Thịt rừng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thịt rừng được bày bán ở châu Phi

Thịt rừng hay thịt thú rừng là các loại thịt có nguồn gốc từ các động vật hoang dã, nhất là các động vật hoang dã sống ở khu vực rừng, rú được con người săn bắn, bắt giữ, xẻ thịt để tiêu thụ.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Thịt rừng là một trong những nguồn thức ăn chính đối với một số dân tộc sống theo lối săn bắt và hái lượm, đồng thời còn là những món ăn đặc sản, khoái khẩu của nhiều người trong xã hội, nhất là ở các quán nhậu[1]. Thịt rừng thông thường được ăn nhiều ở các vùng Châu ÁChâu Phi. Việc tiêu thụ thịt rừng với khối lượng lớn dẫn đến những nguy cơ tuyệt chủng cho các loài động vật hoang dã[2] và gia tăng nạn săn bắn, buôn bán, kinh doanh động vật hoang dã trái phép.

Việt Nam, theo quan niệm của người dân miền Trung thì đầu năm ăn một miếng thịt rừng sẽ gặp may mắn trong suốt cả năm[3]. Thịt rừng vùng Đông Nam Bộ chủ yếu được săn tại Vườn Quốc gia Cát Tiên[2]. Một số nơi, thịt rừng được bày bán ngang nhiên trên đường phố[4]. Để thoát khỏi sự kiểm soát gắt gao, khi bẫy được thợ săn thường sả thịt tại rừng rồi chia nhỏ mang về để qua mặt các chốt kiểm lâm[3].

Chủng loại[sửa | sửa mã nguồn]

Nói chung, thịt thú rừng thịt thường có màu đỏ sậm so với thịt các gia súc[5]. Thịt rừng có nhiều chủng loại phong phú và đa dạng xuất phát từ sự đa dạng của các loại thú rừng, thông thường người ta chia thành các loại thú rừng cỡ lớn và cỡ nhỏ, có thể kể đến như: bò rừng, trâu rừng, nai, lợn rừng, khỉ, rừng, bò tót, chồn, voọc, cheo cheo, rắn, kỳ tôm, kỳ đà, cầy voi, dúi, rắn hổ ngựa, gà nước, chim quốc, rắn hổ hành, rắn ráo, cầy hương, kỳ đà vân, nhím bờm, dúi mốc, cầy vòi hương, sóc đen, cầy giông, cầy hương, khỉ mặt đỏ, khỉ vàng, chồn vàng, rắn nước, tê tê, gà rừng, rắn hổ, trút.... trong đó thông dụng là thịt heo rừng, thịt nai, hoẵng, thịt cầy[1][2][5][6][7][8][9].

Cảnh báo[sửa | sửa mã nguồn]

Thực tế ở một số nước do nhu cầu tiêu thụ thịt rừng cao dẫn đến có hiện tượng làm giả thịt rừng từ các loại thịt không rõ nguồn gốc[10] (thường là thịt heo) và thịt bẩn để bày bán. Thông thường các loại thịt này được giả là thịt nai, thịt heo rừng[11]. Việc bày bán thịt rừng giả này ngày càng phổ biến và tràn lan xuống tận các chợ[3].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Duy Đông (Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh) (16 tháng 11 năm 2012). “Đồng Nai: Thu giữ thịt rừng trong quán nhậu”. vietpress.vn (đăng lại). Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014. 
  2. ^ a ă â Công Nguyên, Giang Phương (26 tháng 1 năm 2012). “Con đường tận diệt thú rừng”. Báo Thanh Niên online. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014. 
  3. ^ a ă â Trần Chánh Nghĩa (15 tháng 2 năm 2013). “Thịt rừng... rởm ùn ùn xuống phố”. Báo điện tử VietNamNet. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014. 
  4. ^ Thanh Lâm (29 tháng 3 năm 2013). “Ngang nhiên bán thịt rừng trên phố”. Báo Lao Động điện tử. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014. 
  5. ^ a ă Văn Dũng, Minh San (29 tháng 3 năm 2007). “Đi nhậu thịt rừng”. Báo điện tử Dân trí. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014. 
  6. ^ Trí Tín, Tùy Phong (19 tháng 7 năm 2012). “Người tung loạt ảnh giết khỉ gây phẫn nộ là quân nhân”. Báo điện tử VnExpress. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014. 
  7. ^ Nguyễn Tú (28 tháng 3 năm 2013). “Tiêu hủy nửa tấn thịt rừng”. Báo Thanh Niên online. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014. 
  8. ^ Nguyễn Tú (26 tháng 3 năm 2013). “Phạt chủ lò thịt rừng 105 triệu đồng”. Báo Thanh Niên online. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014. 
  9. ^ Quốc Dũng (22 tháng 8 năm 2012). “Giải cứu động vật hoang dã ở 23 nhà hàng, quán ăn”. Báo điện tử VnExpress. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014. 
  10. ^ B.V (8 tháng 4 năm 2013). “Thịt rừng không rõ nguồn gốc”. Báo Đồng Nai điện tử. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014. 
  11. ^ Kim Long (31 tháng 10 năm 2012). “Cảnh giác với thịt rừng "giả", độc hại!”. Báo Điện tử Pháp luật & Xã hội. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014.