Thỏ nhà

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thỏ nhà
Tsukibunny.jpg
Tình trạng bảo tồn
Đã thuần hóa
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Lagomorpha
Họ (familia) Leporidae
Chi (genus) Oryctolagus
Lilljeborg, 1873
Loài (species) O. cuniculus
Danh pháp hai phần
Oryctolagus cuniculus
(Linnaeus, 1758)

Thỏ nhà hay thỏ nuôi là tên gọi chỉ chung cho nhiều giống thỏ có nguồn gốc từ Thỏ châu Âu và đã được thuần hóa để trở thành vật nuôi nhằm mục đích lấy thịt thỏ, lông thỏ hoặc làm vật cưng, thú kiểng. Loài thỏ được con người biết đến đầu tiên đó là những con thỏ châu Âu vào khoảng 1000 năm trước công nguyên bởi những người xứ Phoenician. Thỏ rừng Châu Âu là loài thỏ duy nhất được thuần hóa. Thỏ vừa được xem là thú nuôi, làm thực phẩm, lấy lông và cũng là những kẻ phá hoại ruộng vườn. Thỏ nhà được thuần hóa từ thỏ rừng sống hoang dã.

Chúng còn giữ nhiều bản năng phản ứng với thiên nhiên và động vật khác. Trong quá trình thuần hóa, con người đã nhốt thỏ trong lồng, chuồng để bảo vệ cũng như để chăm sóc, nuôi dưỡng. Tại Việt Nam, thỏ có nhiều loại như thỏ nội (thỏ đen, thỏ xám, thỏ dé, thỏ mắt ngọc), thỏ ngoại (thỏ New Zealand trắng, thỏ California, thỏ Pháp, thỏ Hungari, thỏ sư tử...). Ở phương Tây, thỏ nuôi ở nhà gọi là bunny hoặc bunny rabbit chỉ thỏ con đã thuần hóa. Thuật ngữ kit hoặc kitten được dùng để chỉ thỏ con.

Thỏ nhà là gia súc được biết như là một loài ăn cỏ chuyển hoá một cách có hiệu quả từ rau cỏ sang thực phẩm cho con người. Thỏ có thể chuyển hoá 20% protein chúng ăn được thành thịt so với 16-18% ở heo và 8-12% ở bò thịt. Một cách đặc biệt chúng tận dụng tốt nguồn protein và năng lượng từ thực vật để tạo ra thực phẩm, trong khi các nguồn thức ăn này không cạnh tranh với con người, heo, gà so với ngủ cốc. Trong những nước hay vùng không có nguồn ngủ cốc dư thừa thì chăn nuôi thỏ là một trong những phương án tốt nhất để sản xuất ra nguồn protein động vật cần thiết cho dinh dưỡng con người một cách có hiệu quả kinh tế.

Thuần hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Sự thuần hoá thỏ rừng thành thỏ nhà diễn ra từ lâu. Thỏ rừng ở Châu Âu được phát hiện bởi những nhà ngữ âm học khi họ đến bờ biển Tây Ban Nha vào năm 1000 trước công nguyên. Thỏ là biểu tượng của Tây Ban Nha vào thời kỳ La Mã. Từ đầu thế kỷ 19 việc nuôi thỏ đã phát triển khắp Tây Âu và được người Châu Âu đưa thỏ đi du nhập ở tất cả các nước trên thế giới. Cuối thế kỷ 19 và nhất là đầu thế kỷ 20 cùng với phương pháp nuôi nhốt cùng với các giống thỏ đã thích nghi với điều kiện nuôi nhốt đã được chọn lọc và thay đổi dần về ngoại hình, sinh lý thích nghi với hoàn cảnh cụ thể và khả năng sản xuất phù hợp với nhu cầu thâm canh cùng với các kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến đáp ứng nhu cầu sản xuất và lợi nhuận, bệnh tật của thỏ ngày càng được nghiên cứu và khống chế cũng như là có thể điều trị và phòng ngừa được càng ngày càng phát triển với mục đích sản xuất thịt thỏ để làm động vật thí nghiệm và làm sinh vật cảnh.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Thỏ nhà nhỏ và yếu hơn thỏ rừng và khi mới sinh ra thì không có lông và không mở mắt, tai thỏ nhà ngắn hơn tai thỏ rừng. Thỏ trưởng thành đạt khoảng trên 3,5 kg[1]. Một con thỏ nhà tại Anh đã đạt kỷ lục là con thỏ lớn nhất với cân nặng 22,3 kg và dài 1,32 m, mỗi ngày nó ăn 12 củ cà rốt, tức khoảng 4.000 củ mỗi năm và các loại bắp cải, táo và 2 bát thức ăn dành cho mỗi ngày. Ước tính mỗi năm tốn 2.500 bảng (89 triệu đồng) để nuôi con thỏ này[2].

