Trung Cổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Thời kỳ Trung Cổ)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thánh Giá Mathilde, chiếc thánh giá nạm ngọc của Mathilde, Tu viện trưởng Essen (973-1011), bộc lộ nhiều đặc trưng trong nghệ thuật tạo hình Trung Cổ

Thời kỳ Trung Cổ (hay châu Âu Trung đại) là giai đoạn trong lịch sử châu Âu bắt đầu từ sự sụp đổ của Đế quốc Tây La Mãthế kỷ 5, kéo dài tới thế kỉ 15, hòa vào thời Phục hưngThời đại khám phá. Thời Trung Cổ là thời đại giữa trong ba thời đại lịch sử theo cách phân kì truyền thống của lịch sử phương Tây: Cổ Đại, Trung Cổ (Trung đại) và Hiện đại. Thời kì Trung Cổ tự nó chia làm ba giai đoạn, Sơ kỳ Trung Cổ, Trung kỳ Trung CổHậu kỳ Trung Cổ.

Suy giảm dân số, sự đảo ngược đô thị hóa, xâm lược, và di dân, bắt đầu từ Hậu kỳ Cổ đại, tiếp diễn trong thời Sơ kỳ Trung Cổ. Những kẻ xâm lược man dân, bao gồm các dân tộc German, lập nên những những vương quốc mới trên tàn tích của Đế quốc Tây La Mã. Trong thế kỉ 7, Bắc PhiTrung Đông, từng là một phần của đế quốc Đông La Mã đặt vào sự thống trị của Khalifah, sau các cuộc chinh phục của Hồi giáo.Mătcj dù có những thay đổi quan trọng trong xã hội và cấu trúc chính trị, sự cắt đứt với thời Cổ đại không trọn vẹn. Đế quốc Byzantine rộng lớn vẫn tồn tại ở phương Đông và giữ vai trò một cường quốc quan trọng. Bộ luật của đế chế, tức Bộ luật Justinian, được khám phá lại ở Bắc Italia năm 1070 và nhận được sự khâm phục rộng rãi suốt sau đó trong thời Trung Cổ. Ở phương Tây, hầu hết các vương quốc đều tiếp thu những thể chế La Mã còn sót lại. Các tu viện được thành lập như những chiến dịch nhằm Ki tô hóa phần châu Âu theo đa thần vẫn tiếp tục. Người Frank, dưới triều đại Karolinger, đã thiết lập nên một đế chế ngắn ngủi bao phủ phần lớn Tây Âu; Đế quốc Carolingian trong cuối thế kỷ 8-đầu thế kỷ 9, trước khi tàn lụi dưới áp lực của những cuộc nội chiến kết hợp với những đợt xâm lăng-người Viking từ phía bắc, người Magyar từ phía đông và người Saracen từ phía nam.

Trong thời Trung kỳ Trung Cổ, bắt đầu từ thế kỉ 11, dân số châu Âu tăng nhanh khi các tiến bộ về kĩ thuật và canh nông cho phép thương mại nở rộ và chuyển đổi sang khí hậu ấm áp giúp gia tăng sản lượng mùa màng. Chế độ trang viên, hay cách tổ chức nông dân thành những làng thuê đất và chịu nghĩa vụ lao dịch với quý tộc, và, chế độ phong kiến, tức cấu trúc chính trị trong đó các hiệp sĩ và quý tộc cấp thấp chịu nghĩa vụ quân sự với chúa tể của họ để đổi lại quyền cho thuế đất đai và trang viên, là hai cách thức căn bản tổ chức nên xã hội thời Trung kỳ Trung Cổ. Những cuộc thập tự chinh, bắt đầu được kêu gọi từ năm 1095, là những nỗ lực quân sự của những người Ki-tô Tây Âu nhằm giành lại quyền kiểm soát Đất Thánh ở Trung Đông từ những người Hồi giáo. Các vị vua trở thành những người đứng đầu những nhà nước trung ương tập quyền, giảm bớt tội ác và bạo lực nhưng cũng làm cho lý tưởng về một thế giới Ki-tô thống nhất trở nên xa vời hơn. Đời sống trí thực ghi nhận sự thống trị của chủ nghĩa kinh viện, một triết học nhấn mạnh sự gắn kết đức tin vào lí trí, và sự thành lập những trường đại học. Triết học Thomas Aquinas, họa phẩm Giotto, thi ca DanteChaucer, những chuyến du hành của Marco Polo, và kiến trúc các nhà thờ Gothic như Chartres là một số thành tựu tiêu biểu của thời kì này.

Thời Hậu kỳ Trung Cổ đánh dấu những khó khăn và tai họa bao gồm nạn đói, dịch hạch, và chiến tranh, làm giảm nhiều dân số Tây Âu; chỉ riêng những năm 1347-1350, Cái chết Đen đã hủy diệt một phần ba dân số châu Âu. Tranh cãi, dị giáoly giáo bên trong Giáo hội song hành với chiến tranh giữa các nhà nước, nội chiến, khởi nghĩa nông dân nổ ra trong khắp các vương quốc. Trong khi đó, những phát triển và văn hóa biến đổi xã hội châu Âu, kết thúc hậu kỳ Trung Cổ và bắt đầu thời kỳ cận đại.

Từ nguyên và phân kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Cổ (hay Trung Đại) là một trong ba thời đại chính trong sơ đồ phân kỳ lâu đời về lịch sử châu Âu: văn minh cổ điển hay thời Cổ Đại, Trung Đại, và thời Hiện Đại.[1]

Các nhà văn thời trung đại chia lịch sử làm các thời kì khác nhau như "Sáu thời đại" hay "Bốn đế chế" và xem thời họ sống là giai đoạn cuối cùng trước buổi suy vong của thế giới.[2] Khi nhắc đến thời đại của chính mình, họ thường tự gọi là "hiện đại".[3] Trong những năm 1330, nhà nhân văn, thi hào Petrarca gọi thời kì tiền Ki-tô giáo là antiqua ("cổ đại:) và thời kì Ki-tô giáo là nova ("mới").[4] Leonardo Bruni là nhà sử học đầu tiên đề xuất cách phân loại ba thời kỳ trong cuốn Lịch sử dân tộc Florentine (1442).[5] Bruni và các sử gia sau ông lập luận rằng Italy đã khôi phục kể từ thời Petrarca, và do đó thêm một thời kì thứ ba vào sau hai thời kỳ của Petrarca. Thuật ngữ "Trung Đại" xuất hiện lần đầu trong tiếng Latinmedia tempetas (dịch nghĩa đen là "mùa trung gian").[6] Ban đầu, có nhiều cách dùng khác nhau, bao gồm medium aevum, tức "thời đại trung gian" (trung đại) xuất hiện năm 1625.[7], là nguồn gốc của từ medievale trong tiếng Ý hay medieval trong tiếng Anh ngày nay.[8] Cách phân kỳ ba giai đoạn trở thành tiêu chuẩn sau khi nhà sử học người Đức Christoph Cellarius (1638-1707) chia lịch sử làm ba giai đoạn: Cổ Đại, Trung Đại và Hiện Đại.[7] Sử học Việt Nam cũng sử dụng cách phân kỳ trên, và sử dụng các thuật ngữ "Trung Cổ", "Trung Đại" hoặc "Trung thế kỷ" để chỉ giai đoạn thứ hai.

Mốc lịch sử được cho là đánh dấu khởi đầu thời Trung Đại phổ biến nhất là năm 476,[9] do Bruni sử dụng đầu tiên.[5][upper-alpha 1] Xét cả châu Âu như một toàn thể, năm 1500 thường được xem là kết thúc thời Trung Đại,[11] nhưng không có sự thống nhất rộng rãi nào về thời điểm kết thúc này. Tùy thuộc vào hoàn cảnh, các sự kiện như chuyến hành trình đầu tiên của Christopher Columbus tới châu Mỹ năm 1492, thành Constantinopolis thất thủ vào tay người Thổ năm 1453, hoặc Cải cách Kháng Cách năm 1517 đôi khi cũng được sử dụng.[12] Các nhà sử học Anh thường dùng trận Bosworth trong Chiến tranh Hoa Hồng năm 1485.[13] Đối với Tây Ban Nha, các thời điểm thường dùng là caí chết của Ferdinand II năm 1516, cái chết của Nữ hoàng Isabella I của Castilla năm 1504, hoặc Chiến tranh Granada kết thúc Reconquista năm 1492.[14] Các nhà sử học từ các quốc gia nói tiếng Rôman có khuynh hướng chia Trung Đại làm hai phần: "Thượng phần" và "Hạ phần" (chẳng hạn tiếng Pháp: haut Moyen Âge và bas Moyen Âge). Các nước nói tiếng Anh hoặc nói tiếng Đức, thường chia Trung Đại làm ba giai đoạn: "Sơ kỳ", "Trung kỳ" và "Hậu kỳ" (tiếng Anh: Early, High và Late Middle Age).[1] Trong thế kỉ 19, toàn bộ thời Trung Đại thường được gọi bằng tên "Kỷ nguyên Đen tối" (tiếng Anh: Dark Ages),[15][upper-alpha 2]nhưng với sự tiếp nhận của việc chia làm ba giai đoạn, việc dùng thuật ngữ Kỷ nguyên bóng tối hạn chế lại chỉ để nhắc đến thời Sơ kỳ Trung Đại, ít nhất là trong số các sử gia.[2][upper-alpha 3]

Ðế quốc La Mã suy tàn[sửa | sửa mã nguồn]

Một bức tượng cuối thời La Mã minh họa Tứ đầu chếm, hiện đặt ở Venezia[16]

Đế quốc La Mã đạt đến cực điểm về quy mô lãnh thổ trong thế kỉ thứ 2; hai thế kỉ sau đó chứng kiến sự suy giảm từ từ năng lực kiểm soát của La Mã đối với các vùng thuộc địa xa xôi.[17] Các vấn đề kinh tế, nhất là lạm phát, và các áp lực bên ngoài từ các miền biên giới kết hợp khiến cho thế kỉ thứ 3 đầy bất ổn chính trị, với các hoàng đế ngồi lên ngai vàng chỉ để bị thay thế nhanh chóng bởi những kẻ thoán ngôi mới.[18] Phí tổn quân sự tăng không ngừng trong thế kỉ thứ 3, chủ yếu dành cho cuộc chiến với đế quốc Sassanid mới phục hưng ở Ba Tư.[19] Quân đội tăng gấp đôi quân số, và kỵ binh cùng các đơn vị nhỏ hơn thay thế legion làm các đơn vị chiến thuật chính.[20] Nhu cầu thu ngân sách dẫn đến việc tăng thuế và suy giảm tầng lớp địa chủ, những người ít bằng lòng hơn đảm trách các cơ quan hành chính địa phương.[19] Cần thêm nhiều viên chức ở chính quyền trung ương để giải quyết nhu cầu của quân đội, dẫn đến sự phàn nàn từ công dân rằng trong đế quốc có nhiều kẻ thu thuế hơn là người đóng thuế.[20]

Hoàng đế Diocletian (cai trị 284-305) quyết định chia đế chế thành hai thể chế hành chính miền đôngmiền tây năm 286; tuy nhiên La Mã không được xem là bị chia cắt bởi dân cư hay hay những nhà cai trị của nó, bởi những luật pháp và sắc lệnh ban hành ở một miền này cũng có hiệu lực ở miền kia.[21][upper-alpha 4] Năm 330, sau một giai đoạn nội chiến, Constantinus Đại đế (cai trị 306-337) tái lập thành phố Byzantium thành kinh đô phương đông, đổi tên thành Constantinopolis (hay Constantinople).[22] Những cuộc cải cách của Diolectian đã củng cố bộ máy quan liêu chính phủ, đổi mới chính sách thuế, và tăng cường quân đội, cho đế chế thêm thời gian nhưng không tận gốc giải quyết những vấn đề nó đang đối mặt: thuế khóa quá mức, tỉ lệ sinh trong dân số giảm dần, sức ép từ các biên giới, và những vấn đề khác.[23] Nội chiến giữa các hoàng đế đối địch trở nên phổ biến từ giữa thế kỉ 4, khiến cho quân lính xao lãng biên giới và cho phép các man tộc xâm lấn.[24] Trong phần lớn thế kỉ 3, xã hội La Mã ổn định trong một hình thức mới khác với thời kì cổ điển (La Mã trước thời quân chủ), với một khoảng cách giàu nghèo rộng thêm, và một sự suy yếu trong sức sống của các thị trấn tỉnh lẻ.[25] Một sự thay đổi khác là "Kitô hóa", hay sự cải đạo diễn ra trên toàn đế chế sang Kitô giáo, một quá trình từ từ xảy ra từ thế kỉ 2 tới thế kỉ 5.[26][27]

