, tay cầm roi, cưỡi cọp đen. Dân gian còn gọi ông là Tài Bạch Tinh Quân hay Triệu Công Nguyên Soái. Người đời vẽ ông trên một cái đĩa làm bằng kim loại trên bàn thờ để thờ cúng.

Ông Địa và Thần Tài[sửa | sửa mã nguồn]

Thờ cúng Thần Tài và Ông Địa[sửa | sửa mã nguồn]

Vật cúng Ông Địa[sửa | sửa mã nguồn]

Nếu như Thần Tài người ta cúng tỏi hay hoa quả thì trái lại Thổ Địa lại cúng chuối xiêm, thuốc lá hay có khi cúng ly cà phê. Thông tường Thần Tài người Hoa kính trọng và khấn vái nhiều, thì trái lại người Việt luôn luôn khấn vái Ông Địa. Có câu: Lạy ông Địa cúng nải chuối là câu khấn thường xuyên, giá trị vật cúng thường thấp hơn vật mất hay vật cần khấn. Vào ngày tết, vai trò của Thần Tài càng được xem trọng hơn. Người ta lo trang hoàng nhà cửa, sửa soạn cho ông sạch sẽ, nếu vị thần này đã quá cũ hay bị hư thì sẽ thỉnh vị mới về. Họ tin rằng năm mới, mọi thứ đều ngăn nắp và Thần Tài có sạch sẽ thì làm ăn mới phát tài.

Bố trí bàn thờ[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thờ Thần Tài được lập ở những góc nhà, xó xỉnh chứ không phải nơi cao ráo như bàn thờ Tổ tiên, Thổ Công hay Thánh Sư. Bàn thờ Thần Tài chỉ là một sập sơn son thếp vàng. Phía trong khảm là bài vị hoặc thùng gỗ dán giấy đỏ ở xung quanh, phía trong dán bài vị, cũng được viết trên giấy đỏ. Bài vị được viết bằng mực nhũ kim với nội dung như sau:

Ngũ phương Ngũ thổ Long thần,
Tiền hậu địa Chúa Tài thần.

Hai bên bài vị có câu đối viết bằng chữ Hán:

土地生白玉,
土可出黃金.

Phiên âm Hán-Việt là:

Thổ Địa sinh bạch ngọc,
Địa khả xuất Hoàng Kim.

Dịch ra tiếng Việt là:

Đất đai sinh ra ngọc trắng,
Đất có thể hiện ra vàng ròng.

Nội dung câu đối có thể thay đổi, nhưng bao giờ cũng phải trình bày thành một đôi dán ở hai bên bài vị, mỗi bên có một câu. Trên đỉnh bàn thờ, lắp hai ngọn đèn (được thắp sáng liên tục khi thắp hương). Hai bên, phía bên trái (từ ngoài nhìn vào) là ông Thần tài, phía bên phải là Ông Địa. Ở giữa hai ông là một hũ gạo, một hũ muối và một hũ nước đầy (không nên đầy quá). Ba hũ này chỉ đến cuối năm mới thay. Giữa bàn thờ là một bát nhang, bát nhang này khi bốc phải theo một số thủ tục nhất định. Để tránh động bát nhang khi lau chùi bàn thờ, người ta dán chết bát nhang xuống bàn thờ bằng keo, băng dính... Khi đang làm ăn tốt mà xê dịch bát nhang gọi là bị động bát nhang, mọi chuyện trở nên trục trặc liền. Theo nguyên lý Đông Bình - Tây Quả, nên đặt lọ hoa bên tay phải, đĩa trái cây bên tay trái. Thường nên cắm hoa hồng, hoa cúc, hoa đồng tiền. Trái cây nên sắp ngũ quả (5 loại trái cây). Thường ở ngoài nơi bán đồ thờ cúng sẵn, người ta có một cái khay xếp năm chén nước thành hình chữ Nhất (一) - người cúng thường mua về sắp lại thành chữ Thập (十), và cũng là tương trưng cho Ngũ Hành phát sinh phát triển. Ông Cóc được để bên trái, ở phía trước Thần Tài, sáng quay Cóc ra ngoài, tối quay Cóc vào trong. Ngoài cùng trên mặt đất, người ta chọn một cái tô sứ thật đẹp, nông lòng, đổ đầy nước và ngắt những bông hoa trải trên mặt nước.

Thời gian cúng[sửa | sửa mã nguồn]

Khác với Tổ tiên và Thổ Công chỉ cúng vào ngày sóc vọng và ngày lễ Tết, Thần Tài được cúng quanh năm, kể cả ngày thường. Ngày thường Thần tài chỉ được cúng bằng trái cây và bánh kẹo. Vào ngày sóc vọng hay lễ Tết người ta có thể cúng Thần Tài bằng cúng chay hoặc cúng mặn tùy thuộc hoàn cảnh của từng gia đình. Khi gia đình có điều gì trục trặc, người ta lại khấn Thần Tài để xin phù hộ. Cúng Thần Tài thường cúng vào buổi trưa hoặc chiều.

Văn khấn[sửa | sửa mã nguồn]

Văn khấn dưới đây được dùng cho cả năm, tùy thuộc cúng vào ngày nào mà thay đổi ngày, thángnăm sao cho phù hợp:

Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
  • Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.
  • Kính lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
  • Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.
  • Con kính lạy Thần tài vị tiền.
  • Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Tín chủ con là....

Ngụ tại....

Hôm nay là ngày... tháng... năm....

Tôi chủ thành sửa biện, hương hoa, lễ vật, kim ngân, trà quả và các thứ cúng dâng, bầy ra trước án kính mời ngài Thần Tài tiền vị. Cúi xin Thần Tài thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật phù trì tín chủ chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm. Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!

[1]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Văn khấn Thần linh tại gia”. Văn khấn cổ truyền Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin. 2007. tr. 186. ISBN 4829-4920 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). Truy cập 14 tháng 9 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]