Thỏ nhà sống trong các hang dưới đất và thành từng đàn. Một con thỏ nhà có thể sống tới 10 năm hoặc hơn nữa. Khi nuôi thỏ phải chọn những con thỏ khỏe mạnh, ngoại hình cân đối, không có dị tật bẩm sinh, lông bóng, dày, mịn và sáng, vành tai bóng sạch, mí mắt không sưng, tròng mắt trong, bàn chân và kẽ chân không ghẻ[3]. Lông thỏ mịn và sáng, không bị xù. Bụng mềm, lông bụng xốp. Đuôi sạch không có dấu hiệu dính phân ướt. Da lưng thỏ mềm, không tróc lông. Cục phân to, tròn và khô. Thỏ nặng chắc và hiếu động. Trong đó thỏ New Zealand với các giống thỏ khác bởi bộ lông dày màu trắng tuyền, mắt hồng và khối lượng của một con thỏ trưởng thành vào khoảng từ 5- 5,5 kg/con[3]. Thịt chứa nhiều chất dinh dưỡng, lông và da để làm áo, mũ, đồ thủ công mỹ nghệ có giá trị kinh tế cao[4] Một thỏ mẹ nặng 4 – 5 kg trong một năm có thể sản xuất ra 90 – 140 kg thịt, hiệu suất cao hơn nhiều so với các loài gia súc khác[5].

Thỏ nhà là loài vật dễ nuôi, mỗi ngày chỉ ăn một bữa thức ăn tinh bằng cơm nguội hoặc cám ngô, còn lại có thể tận dụng mọi thứ rau, củ, cỏ[6], có thể tận dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho thỏ, thức ăn của thỏ chiếm tới 65-70% là thức ăn thô xanh như: cỏ cây hoa lá mọc tự nhiên, những phế phụ phẩm của nông nghiệp (cây ngô, lá lạc, cây đỗ tương, lá sắn dây…)[7] hoặc các loại rau trong vườn nhà chủ yếu như lá khoai lang, rau muống, cỏ, thân cây chuối, lá các loại cây họ đậu, vốn đầu tư thấp, quay vòng nhanh, phù hợp điều kiện chăn nuôi nông hộ. Phân thỏ tốt hơn các loại phân gia súc khác, có thể dùng để bón cây, nuôi cá, nuôi giun làm thức ăn cho gà, vịt, cá...[8]

Nuôi nhốt thỏ

Nếu nuôi 3 – 3,5 tháng có thể làm thịt. Còn nuôi tới 5,5 – 6 tháng thì thỏ bắt đầu sinh sản. Thỏ đẻ rất khỏe, mỗi lứa 6 – 7 con và 1 năm thỏ đẻ 6 – 7 lứa. Đối với thỏ bắt đầu giai đoạn sinh sản: khi thỏ đạt khoảng 5 tháng tuổi cần tiến hành cho ghép đôi và phối giống cho thỏ, để đến khi thỏ 6 tháng tuổi đẻ lứa đầu tiên là tốt nhất. Với thỏ lần đầu sinh sản, không có biểu hiện động dục ra bên ngoài, chủ yếu dựa vào tháng tuổi để cho thỏ phối giống. Còn với những con đã sinh sản thì kiểm tra thấy niêm mạc âm hộ của thỏ sưng, mảy và có màu đỏ nghĩa là thỏ có biểu hiện động dục[3]. Tùy theo giống, thỏ có thể thành thục tính dục lúc 3 - 4 tháng tuổi. Để đề phòng hiện tượng cắn xé nhau và giao phối tự do, dẫn đến tình trạng giảm trọng hoặc rối loạn sinh sản, khi thỏ được 3 tháng tuổi nên nhốt riêng thỏ đực với thỏ cái.