Bản đồ phác lược biên giới chính trị ở châu Âu khoảng năm 450

Năm 376, người Ostrogoth, trốn chạy khỏi người Hung, được hoàng đế Valens (cai trị 364-378) cho phép định cư tại tỉnh ThraciaBalkan. Sự định cư này không diễn ra không êm ả, và khi những viên chức không giải quyết tốt tình huống, người Ostrogoth bắt đầu cướp bóc và tàn phá[upper-alpha 5] Valens, người tìm cách dẹp tắt sự hỗn loạn, đã bị giết trong khi đánh nhau với người Ostrogoth tại trận Hadrianopolis ngày 9 tháng 8 năm 378.[29]. Không kém gì những liên minh bộ tộc như vậy từ phương bắc, các chia rẽ nội bộ trong lòng đế chế, đặc biệt là bên trong giáo hội Kitô, cũng gây nên nhiều vấn đề.[30] Năm 400, người Visigoth xâm lược đế quốc Tây La Mã, và tuy bị đẩy lùi khỏi Ý trong một thời gian ngắn, năm 410 dưới sự lãnh đạo của Alaric I họ đã cướp thành La Mã[upper-alpha 6] Năm 406 người Halani, người Vandalngười Suevi băng qua xứ Gallia; trong ba năm sau đó họ đã lan khắp xứ này và từ 409 tràn qua Pyrénées vào miền Iberia.[32] Cái gọi là "Giai đoạn Di cư" bắt đầu, khi nhiều dân tộc khác nhau, ban đầu chủ yếu là các dân tộc German di chuyển khắp châu Âu. Người Frank, người Alemanni, người Burgundy đều dừng chân ở bắc Gallia trong khi người Angles, người Sachsen, người Juti định cư tại quần đảo Anh.[33] Vào những năm 430 người Hung bắt đầu xâm lược đế chế; vua của họ Attila (cai trị 434-453) lãnh đạo các cuộc xâm lược Balkan năm 442 và 447, Gallia năm 451, và Ý năm 452.[34]. Chỉ đến khi Attila chết vào năm 453, liên minh Hung tan rã thì người Hung mới thôi là mối đe dạo cho đế chế.[35] Những cuộc xâm lược từ các bộ lạc này đã thay đổi hoàn toàn bản chất chính trị và dân cư của thứ từng là Đế quốc Tây La Mã.[33]

Đến nửa cuối thế kỷ thứ 5 miền tây của đế chế bị chia ra thành các đơn vị chính trị khác nhau, cai trị bởi các bộ lạc đã xâm lược chúng trong nửa đầu thế kỷ.[36] Việc hoàng đế cuối cùng của phương tây, Romulus Augustus, bị phế truất năm 476 thường được xem là đánh dấu sự chấm dứt của đế quốc Tây La Mã.[10][upper-alpha 7] Đế quốc Đông La Mã, kể từ sau đó thường được gọi là Đế quốc Byzantine, không có mấy khả năng để khẳng định quyền cai trị trên những phần lãnh thổ phía tây bị mất. Các hoàng đế Byzantine vẫn giữ tuyên bố chúng thuộc về chủ quyền của mình, tuy nhiên dù không một vị vua nào ở phương Tây dám tuyên bố nâng mình lên làm hoàng đế ở phương Tây, Byzantine cũng không có cách nào xác lập lại sự thống trị; cuộc tái chinh phục bán đảo Ý và miền phụ cận Địa Trung Hải của Justinianus I (cai trị 527-565) là một ngoại lệ ngắn ngủi duy nhất.[37]

Sơ kỳ Trung Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Các xã hội mới[sửa | sửa mã nguồn]

Cấu trúc chính tị của Tây Âu thay đổi với sự kết thúc đế quốc La Mã thống nhất một thời. Mặc dù sự di cư các dân tộc thường được mô tả là những cuộc "xâm lược", chúng không chỉ là những cuộc viễn chinh quân sự mà cũng là những đợt di cư toàn bộ các bộ tộc vào đế quốc. Những đợt di dân như vậy xảy ra thuận lời nhờ giới thượng lưu Tây La mã không chịu hỗ trợ quân đội hoặc đóng các loại thuế để quân đội có thể kìm giữ man dân di cư.[38] Những hoàng đế ở thế kỉ 5 thường chịu sự điều khiển của những vị tướng quyền lực nắm quân đội như Stilicho (chết năm 408), Aspar (chết năm 471), Ricimer (chết năm 472) hay Gundobad (chết năm 516, những người một phần hoặc hoàn toàn không có gốc gác La Mã. Khi dòng tộc hoàng đế đứt đoạn, nhiều vị vua thay thế họ cũng dòng dõi ngoại dân. Hôn nhân giữa những vị vua này với giới thượng lư La Mã xảy ra phổ biến đương thời.[39] Điều này dẫn tới một sự dung hợp văn hóa La Mã với các tập quán của những bộ tộc xâm lược, bao gồm những nghị hội cho phép những đàn ông tự do của bộ tộc nhiều tiếng nói trong các vấn đề chính trị hơn trong nhà nước La Mã.[40] Những vật tạo tác còn lưu lại đến nay của người La Mã và man dân thường tương tự nhau, và thường là man dân bắt chước La Mã.[41] Phần nhiều văn hóa văn tự và hàn lâm của những vương quốc mới cũng dựa trên các truyền thống trí thức La Mã.[42] Một khác biệt quan trọng là sự giảm hụt trong ngân sách thuế do những chính thể mới. Nhiều thực thể chính trị mới không còn chu cấp cho quân đội thông qua thuế, mà dựa vào việc ban cho tướng lĩnh đất đai hoặc cho thuê. Điều này giảm bớt nhu cầu ngân sách thuế lớn và hệ thống đánh thuế La Mã tan rã.[43] Chiến tranh thường xuyên xảy ra giữa các vương quốc và cả trong nội bộ vương quốc. Chế độ nô lệ suy giảm khi nguồn cung suy yếu, các đô thị suy sút và nhìn chung xã hội trở nên nông thôn hóa.[44][upper-alpha 8]

Đồng tiền đúc hình Theodoric Đại đế

Giữa thế kỉ 5 và thế kỉ, những dân tộc mới và những cá nhân hùng mạnh lập vào chỗ khuyết chính trị để lại bởi chính phủ trung ương tập quyền La Mã.[42] Người Ostrogoth định cư ở Italia vào cuối thế kỉ 5 dưới thời Theodoric Đại đế (mất năm |526) và thành lập một [[Vương quốc Ostrogoth]vương quốc]] đánh dấu sự hợp tác giữa người Ý và người Ostrogoth, ít nhất là cho đến những cuối triều đại của Theodoric.[46] Người Burgundy định cư tại Gallia, và sau khi một triều đại trước đó bị người Hung hủy diệt năm, họ thành lập một vuông quốc vào những năm 440. Giữa miền GenevaLyon ngày nay, nó trở thành một triều đại hùng mạnh của Burgundy trong cuối thế kỉ 5 và đầu thế kỉ 6.[47] Ở miền bắc Gallia, người Frank và người Briton xây dựng những thể chế nhỏ. Vương quốc của người Frank có trung tâm năm ở miền đông nam Gallia, và vị vua mà ta có được nhiều thông tin là Childeric (mất năm 481).[upper-alpha 9] Dưới triều đại con trai của Childeric là Clovis (cai trị 509-511), vương quốc Frank mở rộng và cải sang Ki-tô giáo. Người Briton, gắn bó với dân bản địa của Britannia-tức Đại Anh (Great Britain) ngày nay-định cư ở nơi nay gọi là Brittany.[49] Những nền quân chủ khác được thiết lập bởi người Visigoth ở Tây Ban Nha, người Suevi ở tây bắc Tây Ban Nha, và người Vandal ở Bắc Phi.[47] Trong thế kỉ 6, người Lombard định cư ở bắc Italia, thay thế vương quốc Ostrogoth bằng một nhóm những công quốc thỉnh thoảng mới bầu ra một vị vua cai quản chung. Đến cuối thế kỉ 6 sự sắp đặt này mới chuyển thành một nền quân chủ truyền ngôi.[50]

Những cuộc xâm lăng mang những nhóm sắc tộc mới tới châu Âu, mặc dù không đồng đều vì một số khu vực nhận những dòng di cư nhiều hơn vùng khác. Chẳng hạn ở Gallia, những người xâm lược định cư chủ yếu ở miền đông bắc so với tây nam. Người Slav định cư ở Trung và Đông Âu và bán đảo Balkan. Sự định cư của các dân tốc kéo theo sự thay đổi trong ngôn ngữ. Tiếng Latin của Đế quốc Tây La Mã dần dần bị thay thế bởi những ngôn ngữ dựa trên Latin, nhưng có những đặc trưng riêng, được gọi là Nhóm ngôn ngữ Rôman. Những thay đổi từ Latin sang ngôn ngữ mới mất nhiều thế kỉ. Tiếng Hy Lạp vẫn duy trì là ngôn ngữ của Đế quốc Byzantine, nhưng sự di cư cua người Slav dẫn đến sự lan truyền nhóm ngôn ngữ Slav ở Đông Âu.[51]

Byzantine sống sót[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh khảm minh họa Justiniangiám mục của Ravenna, cận vệ, và quần thần[52]

Trong khi Tây Âu chứng kiến sự hình thành những vương quốc mới, Đế quốc Đông La Mã vẫn còn nguyên vẹn và trải qua một sự phục hồi kinh tế cho tới đầu thế kỉ 7. Ít có cuộc xâm lược động đến miền đông đế chế; hầu hết xảy ra ở vùng Balkan. Hòa bình vứi Ba Tư, kẻ thù truyền kiếp của Rome, kèo dài trong phần lớn thế kỉ 5. Đế quốc phương đông đặc trưng bởi những mối quan hệ gần gũi hơn giữa nhà nước chính trị và Giáo hội Ki-tô, và những vấn đề giáo lý có một vai trò quan trọng hơn trong chính trị phương đông so với Tây Âu. Sự phát triển của nền pháp lí bao gồm sự hoàn chỉnh Luật La Mã; nỗ lực đầu tiên-Bộ luật Theodosianus-hoàn tất năm 438.[53] Dưới triều đại hoàng đế Justinian (cai trị 527-565), một đợt biên soạn mới diễn ra-Bộ luật Justinian hay Corpus Juris Civilis (Bộ Luật Dân sự).[54] Justinian cũng giám sát việc xây dựng Đại giáo đường Hagia Sophia ở Constantinople và sự tái chinh phục Bắc Phi từ tay người Vandal và Ý từ người Ostrogoth[55] của đội quân La Mã do viên tướng tài Belisarius (chết năm 565) thống lĩnh.[56] Cuộc chinh phục Ý không hoàn thành, bởi một sự bùng phát dịch hạch năm 542 đầy chết chóc, buộc Justinian dành phần cuối cuộc đời tập trung vào các biện pháp phòng thủ thay vì mở rộng tái chiếm.[55] Khi vị hoàng đế băng hà, Byzantine đã lấy lại quyền kiểm soát phần lớn Ý, Bắc Phi, và có một chỗ đứng chân ở nam Tây Ban Nha. Nhiều nhà sử học chỉ trích tham vọng khôi phục Đế quốc La Mã thống nhất của Justinian là tốn kém, tạo ra một đế quốc quá lớn vượt tầm kiểm soát và tạo điều kiện cho người Hồi giáo xâm lược; tuy nhiên những vấn đề mà những người kế tục Justinian đối diện không chỉ bởi việc tăng thuế quá mức để bù đắp chiến phí mà còn là bản chất dân sự của đế chế, khiến cho việc tăng quân số hết sức khó khăn.[57]

Bên trong đế quốc sự xâm nhập từ từ vào vùng Balkan của người Slav tạo thêm một khó khăn nữa cho những người kế thừa Justinian. Nó bắt đầu một cách từ từ, nhưng tới cuối những năm 540 các bộ lạc Slav đã tràn khắp Thrace và Illyrium, và đánh bại một đạo quân đế chế gần Hadrianopolis năm 551. Trong những năm 560 người Avar bắt đầu mở rộng căn cứ của họ ở bờ bắc sông Danube, tới cuối thể kỉ 6 họ đã trở thành thế lực thống trị ở Trung Câu và thường xuyên có thể buộc các hoàng đế phương Đông nộp cống phẩm; thế lực của họ còn tồn tại tới năm 796.[58] Một vấn đề khác nảy sinh từ can dự của Hoàng đế Mauricius (cai trị 582-602) vào chính trị Ba Tư khi ông can thiệp để đưa Khosrau II lên ngôi ở Ctesiphon. Điều này giúp tạo nên một thời kỳ hòa bình giữa hai cường quốc, nhưng khi Mauricius bị lật đổ, người Ba Tư đã lấy cớ xâm lược Byzantine, chiếm đóng phần lớn đế chế, bao gồm Ai Cập, SyriaTiểu Á, trước khi Hoàng đế Heraclius phản công thắng lợi, khôi phục toàn bộ lãnh thổ bị mất và kí hòa ước năm 628.[59]