đặc điểm của thỏ là trứng chỉ rụng sau khi giao phối 9 - 10 giờ nên trong thực tế, để tăng số trứng được thụ tinh và tăng số con đẻ ra, nên áp dụng phương pháp phối giống bổ sung, tức là phối lại lần thứ hai sau lần thứ nhất từ 6 đến 9 giờ. Thỏ mang thai 28-32 ngày, trong thời gian này, cần tiến hành nuôi tách riêng con thỏ mang thai để tránh hiện tượng thỏ đùa giỡn làm động thai. Cũng trong giai đoạn này cần cho thỏ ăn nhiều và đầy đủ các chất dinh dưỡng để nuôi thai. Thỏ thường đẻ vào ban đêm, trước khi đẻ thỏ có hiện tượng nhổ lông làm ổ, cần thu dọn ổ, lấy khăn sạch mềm để lót ổ. Thỏ là loài vật mắn đẻ, phát triển rất nhanh. Mỗi năm đẻ 7 - 8 lứa, mỗi lứa 6 - 7 con. Chỉ 3 tháng kể từ khi sinh, thỏ đã thành mẹ, lúc đó trọng lượng đạt khoảng 2,5 – 3 kg[9], một năm thỏ có thể đẻ 6 đến 7 lứa, mỗi lứa từ 6 đến 7 con.

Sau ba tháng nuôi, trọng lượng một con thỏ đạt 2,5 – 3 kg/con. Để nuôi thỏ thành phẩm phải nuôi 4 tháng, với mỗi con được 2,2- 2,5 kg. Nếu được chăm sóc tốt, phối giống đúng kĩ thuật, một con sinh sản sẽ đẻ từ 6 đến 11 con/lứa, trung bình trong khoảng 45-50 ngày cho một lứa. Với đặc tính sinh sản nhanh, có giống thỏ Newzealand nếu nuôi đúng kĩ thuật, mỗi năm có thể đẻ 7-8 lứa, mỗi lứa từ 5-7 con. Đối với thỏ con theo mẹ, thỏ con có thể bú sữa mẹ ngay sau khi sinh. Trong 18 ngày đầu, thỏ phát triển dựa hoàn toàn vào sữa mẹ. Sau 21 ngày thì cho thỏ con ra ổ, cai sữa. Trong giai đoạn thỏ cai sữa nên tập cho thỏ con ăn thêm các thức ăn thô xanh mềm như cỏ non để bổ sung dinh dưỡng, chế độ ăn theo định lượng tăng dần.

Chúng thích ném đồ chơi lung tung và gặm nhấm trên bìa cứng. Trong một số gia đình, thỏ có thể nảy sinh sự đồng cảm với mèo và chó. Dù bị nhốt trong những cái chuồng nhỏ hẹp nhưng thỏ cũng được huấn luyện để trở thành vật nuôi tự do như chó và mèo. Nếu được nuôi trong môi trường thích hợp và ăn kiêng đúng mức, thỏ sẽ sống lâu hơn. Tuy vậy, Thỏ là loài gia súc yếu, sức đề kháng cơ thể kém, dễ cảm nhiễm các mầm bệnh và phát triển thành dịch. Khi mắc bệnh thỏ rất dễ chết, thậm chí là chết hàng loạt, do đó môi trường chuồng nuôi hợp vệ sinh và tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp vệ sinh phòng bệnh. Để phòng trừ dịch bệnh cho đàn thỏ, tiến hành tiêm phòng một số bệnh cho thỏ như: bệnh viêm mũi, bệnh ghẻ, bệnh cầu trùng, bệnh bại huyết, đau bụng, ỉa chảy…

Một số giống thỏ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau quá trình thuần hoá lâu dài, trên thế giới có khoảng trên 80 giống thỏ. Dựa vào tầm vóc cơ thể, người ta chia thỏ thành ba nhóm giống[10]:

  • Nhóm giống thỏ tầm đại hay còn gọi là thỏ gộc: thỏ Flandrơ (Pháp), thỏ đại bạch Hung, thỏ khoang Đức, thỏ xanh Nga. Các giống này to con, trường mình, nặng 6–9 kg, đẻ ít, nuôi con vụng, ăn nhiều, thịt không ngon.
  • Nhóm giống thỏ tầm trung: thỏ Csincsilla, thỏ New zealand, thỏ Mỹ.. Các giống này có năng suất cao nhất cả về sinh sản và cho thịt, rất phù hợp với hướng nuôI lấy thịt. Hiện nay 70-80% tổng đàn thỏ trên thế giới là nhóm giống này.
  • Nhóm giống thỏ tầm tiểu: Thỏ nội, thỏ nhỏ con, nhẹ cân (2–3 kg), ăn ít nhưng đẻ nhiều, khéo nuôi con.

Căn cứ theo mục đích sử dụng thì có thể chia thỏ thành 3 nhóm giống như sau:

  • Thỏ lấy thịt: loại thỏ này lông ngắn, cứng, chóng lớn, nặng cân.
  • Thỏ lấy lông: thỏ Angora, nhẹ cân (2,5-3,5 kg), lông mềm, dài, mọc liên tục, mỗi năm cắt 4-5 lần.
  • Thỏ làm cảnh: thỏ ánh bạc, thỏ lưu ly, thỏ sư tử... thỏ có hình thù và màu sắc lông đặc biệt.

Một số giống thỏ thông dụng:

  • Thỏ New Zealand trắng: có lông trắng bông dày, mắt đỏ hồng. Trọng lượng con trưởng thành khoảng 4,5–5 kg/con, động dục lúc 4-4,5 tháng tuổi, phối giống lần đầu khoảng 5-6 tháng tuổi. Trung bình mỗi năm thỏ New Zealand đẻ 6-7 lứa, mỗi lứa 7-8 con. Trọng lượng thỏ sơ sinh 55-60g/con, trọng lượng cai sữa khoảng 1 tháng tuổi là 650-700g/con, lúc 3 tháng tuổi đạt 2,8–3 kg/con.
  • Thỏ Mỹ: Có nguồn gốc từ Mỹ, được lai tạo giữa 3 giống: thỏ Chinchila, thỏ Nga, thỏ New Zealand. Là giống thỏ tầm trung, trọng lượng trung bình 4,5 – 5 kg, thân ngắn hơn thỏ New Zealand, lông trắng nhưng tai, mũi, bốn chân và đuôi có điểm lông màu đen. Giống thỏ này được nuôi nhiều ở Việt Nam.
  • Thỏ Panon: Giống thỏ này xuất phát từ dòng của giống New Zealand trắng nhưng tăng trọng cao hơn, khi trưởng thành đạt 5,5 - 6,2 kg/con. Giống thỏ này đã được nuôi thành công ở nhiều vùng
  • Thỏ ta hay thỏ Việt Nam, thỏ mắt ngọc là Giống thỏ Việt Nam hiện nay lai tạp nhiều nên màu lông không thuần nhất. Trọng lượng con trưởng thành là 2–3 kg/con. Trọng lượng thỏ sơ sinh là 35-50g/con. Giống thỏ nội bao gồm thỏ đen, thỏ xám và thỏ dé. Đặc tính nổi trội của loại thỏ này là chịu đựng kham khổ tốt. Tuy nhiên, trọng lượng con trưởng thành chỉ đạt từ 2,5 - 3,3 kg, thỏ thịt xuất chuồng nặng 1,5 - 2,0 kg, mỗi năm đẻ 5 - 6 lứa, mỗi lứa 5 - 6 con[11].