Xã hội phương Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Tây Âu, một số gia tộc thượng lưu La Mã diệt vong trong khi số còn lại tham gia vào Giáo hội nhiều hơn các sự vụ thế tục. Các giá trị gắn với nền học thức và giáo dục La Mã hầu như biến mất, và trong khi năng lực biết đọc biết viết vẫn là quan trọng, nó lui xuống thành một kĩ năng thực dụng hơn là một dấu hiệu về vị thế tinh hoa. Trong thế kỉ 4, Thánh Jerome (mất năm 420) thuật lại giấc mơ thấy Thượng Đế khiển trách ông vì đã dành nhiều thời gian đọc Cicero hơn là Kinh Thánh. Đến thế kỉ 6, Thánh Gregory của Tours (mất năm 594) cũng có một giấc mơ tương tự, nhưng ở đây là bị trừng trị vì học tốc ký.[60] Vào cuối thế kỉ 6, những phương tiện chính cho giảng truyền của Giáo hội đã chuyển sang âm nhạc và mỹ thuật thay vì sách.[61] Hầu hết các nỗ lục trí tuệ hướng vào việc bắt chước nền học vấn cổ điển, nhưng một vài tác phẩm độc đáo cũng được sáng tác, bên cạnh những bài hát truyền khẩu mà nay đã thất truyền. Các tác phẩm của Sidonius Apollinaris (mất. 489), Cassiodorus (mất khoảng 585), và Boethius (mất khoảng 525) là tiêu biểu cho thời kỳ này.[62]

Những thay đổi cũng diễn ra trong dân thường, khi mà văn hóa quý tộc tập trung vào những bữa yến tiệc lớn tổ chức ở các sảnh đường thay vì những mưu cầu văn học. Trang phục giới thượng lưu thường đính rất nhiều trang sức và vàng. Các vị vua và lãnh chúa xây dựng một giới thân cận quanh mình gồm những chiến binh tạo nên xương sống của quân đội[63] Trong giới tinh hoa các mối ràng buộc thân tộc đóng vai trò quan trọng, bên cạnh các phẩm hạnh như trung thành, dũng cảm, và danh dự. Những mối ràng buộc này dẫn đến sự thịnh hành của các mối hận thù truyền kiếp (bởi nghĩa vụ trả thù cho người thân) trong xã hội quý tộc, chẳng hạn như xứ Gallia thời Merovingian theo lời thuật của Gregory xứ Tours. Hầu hết các mối hận thù này kết thúc với những khoản bồi thường mạng người (tiếng Đức là wergeld).[64] Phụ nữ tham gia vào xã hội quý tộc chủ yếu trong vai trò là vợ và mẹ, nhất là vị trí mẹ của một nhà cầm quyền đặc biệt nổi bật ở Gallia Trong xã hội Anglo-Saxon ít khi có những ấu vương khiến cho vai trò thái hậu yếu ớt hơn, nhưng bù lại ở đây các nữ tu viên trưởng nắm quyền rộng rãi ở các tu viện. Chi ở Italia dường như phụ nữ được xem là luôn luôn dưới sự bảo vệ và kiểm soát của đàn ông.[65]

Tái dựng một ngôi làng Trung Cổ ở miền nông thôn Bavaria

Xã hội nông thôn ít được ghi chép lại hơn nhiều so với giới quý tộc. Hầu hết thông tin có được đến từ khảo cổ học; chỉ một vài ghi chép chi tiết về đời sống nông dân trước thế kỉ 9 còn sót lại. Hầu hết những mô tả này gián tiếp xuất hiện trong các đạo luật hoặc từ con mắt của những tác giả thuộc giới thượng lưu.[66] Những hình mẫu chiếm hữu đất ở phương Tây không đồng nhất; một vài khu vực có đất đai rất phân tán, nhưng ở những nơi khác những điền trang lớn lại phổ biến. Những sự khác biệt này cho phép một sự đa dạng những nếp sống khác nhau, một số do những quý tộc địa chủ thống trị trong khi một số cộng đồng có rất nhiều quyền tự trị.[67] Quy mô định cư cũng rất khác nhau: một số nông dân sống trong những làng lớn có tới 700 cư dân; số khác sống trong những trang trại cách biệt nhau; và cả những vùng hai hình thức trên trộn lẫn với nhau.[68] Không giống như thời Mạt kỳ La Mã, không có sự chia cách sắc nét nào giữa vị trí pháp lý của nông dân tự do và quý tộc, và một gia đình nông dân tự do có thể nâng mình lên qua vài thế hệ nhờ phục vụ trong quân đội để trở thành một lãnh chúa quyền lực.[69]

Đời sống và văn hóa thành thị thay đổi mạnh mẽ trong Sơ kỳ Trung Đại. Mặc dù các thành phố Ý vẫn có người cư trú, chúng co lại đáng kể về quy mô. Chẳng hạn La Mã, giảm từ dân số hàng trăm nghìn người xuống còn khoảng 30 nghìn vào cuối thế kỉ 6. Các đền thờ La Mã cải thành nhà thờ Công giáo và các tường thành vẫn được duy trì.[20] Ở Bắc Âu, các thành phố cũng thu hẹp, trong khi các công trình dân sự và các tòa nhà công cộng bị hủy hoại làm vật liệu xây dựng. Sự thành lập của những vương quốc mới cũng tạo ra sự phát triển có những thị trấn được trọn làm thủ đô.[70] Mặc dù từng có những cộng đồng người Do Thái trong nhiều thành phố La Mã, họ chịu đựng những thời kì ngược đãi sau khi đế quốc cải sang đạo Ki-tô. Chính thức mà nói họ được khoan dung, nhưng luôn chịu những áp lực cải đạo và có những thời kì bị xua đuổi tới những vùng khác.[71]

Sự trỗi dậy của Islam[sửa | sửa mã nguồn]

Đế chế Islam và sự bành trướng của nó. Màu tối nhất là cương vực mở rộng từ 622 tới 632, màu đậm vừa là vùng mở rộng từ 632 tới 661, và vùng sáng nhất là lãnh thổ chiếm được từ 661 tới 750.

Những tín ngưỡng tôn giáo trong đế quốc Byzantine và Ba Tư chuyển đổi mạnh mẽ cuối thế kỷ 6 và đầu thế kỷ 7. Đạo Do Thái là một đức tin cải đạo tích cực, và ít nhất một lãnh tụ chính trị Arab cải sang đạo này.[upper-alpha 10] Kitô giáo cũng cử những đoàn truyền giáo tích cực cạnh tranh với đạo Zoroastre, đặc biệt nhắm vào người dân ở Bán đảo Arabia. Những mối quan hệ phức tạp này hội tụ với sự trỗi dậy của đạo Islam (Hồi giáo) ở Arabia dưới thời Muhammad (mất năm 632).[73] Sau cái chết của ông, các đội quân Islam đã chinh phục phần lớn Byzantine và Ba Tư, bắt đầu với Syria năm 634-635, vươn tới Ai Cập năm 640-641, Ba Tư những năm 637-642, Bắc Phi cuối thế kỉ 7. Năm 711, Islam vươn tới bán đảo Iberia và tới 714 chiếm phần lớn nơi này, một vùng mà họ gọi là Al-Andalus.[74]

Các cuộc chinh phục của Hồi giáo đạt đến đỉnh điểm vào giữa thế kỉ 8. Sự thất bại của quân Hồi giáo trong Trận Tours năm 732 dẫn đến sự tái chiếm miền nam Pháp bởi người Frank, nhưng thực ra lý do chính của việc Hồi giáo ngừng tấn công châu Âu là cuộc đảo chính lật đổ Khalifah Omeyyad. Triều đại kế tục là Nhà Abbas dời đô tới Baghdad và từ đó bận tâm đến Trung Đông nhiều hơn châu Âu, để mất kiểm soát nhiều vùng đất Hồi giáo. Những con cháu dòng dõi Omeyyad chiếm đóng bán đảo Iberia, Nhà Aghlab kiểm soát Bắc Phi và Nhà Tulun cai trị ở Ai Cập.[75] Đến giữa thế kỉ 8, các tuyến đường giao thương mới nổi lên ở Địa Trung Hải; thương mại giữa người Frank và người Ả Rập thay thế cho các tuyến đường hàng hải của La Mã trước kia. Người Frank cung cấp gỗ, lông thú, gươm và cả nô lệ để đổi lại lụa và các loại sợi khác, gia vị, và các kim loại quý từ Ả Rập.[76]

Thương mại và tiền tệ[sửa | sửa mã nguồn]

Các cuộc di cư và xâm lược ở thế kỉ 4 và 5 đã làm đứt đoạn mạng lưới giao thương giữa các miền Địa Trung Hải. Các sản phẩm châu Phi ngừng xuất khẩu sang châu Âu, đầu tiên không còn thấy trong nội địa và tới thế kỉ 7 chỉ còn thấy ở vài thành phố như La Mã hay Naples và tới cuối thế kỉ 7 hoàn toàn không hiện diện dưới ảnh hưởng của cuộc chinh phục của Hồi giáo. Sự thay thế hàng hóa từ viễn dương bằng các sản phẩm địa phương là một xu hướng xảy ra ở các miền La Mã cũ trong suốt thời Sơ kỳ Trung Đại. Điều này đặc biệt rõ ràng ở những miền không nằm trên bờ Địa Trung Hải, như bắc Gallia hay đảo Anh. Các hàng hóa hiếm hoi không phải từ địa phương mà khảo cổ học ghi nhận thường là những mặt hàng xa xỉ. Ở miền bắc châu Âu, mạng lưới buôn bán không chỉ có tính địa phương, mà các hàng hóa cũng thường đơn sơ, chỉ có một rất ít đồ gốm và các sản phẩm tinh xảo khác. Xung quanh bờ Địa Trung Hải, đồ gốm vẫn còn phổ biến và được vận chuyển từ nơi tương đối xa chứ không chỉ gồm hàng địa phương.[77]

Các nhà nước German khác nhau ở phương tây đều đúc những đồng tiền bắt chước những dạng La Mã và Byzantine sẵn có. Vàng tiếp tục được khai thác để đúc tiền cho đến cuối thế kỉ 7, cho đến khi nó được thay thế bởi bạc. Đồng tiền bạc Frank nhỏ nhất là denarius hay denier, trong khi ở miền Anglo-Saxon là penny. Từ những miền này, đồng denier và penny lan ra khắp châu Âu trong thời kì 700-1000. Tiền đồng hoặc đồng thau không được đúc, và vàng cũng vậy, trừ miền Nam Âu. Các đồng tiền này chỉ có đơn vị nhỏ nhất mà không có đơn vị bội.[78]

Giáo hội và đời sống tu viện[sửa | sửa mã nguồn]

Một bức tranh thế kỉ 11 minh họa Thánh Gregory Cả đang đọc cho một thư ký viết.

Ki-tô giáo từng là một nhân tố thống nhất chính yếu giữa miền Đông và Tây châu Âu, nhưng cuộc chinh phục Bắc Phi của người Ả Rập đã cắt lìa mối liên lạc đường biển giữa hai khu vực này. Giáo hội Byzantine ngày càng khác biệt trong ngôn ngữ, nghi lễ, luật lệ với Giáo hội phương Tây. Giáo hội phương Đông dùng tiếng Hy Lạp thay vì tiếng Latin ở phương Tây. Sự khác biệt về thần học và chính trị xuất hiện, và tới đầu và giữa thế kỉ 8 những vấn đề như sự bài trừ thánh tượng, hôn nhân tăng lữ, và chế độ nhà nước kiểm soát nhà thờ đã tới mức độ mà sự khác biệt về văn hóa và tôn giáo giữa hai miền lớn hơn là những tương đồng.[79] Sự đổ vỡ chính thức xảy ra vào năm 1054, khi Giáo hoàng ở La Mã và Thượng phụ Đại kết ở Constantinopolis xụng đột với nhau về quyền tối cao trong giáo hội và rút phép thông công lẫn nhau, dẫn tới sự phân chia Ki-tô giáo thành hai Giáo hội-nhánh phương Tây trở thành Công giáo La Mã và nhánh phương Đông thành Chính Thống giáo Hy Lạp.[80]

Cấu trúc giáo hội thời Đế quốc La Mã tồn tại qua những đợt di dân và xâm lược hầu như nguyên vẹn ở phương Tây, nhưng ngôi vị giáo hoàng ít được coi trọng, và chỉ một vài giám mục ở phương Tây xem giám mục của La Mã (tức Giáo hoàng) như là lãnh tụ về tôn giáo hay chính trị. Với việc Byzantine tái chinh phục Italia từ người Goth, trước năm 750 các Giáo hoàng muốn đăng quang cần sự chuẩn thuận từ Hoàng đế Đông La Mã và do đó nhiều Giáo hoàng quan tâm nhiều hơn tới các sự vụ ở Byzantine và các tranh cãi thần học ở phương Đông. Các bản lưu trữ thư từ của Thánh Gregory Cả (Giáo hoàng những năm 590-604) cho thấy trong số hơn 850 bức thư, hầu hết là liên quan tới sự vụ ở Ý hay ở Constantinopolis. Phần duy nhất ở Tây Âu mà Giáo hoàng có ảnh hưởng là đảo Anh, nơi Gregory gửi đoàn truyền giáo năm 597 để cải người Anglo-Saxon sang Ki-tô gáo.[81] Những linh mục Ireland là những nhà truyền giáo tích cực nhất ở Tây Âu giữa thế kỉ 5 và 7, đầu tiên tới xứ Anh và Scotland sau đó tiến vào lục địa. Dẫn dắt bởi những tu sĩ như Columba (mất năm 597) và Columbanus (mất năm 615), họ đã lập nên những tu viện, dạy tiếng Latin và Hy Lạp, và soạn nhiều công trình tôn giáo lẫn thế tục.[82]

Sơ kỳ Trung Đại cũng chứng kiến sự thịnh hành chế độ tu viện ở phương Tây. Hình hài đời sống tu viện được xác định bởi những truyền thống và tư tưởng vốn bắt nguồn từ những Giáo phụ sa mạc ở Ai Cập và Syria. Hầu hết các tu viện châu Âu thuộc vào loại tập trung vào trải nghiệm cộng đồng về đời sống tinh thần, khởi đầu vào thế kỉ 4 bởi Thánh Pachomius (mất năm 348). Những lý tưởng về đời sống tu viện lan truyền từ Ai Cập tới Tây Âu trong các thế kỉ 5 và 6 thông qua các sách kể truyện thánh như "Cuộc đời Thánh Antôn Cả".[83] Thánh Benedict của Norcia (mất năm 547) viết Luật Benedict cho tu viện vào thế kỉ 6, mô tả chi tiết những trách nhiệm điều hành và tôn giáo của một cộng đồng các tu sĩ lãnh đạo bởi một tu viện trưởng.[84] Tu sĩ và các tu viện có một tác động sâu sắc lên đời sống tôn giáo và chính trị thời Sơ kỳ Trung Đại, trong nhiều trường hợp đã đóc vai trò như những nơi ủy thác đất đai cho những gia đình quyền quý, trung tâm tuyền truyền và ủng hộ cho hoàng gia ở những vùng mới chiếm đóng, và căn cứ cho các đoàn truyền giáo và nhập đạo[85] Họ là những trụ sở dạy chữ và kiến thức chính và đôi khi là duy nhất trong một vùng. Nhiều trong số những bản thảo của văn học Latin cổ điển được chép lại trong các tu viện vào thời Sơ kỳ Trung Đại.[86] Các tu sĩ cũng là tác giả của những tác phẩm mới, bao gồm lịch sử, thần học, và các đề tài khác, với những đại diện như Bede (mất năm 735) ở miền bắc xứ Anh.[87]

Châu Âu thời Carolingian[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ minh họa sự bành trướng của cường quốc Frank từ 481 tới 814

Miền đất của người Frank ở bắc Gallia chia ra thành ba vương quốc là Austrasia, Neustria, và Burgundy trong thế kỉ 6 và 7, có quan hệ lỏng lẻo với nhau vì vương vị ở ba vương quốc đều thuộc vương tộc Merovingian có tổ tiên chung là Clovis. Thế kỉ 7 chứng kiến một thời kì chiến tranh hỗn loạn giữa Austrasia và Neustria.[88] Sự hỗn loạn này bị Pépin Già, Trưởng quản hoàng gia Austrasia (mất năm 640) đứng đằng sau ngai vàng, khai thác. Con cháu Pépin thừa hưởng ngôi vị này, đóng vai trò cố vấn và nhiếp chính. Một trong những người chắt của ông, Charles Martel (mất năm 741), thắng trận Poitiers năm 732, ngăn chặn sự xâm lặng của quân đội Hồi giáo qua dãy Pyrénées.[89][upper-alpha 11]

Con trai của Charles Martel, Pépin Lùn (mất năm 768) tiến hành cuộc đảo chính năm 753 và thống nhất hai vương quốc Austrasia và Neustria, lập nên triều đại Carolingien. Một cuốn biên niên sử đương thời cho rằng Pépin đã được Giáo hoàng Stephanus II (giữ ngôi 752-757) ủng hộ đảo chính. Pépin sử dụng bộ máy tuyên truyền để hợp thức hóa triều đại của mình, bằng cách mô tả nhà Merovingien là bất tài hoặc tàn bạo, tán tụng công lao của Charles Martel, và lan truyền những giai thoại về lòng mô đạo cao cả của dòng họ ông. Đến lúc sắp qua đời năm 768, theo tục lệ người Frank Pépin chia vương quốc cho hai con trai, Charles và Carloman. Khi Carloman chết bệnh, Charles không cho con nhỏ của em trai nối ngôi, và tự đưa mình nên thành nhà vua duy nhất của Austrasia và Neustria. Charles, ngày nay thường được gọi dưới tên Charles Đại Đế hay Charlemagne, tiến hành một chương trình xâm lược quy mô kể từ năm 774, dần dần thống nhất một phần lớn châu Âu, lập lên một đế chế bao phủ phần lớn nước Pháp hiện nay, bắc Ý và miền Saxony. Trong các cuộc chiến tranh kéo dài tới khoảng năm 800, ông tặng thưởng chiến lợi phẩm và đất đai chiếm được cho các đồng minh.[91] Với việc chinh phục vương quốc Lombard (774), ông giải phóng Giáo hội La Mã khỏi nỗi sợ một cuộc xâm lược từ phía Bắc, xác lập Lãnh thổ Giáo hoàng.[92][upper-alpha 12] Vào ngày Giáng sinh năm 800, tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, Giáo hoàng Lêô III tuyên phong Charlemagne làm Hoàng đế của người La Mã[94].

Lễ đăng quang của Charlemagne được xem như một điểm bước ngoặt trong lịch sử trung đại, đánh dấu sự trở lại Đế quốc Tây La Mã trong hình hài mới, bởi tân hoàng đế cai trị trên phần lớn lãnh thổ trước kia thuộc các hoàng đế phương Tây.[96] Nó cũng đặt Charlemagne lên tư thế ngang hàng với Đế quốc Byzantine.[97] Tuy nhiên, có những khác biệt giữa đế quốc Carolingien mới thành lập và cả đế quốc Tây La Mã trước kia và đế quốc Byzantine đương thời. Lãnh thổ Frank chủ yếu là nông thôn, chỉ có một vài thành thị nhỏ. Hầu hết dân cư là nông dân sinh sống ở những trang trại nhỏ. Thương mại rất yếu ớt và hầu hết diễn ra với người Anh và Scandinavia, tương phản với Đế quốc La Mã xưa kia với mạng lưới giao thương tập trung ở miền Địa Trung Hải.[96] Đế chế Frank được cai trị bằng một triều đình lưu động, chu du cùng nhà vua từ miền này sang miền khác mà không có kinh đô thực sự, cùng với khoảng 300 quan lại được gọi là những bá tước (tiếng Pháp cổ:comte) cau quản những quận (tiếng Pháp cổ: conté). Tăng lữ và giám mục giáo phận cũng đóng vai trò quan lại, cung như các sứ thần của hoàng đế (tiếng Latin: missus dominicus) đóng vai trò thanh tra biệt phái và người giảng hòa.[98]

Phục Hưng Carolingien[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Phục hưng Carolingien

Triều đình Charlemagne ở Aachen từng là trung tâm của một sự nảy nở văn hóa đôi khi được gọi là "Phục hưng Carolingien". Thời kì này chứng kiến một sự gia tăng mức độ biết đọc biết viết, sự phát triển của mỹ thuật, kiến trúc và luật học. Tu sĩ người Anh Alcuin (mất năm 804) được mới tới Aachen và truyền bá giáo dục tại các tu viện ở miền Northumbria. Cơ quan văn thư của Charlemagne tạo nên một kiểu chữ viết mới, ngày nay gọi là chữ Carolingien, [upper-alpha 13] cho phép kiểu ghi chép thông thường giúp phát triển sự liên lạc trên khắp châu Âu. Charlemagne bảo trợ những thay đội trong nghi lễ nhà thờ, áp đặt các dạng nghi lễ La Mã lên các vùng ông cai quản, cũng như những các bình ca Gregoriano vào thánh ca nhà thờ. Một hoạt động quan trọng của các học giả thời kì này là sao chép, hiệu đính và truyền bá các tác phẩm đại cuơng về các chủ đề tôn giáo và thế tục, với mục đích khuyến khích việc học tập. Các công trình mới về các chủ đề tâm linh và sách giáo khoa cũng được lưu hành.[100] Các nhà ngữ pháp học của thời kì này đã chỉnh sửa ngôn ngữ Latin, biến nó từ dạng tiếng Latin Cổ điển của Đế quốc La Mã thành một dạng linh hoạt hơn để phù hợp nhu cầu của giáo hội và chính quyền. Dưới thời Charlemagne, ngôn ngữ này đã phân kỳ quá nhiều khỏi ngôn ngữ cổ điển đến mức về sau nó được gọi là tiếng Latin Trung Cổ.[101]

Đế quốc tan vỡ[sửa | sửa mã nguồn]

Phân chia lãnh thổ Đế quốc Carolingien năm 843, 855, và 870

Charlemagne dự định tiếp tục truyền thống Frank là chia lãnh thổ đế quốc cho những người con của mình, nhưng bất thành vì đến năm 813 chỉ còn một người con của ông còn sống là Louis Mộ Đạo (cai trị 814-840). Ngay trước khi qua đời, Charlemagne đưa Louis lên làm thái tử. Triều đại của Louis đánh dầu bởi một loạt những sự chia cắt đế chế giữa các con trai của ông và từ năm 829 là các cuộc nội chiến giữa nhiều liên minh của phụ vương và các hoàng tử giành quyền kiểm soát các miền đế quốc. Cuối cùng, Louis chấp nhận cho con cả là Lothaire I (mất năm 855) là hoàng đế và thừa hưởng Italia. Phần còn lại của đế chế chủ yếu được chia giữa Lothaire và Charles Hói (mất năm 877), con út của ông. Lothaire giữ Đông Frank, bao gồm hai bờ sông Rhine về phía đông, để lại cho Charles Tây Frank tới các miền tây của Rhineland và Alps. Louis German (mất 876), người con thứ ba từng nổi dậy chống em trai, được phép cai trị miền Bavaria dưới quyền anh cả Lothaire. Tuy nhiên việc phân chia này vẫn chưa làm hài lòng các thành viên hoàng tộc: cháu nội hoàng đế là Pépin II của Aquitaine (con trai của hoàng tử Pépin I của Aquitaine đã chết) nổi loạn đòi làm chủ Aquitaine, trong khi Louis German tìm cách sáp nhập toàn bộ miền Đông Frank. Louis Mộ Đạo mất năm 840 trong lúc đế quốc vẫn trong cảnh rối ren.[102]

Một cuộc nội chiến dài ba năm theo sau hoàng đế băng hà chấm dứt bởi Hiệp ước Verdun (843), một vương quốc được thành lập giữa sông Rhine và sông Rhône dưới quyền cai trị của Lothaire cùng với các lãnh thổ ở Ý; đồng thời đế hiệu của ông được xác nhận. Louis German kiểm soát Bavaria và miền đất phía đông ở Đức ngày nay. Charles Hói nhận miền phía tây Frank, bao gồm phần lớn nước Pháp hiện nay.[102] Những người cháu và chắt của Charlemagne lại chia cắt vương quốc của họ cho các con cháu, cuối cùng khiến cho sự thống nhất nội bộ một thời hoàn toàn biến mất.[103][upper-alpha 14] Năm 987 nhà Carolingien bị thay thế ở lãnh thổ phía tây, với sự đăng quang của Hugh Capet (cai trị 987-996) mở đầu vương triều Capetien ở Pháp.[upper-alpha 15] Dòng dõi này ở miền Đông còn diệt vong sớm hơn, vào năm 911, với cái chết của Louis Thiếu Đế,[106] và việc Konrad I (cai trị 911-918), một người ngoài hoàng tộc, được bầu làm vua.[107]