Chăn nuôi[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Nuôi thỏ
Một con thỏ làm vật cưng

Việc chọn chuồng cho thỏ cũng rất quan trọng. Cần phải chú ý thông hơi cho chuồng thỏ. Những cái lồng sắt thì thích hợp hơn cho việc thông hơi và giữ vệ sinh chuồng. Tuy nhiên chuồng sắt cũng dễ làm tổn thương đến thú nuôi nếu chân của chúng bị lưới sắt cắt hoặc đạp vào đinh ở các mắt lưới. Do đó, sàn chuồng nên có 1 phần được làm đặt để chân thỏ có thể nghỉ ngơi. Chuồng sắt dễ làm vệ sinh hơn chuồng gỗ. Tuy nhiên, cũng nên đặt giấy hoặc khăn lau trên nền chuồng để tránh việc chân thỏ bị tổn thương bởi dây sắt.

Chuồng trại nuôi thỏ có thể tận dụng các vật liệu đơn giản như: gỗ, tre, nứa, hoặc sắt, thép để làm. Ngoài ra chuồng nuôi cần được xây dựng ở nơi yên tĩnh, xa khu dân cư, tránh cho thỏ tiếp xúc với các loài động vật khác, đặc biệt là chuột. Kích thước chuồng: 100 cm, rộng 60 cm, cao 40 cm, có cửa để thuận tiện cho việc bắt, thả thỏ. Trong yếu tố chuồng nuôi cần lưu ý công tác chuẩn bị máng ăn, máng uống, ổ đẻ cho thỏ mẹ. Ổ đẻ có kích thước chiều dài 25 cm, chiều rộng 30 cm, cao 25 cm[3].

Trừ khi được nuôi để sinh sản, những con thỏ cái nên được cắt bỏ buồng trứng để tránh ung thư. Ngoài ra, cũng có những lợi ích đối với những con thỏ đực thiến. Nếu không, chúng vẫn đánh dấu lãnh thổ của mình bằng nước tiểu. Thỏ khá hiếu chiến trừ khi chúng bị nhốt lại. Việc cắt bỏ buồng trứng hoặc hoạn có thể giảm bớt tính hiếu chiến của chúng. Không nên nhốt 2 con thỏ ở chung chuồng với nhau trừ khi có ý định phối giống. Một con thỏ bình thường cũng có thể trở nên hung dữ nếu nhốt nó chung chuồng với một con thỏ khác. Điều này là bình thường nhưng cũng không xảy ra phổ biến lắm. Nhiều con thỏ không quan tâm hay chú ý đến việc có một con thỏ khác sống chung.

Giống như mèo, thỏ không thể thiếu móng. Thiếu lớp đệm ở lòng bàn chân nên thỏ cần có móng để giữ thăng bằng; tháo bỏ móng của thỏ sẽ làm cho chúng không thể đứng, bị khuyết tật vĩnh viễn. Nếu được chăm sóc tốt, thỏ sẽ trở nên thân thiện và vui vẻ. Thỏ được nuôi làm thú cưng trong nhà lẫn ngoài vườn trên toàn thế giới. Sống trong nhà thỏ sẽ được an toàn hơn (nếu không kể đến những dây cáp và dây điện), tránh khỏi những con thú ăn thịt, ký sinh gây bệnh và sự thay đổi nhiệt độ đột ngột. Thỏ nuôi ở ngoài phải có hang được trang bị và sưởi ấm vào mùa đông, che mát vào mùa hè. Những con thỏ nhà thì thích hợp với nhiệt độ trong khoảng 10-21 độ C (50-70 độ F) và không thể chịu đựng lâu được ở 32 độ C (khoảng 90 độ F) nếu không có bóng râm, quạt hay nước lạnh.

Cho thỏ uống nước sạch đầy đủ và cho ăn nhiều cỏ khô hàng ngày. Những loại rau cỏ màu xanh lục đậm và nhiều lá như rau diếp, cải, cây mù tạt, bắp cải xanh, cây cải xoăn, rau mùi tây, cây bồ công anh và cây húng quế... rất tốt cho thỏ. Cà rốt và trái cây thì nên cho ít hơn (khoảng 1 muỗng canh ứng với 1 pound cân nặng của thỏ, đều đặn 2 ngày/lần) vì loại thực phẩm này rất nhiều đường. Những loại rau củ nhiều bột như khoai tây cũng nên tránh. Khi cho thỏ ăn, nên bắt đầu với một loại rau nhất định, sau đó mới tăng thêm nhiều loại khác, cho đến khi thỏ đã quen với 3 loại rau trở lên, việc cho nó ăn nhiều loại hơn nữa sẽ khiến nó thích thú.