Sự đổ vỡ của Đế quốc Carolingien song hành với những cuộc xâm lược, di cư và cướp bóc bởi các kẻ thù bên ngoài. Các miền bờ biển Đại Tây Dương và phía bắc bị quấy nhiễu bởi người Viking, những người cũng tấn công quần đảo Anh và định cư ở đó cũng như ở Iceland. Năm 911, thủ lĩnh Viking Rollo (mất khoảng 931) nhận được sự cho phép từ Charles Giản Dị (cai trị 898-922) định cư cộng đồng Viking ở nơi về sau trở thành Normandie.[108][upper-alpha 16] Miền đông của đế quốc Frank cũ, đặc biệt là ở Đức và Ý, chịu đựng những đợt công kích liên tục của người Magyar cho đến khi đội quân xâm lược thất bại tại trận Lechfeld năm 955.[110] Trong khi đó, sự sụp đổ của triều đại Abbas dẫn tới thế giới Hồi giáo bị phân mảnh thành các tiểu quốc nhỏ hơn, một vài trong số đó bắt đầu bành trướng tới Italia và Sicily, cũng như vượt Pyréneés vào miền Nam của một số vương quốc Frank.[111]

Các vương quốc mới và Byzantine hồi sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Một bảng ngà ở thế kỉ thứ 10 minh học Chúa đón nhận một nhà thờ từ Otto I

Các nỗ lực của các vị vua ở địa phương nhằm chống lại những kẻ xâm lược dẫn đến sự hình thành những thực thể chính trị mới. Ở nước Anh Anglo-Saxon, Vua Alfred Đại đế (cai trị 871-899) đạt được một thỏa thủa với thủ lĩnh Viking cuối thế kỉ 9, dẫn đến việc những di dân Đan Mạch định cư ở Northumbria, Mercia và, nhiều phần thuộc Đông Anglia.[112] Tới giữa thế kỉ 10, con cháu của Alfred đã hoàn thành chinh phục Northumbria, và khôi phục quyền cai quản của người Anh trên phần lớn đảo Anh.[113] Ở miền bắc Anh, Kenneth MacAlpin (mất khoảng 860) thống nhất người Pict và người Scot, lập nên Vương quốc Alba.[113] Trong khi đó, đầu thế kỉ 10, Nhà Ottonen thiết lập vị trí thống trị ở Đức sau khi lãnh đạo đẩy lùi người Hungary. Những nỗ lực của gia tộc này đạt đến đỉnh cao với sự đăng quang ngôi Hoàng đế La Mã Thần thánh của Otto I năm 962 (cai trị 936-973).[114] Ông tìm kiếm sự công nhận của Đế quốc Byzantine với đế hiệu của mình, bằng cách cho con trai Otto II (cai trị 967-983) kết hôn với Theophanu (mất 991), con gái của hoàng đế Byzantine quá cố Romanos II (cai trị 959-963) năm 972.[115] Đến cuối thế kỉ 10 vương quốc Italia đã rơi vào vùng ảnh hưởng của nhà Ottonen sau một thời gian ổn định;[116] Otto III (cai trị 996-1002) dành phần lớn triều đại của ông cai trị ở vương quốc này[117] Vương quốc Tây Frank bị chia nhỏ hơn nữa, và dù các vị vua vẫn đứng đầu trên danh nghĩa, phần lớn quyền lực chính trị đã rơi vào tay các lãnh chúa địa phương.[118]

Các nỗ lực truyền đạo Ki-tô tới Scandinavia trong thế kỉ 9 và 10 đã giúp tăng cường sự phát triển của các nền quân chủ ở Thụy Điển, Đan MạchNa Uy, thu nhận nhiều quyền lực và lãnh thổ. Một vài vị vua cải sang Ki-tô giáo, nhưng tới năm 1000 không phải tất cả. Người Scandinavi cũng bành trướng và lập thuộc địa khắp châu Âu. Bên cạnh định cư ở Ireland, xứ Anh, và Normandy, các đợt di dân còn diễn ra ở nơi là nước Nga này nay và Iceland. Các thương nhân và cướp biển người Thụy Điển tràn xuống những con sông ở thảo nguyên Nga, thậm chí còn thử tấn công bất thành Constantinople vào những năm 860 và 907.[119] Nước Tây Ban Nha Ki-tô giáo, ban đầu bị đẩy lùi vào một vùng nhỏ phía bắc bán đảo, đã mở rộng chậm chạp về phía nam suốt các thế kỉ 9 và 10, lập nên các vương quốc AsturiasVương quốc León.[120]

Ở Đông Âu, Byzantine hồi phục lại sự thịnh vượng củ nói dưới thời các Hoàng đế [[Basil I] (cai trị 867-886), Leo VI (886-912) và Constantinus VII (913-959) thuộc Nhà Macedonian. Thương mại hồi sinh và các vị hoàng đế trông nam việc mở rộng một nên fhnahf chính thống nhất cho các tỉnh. Quân đội được tổ chức lại, cho phép các Hoàng đế John I (cai trị 969-976) và Basil II (cai trị 976-1025) mở rộng cương vực đế chế ở mọi hướng. Triều đình đế quốc ở Constantinople là trung tâm của một sự hồi sinh trong nghiên cứu cổ điển, một thời kì mà giờ đôi khi gọi là "Phục Hưng Macedonia". Các tác như John Geometres (sống khoảng thế kỉ 10) sáng tác những khúc ca, bài thơ, và các tác phẩm mới.[121] Các nỗ lực truyền giáo của cả giới tăng lữ Tây và Đông dẫn tới sự cải đảo của người Moravia, người Bulgary, người Bohemia, người Ba Lan, người Hungary, và các cư dân Slav ở Rus Kiev.[122] Bulgaria, thành lập khoảng năm 680, đạt đến đỉnh cao sau đó, vươn từ Budapest tới Hắc Hải và từ sông Dnieper ở Ukraina ngày nay tới Biển Adriatic.[123] Suy yếu dần bởi các cuộc chiến tranh với các thế lực khác, tới năm 1018, những quý người Bulgary cuối cùng đã đầu hàng đế quốc Byzantine.[124]

Nghệ thuật và kiến trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Một trang từ cuốn Phúc Âm Kells, một thánh kinh bằng minh họa được chế tác tại quần đảo Anh cuối thế kỉ 8 hoặc đầu thế kỉ 9[125]

Rất ít công trình đồ sộ bằng đá nào được xây dựng trong thời kì giữa các giáo đường kiểu Constantine thế kỉ 4 tới thế kỉ 8, mặc dù ở thế kỉ 6-7 khá nhiều giáo đường cỡ nhỏ xuất hiện. Tới đầu thế kỉ 8, Đế quốc Carolingien hồi sinh dạng kiến trúc giáo đường.[126] Một đặc điểm của giáo đường thời kì này là sử dụng cánh ngang,[127] tức những "cánh tay" của một công trình có hình chữ thập vông góc với trục chính tức gian giữa của nó.[128] Các đặc điểm khác của kiến trúc nhà thờ bao gồm tháp trung tâm, và mặt tiền đồ sộ thừong nằm ở phía tây của tòa nhà.[129]

Nghệ thuật Carolingien chiể nhằm phục vụ cho một nhóm nhỏ những nhân vật ở triều đình, các tu viện và giáo đường. Nó bị thống ngự bởi nỗ lực lấy lại chân giá trị và chủ nghĩa cổ điện của nghệ thuật hoàng gia La Mã và Byzantine. Trong khi ở quần đảo Anh hình thành nghệ thuật đảo quốc, hay sự kết hợp của truyền thống Celt với nghệ thuật Anglo-Saxon trong trang trí với các hình thức Địa Trung Hải, các tác phẩm chính còn lưu lại ngày nay là các thánh kinh minh họa và các phù điêu chạm ngà (mẫu của những tác phẩm trên kim loại đã bị nung chảy).[130][131] Các vật tạo tác từ kim loại quý là dạng nghệ thuật đỉnh cao của thời đại này, nhưng hầu hết đã thất truyền chỉ trừ một vài cây thập tự như Thánh giá Lothaire, một vài hòm thánh tích, và các vật khai quật được hầm mọ Sutton Hoo (Anglo-Saxon), các kho báu ở Gourdon (Merovingien), Guarrazar (Vigigoth) và Nagyszentmiklós (Byzantine). Trâm cài đầu là một phần quan trọng của trang sức cá nhân giới thượng lưu, một số chiếc tinh xảo còn lưu lại tới nay như Trâm Tara (Ireland).[132] Các sách Phúc Âm được trang trí dầy đặc cũng còn được bảo tồn với số lượng lớn, trong đó có những tác phẩm nổi bật hàm lượng nghệ thuật như Phúc Âm Kells, Phúc Âm Lindisfarne, và cuốn sách kinh của Charles Hói, Codex Aureus của St. Emmeram nổi tiếng và làm từ vàng và khảm đá quý.[133] Triều đình Charlemagne dường như là đóng vai trò tiếp nhận điêu khắc tượng hình quy mô lớn vào nghệ thuật Ki-tô giáo,[134] và tới cuối thời kì này các tượng có kích thước giống người thật như Thánh giá Gero trở thành phổ biến trong các nhà thờ lớn.[135]

Thành tựu quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời mạt kì Đế quốc La Mã, những phát triển chính về quân sự là nỗ lực tạo ra một lực lương kỵ binh hiệu quả cũng như tiếp tục phát triển hai loại quân có tính đặc chủng cao. Sự thành lập của kỵ binh trang bị nặng cataphract (quân thiết kỵ]] là một đặc điểm quan trọng của quân đội La mã thế kỉ 5. Các đội quân man dân có trọng tâm khác nhau trong đội hình-người Anglo-Saxon chủ yếu bao gồm bộ binh trong khi quân Vandal và Visigoth có một tỉ lệ kỵ binh đáng kể.[136] Thời kỳ đầu xâm lược, yên cương còn chưa được biết đến, gây hạn chế cho tính hữu dụng của kỵ binh trong vai trò quân xung kích.[137] Sự thay đổi lớn nhất trong thời kì này là sự tiếp nhận cung của người Hung thay cho cung Scythia yếu hơn trước đó.[138] Một sự phát triển khác là việc sử dụng ngày càng nhiều trường kiếm và [139] và sự thay thế dần áo giáp vảy bằng áo giáp lưới và áo giáo tấm.[140]

Tầm quan trọng của bộ binh và khinh kỵ bắt đầu suy giảm vào đầu thời Carolingien, trong khi thiết kị tinh nhuệ trở thành nòng cốt. Việc đánh thuế dân quân lên dân tự do suy giảm trong thời kì này.[141] Mặc dù phần lớn quân đội Carolingien cưỡi ngựa, một tỉ lệ lớn trong đó là bộ binh cưỡi ngựa (chỉ để tăng tính cơ động, còn dàn trận tấn công kiểu bộ binh), thay vì kỵ binh thực sự.[142] Một ngoại lệ là nước Anh Anglo-Saxon nơi quân đội vẫn hợp thành từ các đội quân tuyển mộ ở địa phương, gọi là fyrd (dân quân) do quý tộc địa phương đó chỉ huy.[143] Về mặt kĩ thuật, một trong những thay đổi chính là sự trở lại của nỏ vốn từng xuất hiện và mai một trong thời La Mã.[144] Một thay đổi khác là sự xuất hiện của yên cương cho phép tăng hiệu quả đột kích của kỵ binh. Móng ngựa cũng xuất hiện và tỏ ra hữu ích ngoài cả ý nghĩa quân sự, nó cho phép ngựa có thể sử dụng ở những địa hình nhiều đá.[145]

Trung kỳ Trung Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Xã hội và đời sống kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Một bức tranh minh họa Pháp thời Trung Cổ về ba giai cấp trong xã hội: tăng lữ, hiệp sĩnông dân.[146] Mối quan hệ giữa các giai cấp này nằm trong khuôn khổ của chế độ phong kiếnchế độ trang viên.[147]

Trung kỳ Trung Đại chứng kiến một sự gia tăng dân số. Dân cư châu Âu tăng từ khoảng 35 triệu năm 1000 lên khoảng 80 triệu năm 1347, mặc dù nguyên nhân chính xác vẫn còn chưa rõ ràng: có thể là những kĩ thuật canh tác cải tiến, sự suy giảm của chiếm hữu nô lệ, một khí hậu ấm hơn hoặc không chịu những cuộc xâm lược.[148][149] Tới khoảng 90 phần trăm dân số châu Âu là nông dân sống ở nông thôn. Nhiều người không còn sống trong những nông trang biệt lập mà gia nhập vào những cộng đồng nhỏ, tức các trang viên hoặc làng.[149] Những nông dân này thường chịu lệ thuộc vào một lãnh chúa quý tộc về đất canh tác và các dịch vụ khác, trong một hệ thống gọi là chế độ trang viên. Tuy thế vẫn có một lượng nhỏ nông dân tự do trong suốt thời kỳ này và cả sau đó,[150] phân bố ở Nam Âu nhiều hơn là miền bắc. Việc phá rừng lấy đất canh tác, hoặc khuyến khích nông dân khẩn hoang cũng đóng góp vào sự gia tăng dân số.[151]

Các giai tầng khác của xã hội bao gồm quý tộc, tăng lữ và thị dân. Quý tộc, bao gồm giới quyền quý có tước hiệu và các hiệp sĩ đơn thuần, khai thác lợi ích từ các trang viên và nông dân, mặc dù thẳng thừng thì họ không sở hữu đất đai mà là được ban quyền thu lợi tức của đất đai từ trang viên hay các miền đất khác từ một chúa tể đứng trên họ, trong một hệ thống gọi là chế độ phong kiến. Trong thế kỉ 11 và 12, những miền đất này, tức những đất phong (hay thái ấp), trở thành có tính thừa kế, và ở nhiều vùng không còn có thể bị phân chia giữa những người thừa kế khác nhau của một gia trưởng như thời kì đầu Trung Cổ. Thay đó, hầu hết thái ấp và đất đai khác được truyền cho con trai cả của gia trưởng.[152] Sự thống trị của quý tộc được xây dựng trên quyền kiểm soát đất đai, tham gia vào quân đội như kỵ binh nặng, kiểm soát các lâu đài, và được miễn sưu thuế lao dịch. Các lâu đài, ban đầu bằng gỗ và về sau bằng đá, bắt đầu được xây dựng từ thế kỉ 9 và 10 để phòng bị với những rối loạn xã hội đương thời, cung cấp sự bảo vệ khỏi quân xâm lược cướp bóc cũng như cho phép các lãnh chúa phòng ngự địch thủ. Quyền kiểm soát lâu đài ít nhiều cho phép quý tộc thách thức vua hoặc các vị chúa tể khác.[153] Giới quý tộc có tính phân tầng; vua và các quý tộc bậc cao nhất kiểm soát lượng lớn bình dân và đất đai, cũng như các quý tộc phụ thuộc. Bên dưới đó, các quý tộc thấp hơn có ít đất đai và nông dân hơn. Thấp nhất là những hiệp sĩ; họ thu lợi tức nhưng không sở hữu đất đai và phải phục vụ quý tộc (phong quân) của họ.[154][upper-alpha 17]

Giới tăng lữ chia thành hai loại: tăng lữ thế tục, tức những người sống ở thế giới bên ngoài, và tăng lữ tu đạo, tức những người sống trong các cơ sở tôn giáo và thường là tu sĩ.[156] Trong suốt thời kì này các tu sĩ vẫn chiếm một tỉ lẹ rất nhỏ trong dân chúng, thường dưới 1 phần trăm.[157] Hầu hết tăng lữ tu đạo là từ thành viên giới quý tộc chọn đời sống tôn giáo, đây cũng là xuất thân của tăng lữ thế tục bậc trên; trong khi các thầy tu ở xứ đạo địa phương thường xuất thân từ nông dân.[158]

Thị dân có một vị trí ít nhiều khác biệt, vì họ không phù hợp vào sự phân chia ba giai cấp xã hội truyền thống gồm quý tộc, tăng lữ và nong dân. Trong thế kỉ 12 và 13, vai trò của thị dân tăng cường nhanh chóng nhờ các thị trấn đã có lớn lên cùng những trung tâm dân cư được thành lập.[159] Tuy vậy trong suốt thời Trung Cổ dân cư thành thị chắc chắn không bao giờ vượt quá được 10 phần trăm tổng dân số.[160]

Một minh họa thế kỉ 13 về một người Do Thái (đội mũ đặc trưng của họ) tranh cãi với một người Ki-tô

Người Do Thái cũng di cư khắp châu Âu trong thời kỳ này. Các cộng đồng được thành lập ở Đức và Anh trong các thế kỉ 11 và 12, nhưng người Do Thái Tây Ban Nha, định cư từ lâu dưới chính quyền Hồi giáo, nay chịu sự thống trị của người Ki-tô và chịu áp lực cải đạo.[71] Hầu hết người Do Thái bị giam cầm trong những thị trấn, bởi vì họ không được phép sở hữu đất đai hay được làm nông dân.[161][upper-alpha 18] Bên cạnh người Do Thái, cũng có những người không theo Ki-tô giáo khác ở nhiều nơi của châu Âu-người Slav đa thần ở Đông Âu và người Hồi giáo ở Nam Âu.[162]

Phụ nữ ở thời Trung Đại chính thức thì lạ những người phụ thuộc vào một người đàn ông, có thể là cha, chồng hoặc một người họ hàng nam giới nào đó. Các góa phụ, những người thường có nhiều quyền hạn trên đời sống của chính mình hơn, vẫn bị giới hạn bởi luật lệ. Công việc của phụ nữ thường chỉ bao gồm cai quản gia đình và những nhiệm vụ liên quan tới việc trong nhà. Phụ nữ nông dân chịu trách nhiệm chăm sóc gia đình, nuôi dưỡng trẻ nhỏ, cũng như làm vườn và trông nom gia súc gần nhà. Họ có thể bổ sung cho thu nhập gia đình bằng việc quay sợi hoặc ủ rượu tại nhà. Vào mùa thu hoạch, họ cũng tham gia phụ giúp đồng áng.[163] Phụ nữ trong giới thị dân bên cạnh việc gia đình cũng tham gia và buôn bán, nhưng loại buôn bán nào cho phép phụ nữ tham gia thì thay đổi theo từng quốc gia và từng thời kì.[164] Phụ nữ quý tộc đội khi có thể đảm nhiệm việc cai quản cơ ngơi thái ấp trong khi nam giới vắng mặt, nhưng họ thường bị cấm tham gia vào sự vụ quân đội hoặc chính quyền. Vai trò duy nhất dành cho phụ nữ trong Giáo hội là , vì họ không thể trở thành linh mục.[163]\

Trung Ý, Bắc Ý, và ở miền Flandre, sự trỗi dậy của những thành thị đã tới một mức độ mà sự tự quản kích thích phát triển kinh tế và tạo nên mọt môi trường cho các loại hiệp hội thương mại mới. Các thành phố thương mại trên bờ biển Baltic đạt tới những thỏa thuận được biết tới như Liên minh Hanse, trong khi những cộng hòa hàng hải như Venezia, GenovaPisa mở rộng việc buôn bán của họ trong khắp Địa Trung Hải.[upper-alpha 19] Những hội chợ thương mại lớn thành lập và nở rộ ở miền bắc Pháp trong thời kì này, cho phép các thương nhân người Ý và Đức tới trao đổi với nhau và với thương nhân địa phương.[166] Trong cuối thế kỉ 13 các tuyến đường thủy và bộ tới Viễn Đông đã được khai phá, nhất là được nô tả trong cuốn Marco Polo phiêu lưu ký của một thương gia, Marco Polo (mất năm 1324).[167] Bên cạnh các cơ hội thương mại, các tiến bộ nông nghiệp va kĩ thuật khiên scho sản lượng thu hoạch gia tăng, đến lượt mình nó cho phép mạng lưới giao thương mở rộng.[168] Thương mại gia tăng đem lại những phương thức giao dịch tiền tệ mới, và tiền vàng một lần nữa được khai thác ở châu Âu, đầu tiên ở Ý và sau đó ở Pháp và các quốc gia khác. Các dạng hợp đồng thương mại mới xuất hiện, cho phép chia sẻ rủi ro giữa giới thương gia. Các phương pháp kế toán được cải tiến, một phần qua việc sử dụng vào sổ hai lần; các loại ngân phiếu cũng xuất hiện, cho phép tiền được chuyển phát dễ dàng hơn.[169]

Các cường quốc nổi lên[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ chính trị châu Âu và Địa Trung Hải năm 1190

Thời Trung Kỳ Trung Đại là chính là giai đoạn hình thành nhiều nhà nước phương Tây hiện đại. Các vị quân vương ở Pháp, Anh, và Tây Ban Nha củng cố quyền lực của họ, và lập nên những thể chế cai trị vững bền.[170] Các quốc gia mới như HungaryBa Lan, sau khi cải sang đạo Ki-tô, trở thành những cường quốc ở Trung Âu.[171] Chế độ giáo hoàng, gắn bó lâu dài với ý thức hệ về nền độc lập khỏi các vị vua thế tục, lần đầu tiên khẳng định tuyên bố thẩm quyền trần thế trên toàn bộ thế giới Ki-tô; nền Quân chủ Giáo hoàng đạt tới đỉnh điểm của nó vào đầu thế kỉ 13 dưới triều đại Giáo hoàng Innocent III (tại vị 1198-1216).[172] Các cuộc Thập tự chinh phương Bắc và sự xâm nhập của các vương quốc và quân đội Ki-tô vào các vùng trước đây theo đa thần ở miền Baltic và đông bắc Phần Lan đã dẫn tới sự cưỡng bức đồng hóa nhiều sắc dân bản địa vào văn hóa châu Âu.[173]

Trong thời kì đầu Trung Kỳ Trung Đại, triều đại Ottonian cai trị Đức nỗ lực tìm cách kiểm soát các vị công tước hùng mạnh nắm quyền ở các công quốc có nguồn gốc từ thời kỳ Di cư. Năm 1024, họ bị thay thế bởi triều đại Salian, nổi tiếng về xung đột với giáo hoàng dưới thời Hoàng đế Heinrich (cai trị 1084-1105) trên quyền bổ nhiệm giáo chức, trong một cuộc tranh chấp kéo dài thường gọi là Tranh cãi Tấn phong.[174] Những hậu duệ của Heinrich IV tiếp tục xung đột với giáo hoàng cũng như giới quý tộc trong nước. Một giai đoạn bất ổn diễn ra sau cái chết của Hoàng đế Heinrich V người không để lại người thừa kế nào, cho đến khi Friedrich Barbarossa (cai trị 1155-1190) nắm được ngai vàng.[175] Mặc dù ông cai trị đất nước một cách hiệu quả, các vấn đề cơ bản vẫn còn đó, và những vị vua sau ông vật lộn để giữ quyền lực cho tới thế kỉ 13.[176] Cháu nội của Barbarossa là Friedrich II (cai trị 1220-1250), người cũng được thừa kế ngai vàng Sicily thông qua mẹ mình, liên tục đụng độ với giáo hoàng. Triều đình của ông nổi tiếng nhờ những học giả mà ông vời tới và bản thân ông thường bị cáo buộc là dị giáo.[177] Cùng lúc ông và những người kế vị chịu rất nhiều khó khắn, bao gồm sự xâm lược của người Mông Cổ vào châu Âu từ giữa thế kỉ 13. Người Mông Cổ đầu tiên tiêu diệt các công quốc Kievan Rus' và sau đó xâm lược Đông Âu vào những năm 1241, 1259, 1287.[178]

Dưới triều đại cai trị của nhà Capétien nước Phấp chậm chạp mở rộng quyền lực trung ương tới giới quý tộc, vươn ra khỏi Île-de-France để kiểm soát ngày càng nhiều phần vương quốc vào thế kỉ 11 và 12.[179] Họ đối mặt với một đối thủ hùng mạnh từ ngôi Công tước Normandy, mà dưới thời William Người chinh phục đã lên cầm quyền ở Anh năm 1066 và tạo ra một đế chế hai bên eo biển tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, trong suốt phần còn lại của thời Trung Cổ.[180][181] Những người Norman cũng định cư ở Sicily và bắc Italy, khi Robert Guiscard (mất năm 1085) đổ bộ vào năm 1059 và lập nên một công quốc mà về sau trở thành Vương quốc Sicily.[182] Dưới triều Angevin của Henry II (cai trị 1154-1189) và con trai ông là Richard Tim sư tử (cai trị 1189-1199), vương triều Anh cai trị phần lớn xứ Anh và nhiều vùng rộng lớn thuộc Pháp,[183][upper-alpha 20] mà gia tộc thu được thông qua đám cưới của Henry II với Eleanor của Aquitaine, người thừa kế phần lớn miền nam Pháp.[185][upper-alpha 21]

Các cuộc Thập tự chinh[sửa | sửa mã nguồn]

Đời sống trí thức[sửa | sửa mã nguồn]

Kĩ thuật và quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Kiến trúc, mỹ thuật và âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Đời sống nhà thờ[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu kỳ Trung Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh, nạn đói và dịch bệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xã hội và kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Các quốc gia hồi sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Sự sụp đổ của Byzantine[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh cãi bên trong Giáo hội[sửa | sửa mã nguồn]