Một bầy thỏ nhà

Khi bắt đầu cho thỏ ăn rau cỏ, nên cho chúng ăn kém với cỏ đuôi mèo hay yến mạch hàng ngày. Khi lựa chọn những thức ăn bán sẵn, nên chọn những món không có hạt vì hạt chứa nhiều chất béo hơn so với chất béo mà thỏ có thể dễ dàng chuyển hóa, gây ra những vấn đề về sức khỏe như gan nhiễm mỡ. Hạt thường được dùng làm thức ăn cho loài gặm nhấm, vì thỏ không thuộc loài gặm nhắm nên lại thức ăn này cần phải tránh.

Thức ăn dạng viên có thể cho ăn mỗi ngày với lượng khoảng 1 ounce (28,35g) ứng với 1 pound (khoảng 450g) cân nặng của thỏ. Tuy nhiên, thức ăn dạng viên chỉ nên được cung cấp như 1 loại thực phẩm phụ vì thức ăn dạng viên có thể gây cho thỏ bệnh về răng. Việc nhai cỏ hàng ngày sẽ mài mòn răng cửa của thỏ (răng cửa thỏ mọc dài liên tục như bộ gặm nhắm). Thức ăn dạng viên chỉ nên dùng cho thỏ nuôi lấy thịt vì nó giúp tăng trọng đáng kể. Khi thỏ ăn thức ăn viên, nó không cần choăn thêm muối thì thức ăn viên có hàm lượng muối khá cao; nhưng nói chung, hàm lượng muối không ảnh hưởng gì đến sức khỏe của thỏ.

Thỏ là loài gia súc yếu, sức đề kháng cơ thể kém, dễ cảm nhiễm các mầm bệnh và phát triển thành dịch. Khi mắc bệnh thỏ rất dễ chết, thậm chí là chết hàng loạt. Những con thỏ nhà cần được khám hàng ngày để tránh những bệnh truyền nhiễm và những bệnh phát triển nhanh. Mắt thỏ phải được giữ sạch, tai và mọi bộ phận khác cũng vậy. Răng không được để quá dài nếu không sẽ rất khó ăn. Tuy nhiên, không được tự ý mài hay dũa răng của thỏ, tốt nhất là nên tìm lời khuyên ở bác sĩ thú y. Nếu thật sự được cắt bớt răng cho thỏ thì không nên lo ngại, đó sẽ là một phương pháp tự nhiên vì sau lần đầu tiên mài bớt răng thỏ, người ta sẽ làm việc đó đều đặn hơn. 1 cái răng thỏ có thể dài ra 5 inch(khoảng 2,54 cm)/năm nếu chúng không bị mài mòn để bảo vệ cho sức khỏe của thỏ. Cắt bớt răng thỏ là phương pháp cuối cùng có thể sử dụng. Để đảm bảo độ dài răng thỏ, ta có thể cho chúng nhai cỏ yến mạch hoặc đồ chơi gỗ. Râu thỏ là 1 cơ quan cảm giác không nên cắt bỏ.

Việc ôm hay bắt thỏ phải được các chuyên gia hay những người nuôi thỏ hướng dẫn. Không bao giờ được nhấc thỏ lên bằng cách nắm tai. Khi giữ thỏ, phải chắc chắn rằng 4 chân nó cũng đã được giữ lại để tránh bị đá. Nếu thỏ cố đá quá mạnh sẽ gãy lưng nó. Một lời khuyên hữu ích là nên bắt thỏ bằng cách hớt nhẹ nó, để đầu nó vào khuỷu tay. Nên chú ý rằng việc bịt mắt thỏ cũng làm cho nó yên lòng hơn vì không thấy gì sẽ khiến thỏ an tâm và thấy an toàn.