Học giả, trí thức và phát kiến địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Tiến bộ kĩ thuật và quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ thuật và kiến trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Cách nhìn nhận hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đây là năm mà Hoàng đế Tây La Mã cuối cùng bị đuổi ra khỏi Ý.[10]
  2. ^ Một công trình tham khảo xuất bản năm 1883 xem Kỷ nguyên Bóng tối tương đồng với Trung Đại, nhưng kể từ William Paton Ker năm 1904, thuật ngữ "Kỷ nguyên bóng tối" (tiếng Anh: Dark Agesthông thường chỉ giới hạn cho phần đầu của thời Trung Cổ. Chẳng hạn, ấn bản Encyclopædia Britannica năm 1911 định nghĩa từ Dark Ages theo cách này.
  3. ^ Tiếng Việt đôi khi dịch sai thành "Đêm trường Trung Cổ", dẫn đến một hiểu nhầm rằng từ "Trung Cổ" mang nghĩa tiêu cực. Thực chất "Trung Cổ" là cách các dịch giả Việt Nam mượn từ tiếng Hán "Trung cổ thời đại"(中古時代)
  4. ^ Hệ thống này, cuối cùng hoàn thiện thành chế độ hai đồng hoàng đế cao cấp và hai đồng hoàng đế cấp thấp, được gọi là Tứ đầu chế.[21]
  5. ^ Những chỉ huy quân đội La Mã trong khu vực dường như đã chiếm lương thực và các nhu yếu phẩm khác vốn được ban cho người Goth và bán lại cho người Goth. Cuộc nổi loạn bùng lên khi một trong các chỉ huy quân La mã tìm cách bách các thủ lĩnh người Goth làm con tin nhưng thất bại trong việc giam giữ tất cả.[28]
  6. ^ Alaric, người trước sau chỉ muốn một vị trí trong quân đội La Mã và có một chỗ định cư cho dân tộc ông, đã nấn ná bao vây và chỉ cướp thành La Mã sau khi nhiều lần đàm phán bất thành và bị lật lọng. So với các lần tấn công về sau của người Hung, cuộc cướp bóc tương đối hạn chế về quy mô, nhất là các công trình Thiên Chúa giáo không bị xâm phạm.[31]
  7. ^ Một mốc thay thế khác là năm 480, năm mà hoàng đế tại vị trước Romulus Augustus là Julius Nepos chết; Nepos trước đó tiếp tục tuyên bố rằng mình là hoàng đế phương Tây sau khi bị lật đổ và chạy tới Dalmatia.[10]
  8. ^ Nguồn cung chủ yếu cho nô lệ La Mã giai đoạn sau đến từ tù binh miền Balkan và Tiểu Á. Vì thế mà trong một số ngôn ngữ, nô lệ (chẳng hạn tiếng Anh: slave) phát sinh từ tiếng Latin slavicus vốn để chỉ người Slav.[45]
  9. ^ Mộ của ông được khai quật năm 1653 và đáng chú ý vì những vật đem táng cùng được bảo toàn nguyên vẹn, trong đó có nhiều vũ khí và một lượng vàng lớn.[48]
  10. ^ Dhu Nuwas, nhà cai trị miền ngày nay là Yemen, cải sang đạo Do Thái năm 525 và tiến hành truy bức người theo Ki-tô giáo, dẫn đến cuộc xâm lược của người Axum ở Ethiopia.[72]
  11. ^ Trước đó quân đội Hồi giáo đã chinh phục Tây Ban Nha, tiêu diệt vương quốc Visigoth với vị vua cuối cùng là Ruderic trong Trận Guadalete năm 711.[90]
  12. ^ Lãnh thổ Giáo hoàng tồn tại tới năm 1870, khi Vương quốc Italia chiếm đòng hầu hết miền này, chỉ chừa lại Vatican cho Giáo hội.[93]
  13. ^ Chữ Carolingien đuwojc phát triển từ một kiểu chữ ở hậu kỳ Cổ đại, có nét tròn, nhỏ hơn dạng cổ điển.[99]
  14. ^ Có một thời gian tái thống nhất ngắn ngủi bởi Charles Béo năm 884, mặc dù các lãnh thổ hợp phần không hoàn toàn sáp nhập mà vẫn duy trì quyền quản lý riêng. Charles Béo tức Charles III bị phế truất năm 887 và mất tháng 1 năm 888.[104]
  15. ^ Nhà Carolingien đầu tiên bị Odo (cai trị 888–898) thoán ngôi 888.[105] Có một thời kì hai dòng họ này thay nhau tranh giành ngai vàng. Hugh Capet là cháu nội Robert I, người từng làm vua Pháp năm 922-923.[106]
  16. ^ Sự định cư này về sau mở rộng ra và dẫn tới các cuộc chinh phạt tới Anh, Sicily, và Nam Italia.[109]
  17. ^ Ở Pháp, Đức và Hà Lan còn có một loại "quý tộc" khác, tiếng Latin gọi là en:ministerialis mà bản chất là những hiệp sĩ phụ thuộc. Họ xuất thân từ nông nô, nhờ vào phục vụ như lính hoặc viên chức chính quyền mà được cải thiện vị phí, được phép có nông nô phụ thuộc và con cháu trở thành hiệp sĩ trong khi lệ thuộc chặt chẽ vào ông chủ của mình.[155]
  18. ^ Vẫn có một số nông dân Do Thái được canh tác trong những miền đất thuộc chính quyền Byzantine ở phương Đông cũng như ở đảo Crete thuộc Venetia nhưng đó chỉ là những ngoại lệ.[161]
  19. ^ Hai nhóm này-người Đức và người Ý- có những cách tiếp cận khác nhau đối với thỏa thuận thương mại. Hầu hết các thành phố Đức hợp tác với nhau, trái lại các thành quốc Ý lao vào các cuộc xung đột huynh đệ tương tàn.[165]
  20. ^ This grouping of lands is often called the Angevin Empire.[184]
  21. ^ Eleanor trước đó đã kết hôn với Louis VII của Pháp (cai trị 1137–80), nhưng hôn nhân của họ bị hủy bỏ năm 1152.[185]

Trích dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Power Central Middle Ages tr. 304
  2. ^ a ă Mommsen "Petrarch's Conception of the 'Dark Ages'" Speculum tr. 236–237
  3. ^ Singman Daily Life tr. x
  4. ^ Knox "Lịch sử Ý tưởng về Phục Hưng"
  5. ^ a ă Bruni History of the Florentine people tr. xvii
  6. ^ Miglio "Curial Humanism" Interpretations of Renaissance Humanism tr. 112
  7. ^ a ă Murray "Should the Middle Ages Be Abolished?" Essays in Medieval Studies tr. 4
  8. ^ Flexner (biên tập) Random House Dictionary tr. 1194
  9. ^ "Middle Ages" Dictionary.com
  10. ^ a ă â Wickham Inheritance of Rome tr. 86
  11. ^ Xem các bài của Watts Making of Polities Europe 1300–1500 hoặc của Epstein Economic History of Later Medieval Europe 1000–1500 hoặc mốc thời gian của Holmes (ed.) Oxford History of Medieval Europe
  12. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Davies291
  13. ^ Xem bài của Saul Companion to Medieval England 1066–1485
  14. ^ Kamen Spain 1469–1714 tr. 29
  15. ^ Mommsen "Petrarch's Conception of the 'Dark Ages'" Speculum tr. 226
  16. ^ Tansey, et al. Gardner's Art Through the Ages tr. 242
  17. ^ Cunliffe Europe Between the Oceans tr. 391–393
  18. ^ Collins Early Medieval Europe tr. 3–5
  19. ^ a ă Heather Fall of the Roman Empire tr. 111
  20. ^ a ă â Brown World of Late Antiquity tr. 24–25
  21. ^ a ă Collins Early Medieval Europe tr. 9
  22. ^ Collins Early Medieval Europe p. 24
  23. ^ Cunliffe Europe Between the Oceans tr. 405–406
  24. ^ Collins Early Medieval Europe tr. 31–33
  25. ^ Brown World of Late Antiquity tr. 34
  26. ^ Brown World of Late Antiquity tr. 65–68
  27. ^ Brown World of Late Antiquity tr. 82–94
  28. ^ Collins Early Medieval Europe tr. 51
  29. ^ Bauer History of the Medieval World tr. 47–49
  30. ^ Bauer History of the Medieval World tr. 56–59
  31. ^ Peter Heather, The Fall of the Roman Empire: A New History of Rome and the Barbarians, (Oxford University Press, 2006), tr.227-228.
  32. ^ Collins Early Medieval Europe tr. 59–60
  33. ^ a ă Cunliffe Europe Between the Oceans tr. 417
  34. ^ James Europe's Barbarians tr. 67–68
  35. ^ Bauer History of the Medieval World tr. 117–118
  36. ^ Wickham Inheritance of Rome tr. 79
  37. ^ Collins Early Medieval Europe tr. 116–134
  38. ^ Brown World of Late Antiquity tr. 122–124
  39. ^ Wickham Inheritance of Rome tr. 95–98
  40. ^ Wickham Inheritance of Rome tr. 100–101
  41. ^ Collins Early Medieval Europe p. 100
  42. ^ a ă Collins Early Medieval Europe tr. 96–97
  43. ^ Wickham Inheritance of Rome tr. 102–103
  44. ^ Backman Worlds of Medieval Europe tr. 86–91
  45. ^ Coredon Dictionary of Medieval Terms tr. 261
  46. ^ James Europe's Barbarians tr. 82–85
  47. ^ a ă James Europe's Barbarians tr. 77–78
  48. ^ James Europe's Barbarians tr. 79–80
  49. ^ James Europe's Barbarians tr. 78–81
  50. ^ Collins Early Medieval Europe tr. 196–208
  51. ^ Davies Europe tr. 235–238
  52. ^ Adams History of Western Art tr. 158–159
  53. ^ Wickham Inheritance of Rome tr. 81–83
  54. ^ Bauer History of the Medieval World tr. 200–202
  55. ^ a ă Bauer History of the Medieval World tr. 206–213
  56. ^ Collins Early Medieval Europe tr. 126, 130
  57. ^ Brown "Transformation of the Roman Mediterranean" Oxford Illustrated History of Medieval Europe tr. 8–9
  58. ^ James Europe's Barbarians tr. 95–99
  59. ^ Collins Early Medieval Europe tr. 140–143
  60. ^ Brown World of Late Antiquity tr. 174–175
  61. ^ Brown World of Late Antiquity tr. 181
  62. ^ Brown "Transformation of the Roman Mediterranean" Oxford Illustrated History of Medieval Europe tr. 45–49
  63. ^ Geary Before France and Germany tr. 56–57
  64. ^ Wickham Inheritance of Rome tr. 189–193
  65. ^ Wickham Inheritance of Rome tr. 195–199
  66. ^ Wickham Inheritance of Rome tr. 204
  67. ^ Wickham Inheritance of Rome tr. 205–210
  68. ^ Wickham Inheritance of Rome tr. 211–212
  69. ^ Wickham Inheritance of Rome tr. 215
  70. ^ Gies and Gies Life in a Medieval City tr. 3–4
  71. ^ a ă Loyn "Jews" Middle Ages tr. 191
  72. ^ Collins Early Medieval Europe tr. 138–139
  73. ^ Collins Early Medieval Europe tr. 143–145
  74. ^ Collins Early Medieval Europe tr. 149–151
  75. ^ Brown "Transformation of the Roman Mediterranean" Oxford Illustrated History of Medieval Europe tr. 15
  76. ^ Cunliffe Europe Between the Oceans tr. 427–428
  77. ^ Wickham Inheritance of Rome tr. 218–219
  78. ^ Grierson "Coinage and currency" Middle Ages
  79. ^ Collins Early Medieval Europe tr. 218–233
  80. ^ Davies Europe tr. 328–332
  81. ^ Wickham Inheritance of Rome pp. 170–172
  82. ^ Colish Medieval Foundations tr. 62–63
  83. ^ Lawrence Medieval Monasticism tr. 10–13
  84. ^ Lawrence Medieval Monasticism tr. 18–24
  85. ^ Wickham Inheritance of Rome tr. 185–187
  86. ^ Hamilton Religion in the Medieval West tr. 43–44
  87. ^ Colish Medieval Foundations tr. 64–65
  88. ^ Bauer History of the Medieval World tr. 246–253
  89. ^ Bauer History of the Medieval World tr. 347–349
  90. ^ Bauer History of the Medieval World tr. 344
  91. ^ Bauer History of the Medieval World tr. 371–378
  92. ^ Brown "Transformation of the Roman Mediterranean" Oxford Illustrated History of Medieval Europe ptr 20
  93. ^ Davies Europe tr. 824
  94. ^ James Bryce, The Holy Roman Empire, 1864, tr.62-64
  95. ^ Stalley Early Medieval Architecture tr. 73
  96. ^ a ă Backman Worlds of Medieval Europe tr. 109
  97. ^ Backman Worlds of Medieval Europe tr. 117–120
  98. ^ Davies Europe tr. 302
  99. ^ Davies Europe tr. 241
  100. ^ Colish Medieval Foundations tr. 66–70
  101. ^ Loyn "Language and dialect" Middle Ages tr. 204
  102. ^ a ă Bauer History of the Medieval World tr. 427–431
  103. ^ Backman Worlds of Medieval Europe p. 139
  104. ^ Collins Early Medieval Europe tr. 356–358
  105. ^ Collins Early Medieval Europe tr. 358–359
  106. ^ a ă Collins Early Medieval Europe tr. 360–361
  107. ^ Collins Early Medieval Europe tr. 397
  108. ^ Backman Worlds of Medieval Europe tr. 141–144
  109. ^ Davies Europe tr. 336–339
  110. ^ Backman Worlds of Medieval Europe tr. 144–145
  111. ^ Bauer History of the Medieval World tr. 147–149
  112. ^ Collins Early Medieval Europe tr. 378–385
  113. ^ a ă Collins Early Medieval Europe tr. 387
  114. ^ Collins Early Medieval Europe tr. 394–404
  115. ^ Davies Europe tr. 317
  116. ^ Wickham Inheritance of Rome tr. 435–439
  117. ^ Whitton "Society of Northern Europe" Oxford Illustrated History of Medieval Europe tr. 152
  118. ^ Wickham Inheritance of Rome tr. 439–444
  119. ^ Collins Early Medieval Europe tr. 385–389
  120. ^ Wickham Inheritance of Rome tr. 500–505
  121. ^ Davies Europe tr. 318–320
  122. ^ Davies Europe tr. 321–326
  123. ^ Crampton Concise History of Bulgaria tr. 12
  124. ^ Curta Southeastern Europe tr. 246–247
  125. ^ Nees Early Medieval Art tr. 145
  126. ^ Stalley Early Medieval Architecture tr. 29–35
  127. ^ Stalley Early Medieval Architecture tr. 43–44
  128. ^ Cosman Medieval Wordbook tr. 247
  129. ^ Stalley Early Medieval Architecture tr. 45, 49
  130. ^ Kitzinger Early Medieval Art tr. 36–53, 61–64
  131. ^ Henderson Early Medieval tr. 18–21, 63–71
  132. ^ Henderson Early Medieval tr. 36–42, 49–55, 103, 143, 204–208
  133. ^ Benton Art of the Middle Ages tr. 41–49
  134. ^ Lasko Ars Sacra tr. 16–18
  135. ^ Henderson Early Medieval tr. 233–238
  136. ^ Nicolle Medieval Warfare Source Book: Warfare in Western Christendom tr. 28–29
  137. ^ Nicolle Medieval Warfare Source Book: Warfare in Western Christendom tr. 30
  138. ^ Nicolle Medieval Warfare Source Book: Warfare in Western Christendom tr. 30–31
  139. ^ Nicolle Medieval Warfare Source Book: Warfare in Western Christendom tr. 34
  140. ^ Nicolle Medieval Warfare Source Book: Warfare in Western Christendom tr. 39
  141. ^ Nicolle Medieval Warfare Source Book: Warfare in Western Christendom pp. 58–59
  142. ^ Nicolle Medieval Warfare Source Book: Warfare in Western Christendom tr. 76
  143. ^ Nicolle Medieval Warfare Source Book: Warfare in Western Christendom tr. 67
  144. ^ Nicolle Medieval Warfare Source Book: Warfare in Western Christendom tr. 80
  145. ^ Nicolle Medieval Warfare Source Book: Warfare in Western Christendom tr. 88–91
  146. ^ Whitton "Society of Northern Europe" Oxford Illustrated History of Medieval Europe p. 134
  147. ^ Gainty and Ward Sources of World Societies tr. 352
  148. ^ Jordan Europe in the High Middle Ages pp. 5–12
  149. ^ a ă Backman Worlds of Medieval Europe tr. 156
  150. ^ Backman Worlds of Medieval Europe tr. 164–165
  151. ^ Epstein Economic and Social History tr. 52–53
  152. ^ Barber Two Cities tr. 37–41
  153. ^ Davies Europe tr. 311–315
  154. ^ Singman Daily Life tr. 3
  155. ^ Singman Daily Life tr. 8
  156. ^ Hamilton Religion on the Medieval West tr. 33
  157. ^ Singman Daily Life tr. 143
  158. ^ Barber Two Cities tr. 33–34
  159. ^ Barber Two Cities tr. 48–49
  160. ^ Singman Daily Life tr. 171
  161. ^ a ă Epstein Economic and Social History tr. 54
  162. ^ Singman Daily Life tr. 13
  163. ^ a ă Singman Daily Life tr. 14–15
  164. ^ Singman Daily Life tr. 177–178
  165. ^ Epstein Economic and Social History tr. 81
  166. ^ Epstein Economic and Social History tr. 82–83
  167. ^ Barber Two Cities tr. 60–67
  168. ^ Backman Worlds of Medieval Europe tr. 160
  169. ^ Barber Two Cities tr. 74–76
  170. ^ Backman Worlds of Medieval Europe tr. 283–284
  171. ^ Barber Two Cities tr. 365–380
  172. ^ Backman Worlds of Medieval Europe tr. 262–279
  173. ^ Barber Two Cities tr. 371–372
  174. ^ Backman Worlds of Medieval Europe tr. 181–186
  175. ^ Jordan Europe in the High Middle Ages tr. 143–147
  176. ^ Jordan Europe in the High Middle Ages tr. 250–252
  177. ^ Denley "Mediterranean" Oxford Illustrated History of Medieval Europe tr. 235–238
  178. ^ Davies Europe tr. 364
  179. ^ Backman Worlds of Medieval Europe tr. 187–189
  180. ^ Jordan Europe in the High Middle Ages tr. 59–61
  181. ^ Backman Worlds of Medieval Europe tr. 189–196
  182. ^ Davies Europe tr. 294
  183. ^ Backman Worlds of Medieval Europe p. 263
  184. ^ Barlow Feudal Kingdom pp. 285–286
  185. ^ a ă Loyn "Eleanor of Aquitaine" Middle Ages p. 122