Trên thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Ở nước Mỹ, hiệp hội chăn nuôi thỏ (ARBA) là một nguồn cung cấp vật nuôi kiểng và giống thương mại có giá trị. ARBA xác nhận có 47 giống thỏ nhà khác nhau, Trianta và Mini Satin là 2 giống được thừa nhận gần nhất vào năm 2006. Ở Vương quốc Anh, Hội đồng thỏ Anh cũng cung cấp những thông tin có giá trị. Những giống thỏ nổi tiếng là thỏ Mỹ.

Slaughtered rabbit 1.jpg

Thỏ là vật nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhiều hộ trong tỉnh Bắc Giang với khoảng 260 hộ nuôi thỏ với tổng đàn hơn 19 nghìn con, tập trung ở các huyện Lục Ngạn, Hiệp Hoà, Tân Yên, Sơn Động và Việt Yên[4]. Trước đó, năm 2000 thì thỏ nuôi lớn không biết bán cho ai ngoài việc thịt làm thức ăn trong gia đình. Nhiều người nuôi thỏ đã chán nản, chuyển sang các vật nuôi khác, năm 2011 thì thỏ giống, thỏ thịt đều bán được giá[7]. Việc tiêu thụ thịt thỏ thuận lợi. Các món ăn từ thỏ đã xuất hiện ở những nhà hàng, khách sạn lớn, tại các bữa cỗ giỗ- tết của nhiều gia đình khá giả. Từ năm 2011, thịt thỏ cũng bắt đầu xâm nhập vào các trung tâm siêu thị lớn[7].

Tại Trung Quốc, có nhiều các cơ sở sản xuất các sản phẩm từ thỏ, đặc biệt là có nhiều xưởng nuôi thỏ lấy lông. Trung Quốc là đất nước xuất khẩu 90% lông thỏ trên thế giới. Thông thường, thỏ có thể thu hoạch lông ở giai đoạn từ 2-5 tuổi. Cứ 2-3 tháng trong giai đoạn này, chúng lại bị vặt lông một lần. Sau đã được vặt lông, những con thỏ lại được ném vào lồng trong cô độc để phục hồi cho đến lần lấy lông tiếp theo. Đối với những con thỏ sống quá thời kỳ cho những bộ lông đẹp nhất, chúng sẽ được làm thịt và lột da. Việc lấy lông được thực hiện theo hình thức thủ công, những con thỏ còn sống được buộc chân trước và chân sau trên một bàn gỗ dài, bị kéo dài người ra trong khi những người công nhân nhổ từng nhúm lông trên cơ thể nó bằng tay đến tóe máu mặc cho những tiếng kêu la trong đau đớn của nó[12].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG QUỐC GIA”. Truy cập 2 tháng 6 năm 2014. 
  2. ^ “Thỏ 'khủng'”. Thanh Niên Online. Truy cập 2 tháng 6 năm 2014. 
  3. ^ a ă â b “Kỹ thuật nhà nông: Nuôi thỏ New Zealand cho thu nhập cao”. Truy cập 2 tháng 6 năm 2014. 
  4. ^ a ă “Báo Bắc Giang điện tử”. Truy cập 2 tháng 6 năm 2014. 
  5. ^ “Website tam nông”. Truy cập 2 tháng 6 năm 2014. 
  6. ^ “Anh Tiến quyết tâm làm giàu từ nuôi thỏ”. Truy cập 2 tháng 6 năm 2014. 
  7. ^ a ă â “Người nuôi thỏ đã hết phận long đong”. Truy cập 2 tháng 6 năm 2014. 
  8. ^ http://vtc16.vn/news/31/5671/Mo-hinh-nuoi-tho-Buoc-dau-giup-dan-thoat-ngheo[liên kết hỏng][liên kết hỏng]
  9. ^ “Nuôi thỏ thu 600 triệu đồng/năm”. Báo Nông nghiệp Việt Nam. Truy cập 2 tháng 6 năm 2014. 
  10. ^ “máy cắt cỏ”. 
  11. ^ “Bao Yen Bai”. Truy cập 2 tháng 6 năm 2014. 
  12. ^ “Man rợ trong xưởng lấy lông thú ở Trung Quốc”. Báo Đất Việt. Truy cập 2 tháng 6 năm 2014.