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Adams, Laurie Schneider (2001). A History of Western Art . Boston, MA: McGraw Hill. ISBN 0-07-231717-5. 
  • Albrow, Martin (1997). The Global Age: State and Society Beyond Modernity. Stanford, CA: Stanford University Press. ISBN 0-8047-2870-4. 
  • Backman, Clifford R. (2003). The Worlds of Medieval Europe. Oxford, UK: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-512169-8. 
  • Barber, Malcolm (1992). The Two Cities: Medieval Europe 1050–1320. London: Routledge. ISBN 0-415-09682-0. 
  • Barber, Richard (1978). Edward, Prince of Wales and Aquitaine: A Biography of the Black Prince. New York: Scribner. ISBN 0-684-15864-7. 
  • Barlow, Frank (1988). The Feudal Kingdom of England 1042–1216 . New York: Longman. ISBN 0-582-49504-0. 
  • Bauer, Susan Wise (2010). The History of the Medieval World: From the Conversion of Constantine to the First Crusade. New York: W. W. Norton. ISBN 978-0-393-05975-5. 
  • Benton, Janetta Rebold (2002). Art of the Middle Ages. World of Art. London: Thames & Hudson. ISBN 0-500-20350-4. 
  • British Library Staff (8 tháng 1 năm 2008). “Incunabula Short Title Catalogue”. British Library. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2012. 
  • Brown, Peter. The World of Late Antiquity AD 150–750. Library of World Civilization. New York: W. W. Norton & Company. ISBN 0-393-95803-5. 
  • Brown, Thomas (1998). “The Transformation of the Roman Mediterranean, 400–900”. Trong Holmes, George. The Oxford Illustrated History of Medieval Europe. Oxford, UK: Oxford University Press. tr. 1–62. ISBN 0-19-285220-5. 
  • Bruni, Leonardo (2001). Trong Hankins, James. History of the Florentine People 1. Cambridge, MA: Harvard University Press. ISBN 978-0-674-00506-8. 
  • Crampton, R. J. (2005). A Concise History of Bulgaria. Cambridge, UK: Cambridge University Press. ISBN 0-521-61637-9. 
  • Colish, Marcia L. (1997). Medieval Foundations of the Western Intellectual Tradition 400–1400. New Haven, CT: Yale University Press. ISBN 0-300-07852-8. 
  • Collins, Roger (1999). Early Medieval Europe: 300–1000 . New York: St. Martin's Press. ISBN 0-312-21886-9. 
  • Coredon, Christopher (2007). A Dictionary of Medieval Terms & Phrases . Woodbridge, UK: D. S. Brewer. ISBN 978-1-84384-138-8. 
  • Cosman, Madeleine Pelner (2007). Medieval Wordbook: More the 4,000 Terms and Expressions from Medieval Culture. New York: Barnes & Noble. ISBN 978-0-7607-8725-0. 
  • Cunliffe, Barry (2008). Europe Between the Oceans: Themes and Variations 9000 BC-AD 1000. New Haven, CT: Yale University Press. ISBN 978-0-300-11923-7. 
  • Curta, Florin (2006). Southeastern Europe in the Middle Ages 500-1250. Cambridge Medieval Textbooks. Cambridge, UK: Cambridge University Press. ISBN 0-521-89452-2. 
  • Davies, Norman (1996). Europe: A History. Oxford, UK: Oxford University Press. ISBN 0-19-520912-5. 
  • Denley, Peter (1998). “The Mediterranean in the Age of the Renaissance, 1200–1500”. Trong Holmes, George. The Oxford Illustrated History of Medieval Europe. Oxford, UK: Oxford University Press. tr. 235–296. ISBN 0-19-285220-5. 
  • Dodwell, C. R. (1993). The Pictorial Arts of the West: 800–1200. Pellican History of Art. New Haven, CT: Yale University Press. ISBN 0-300-06493-4. 
  • Eastwood, Bruce (2007). Ordering the Heavens: Roman Astronomy and Cosmology in the Carolingian Renaissance. History of Science and Medicine Library. Boston, MA: Brill. ISBN 978-90-04-16186-3. 
  • Epstein, Steven A. (2009). An Economic and Social History of Later Medieval Europe, 1000–1500. Cambridge, UK: Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-70653-7. 
  • Flexner, Stuart Berg (biên tập). The Random House Dictionary of the English Language: Unabridged . New York: Random House. ISBN 0-394-50050-4. 
  • Gainty, Denis; Ward, Walter D. (2009). Sources of World Societies: Volume 2: Since 1500. Boston, MA: Bedford/St. Martin's. ISBN 0-312-68858-X. 
  • Geary, Patrick J. (1988). Before France and Germany: The Creation and Transformation of the Merovingian World. Oxford, UK: Oxford University Press. ISBN 0-19-504458-4. 
  • Gies, Joseph and Gies, Frances (1973). Life in a Medieval City. New York: Thomas Y. Crowell. ISBN 0-8152-0345-4. 
  • Grant, Edward (2001). God and Reason in the Middle Ages. Cambridge, UK: Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-80279-6. 
  • Grant, E. (1994). Planets, Stars, & Orbs: The Medieval Cosmos, 1200–1687. Cambridge, UK: Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-43344-0. 
  • Grierson, Philip (1989). “Coinage and currency”. Trong Loyn, H. R. The Middle Ages: A Concise Encyclopedia. London: Thames and Hudson. tr. 97–98. ISBN 0-500-27645-5. 
  • Griffiths, Antony (1996). Prints and Printmaking. London: British Museum Press. ISBN 0-7141-2608-X. 
  • Hallam, Elizabeth M.; Everard, Judith (2001). Capetian France 987–1328 . New York: Longman. ISBN 0-582-40428-2. 
  • Hamilton, Bernard (2003). Religion in the Medieval West . London: Arnold. ISBN 0-340-80839-X. 
  • Heather, Peter (2006). The Fall of the Roman Empire: A New History of Rome and the Barbarians. Oxford, UK: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-532541-6. 
  • Henderson, George (1977). Early Medieval . New York: Penguin. OCLC 641757789. 
  • Holmes, George (editor) (1988). The Oxford History of Medieval Europe. Oxford, UK: Oxford University Press. ISBN 0-19-285272-8. 
  • Ilardi, Vincent (2007). Renaissance Vision from Spectacles to Telescopes. Philadelphia: American Philosophical Society. ISBN 978-0-87169-259-7. 
  • James, Edward (2009). Europe's Barbarians: AD 200–600. The Medieval World. Harlow, UK: Pearson Longman. ISBN 978-0-582-77296-0. 
  • Jordan, William C. (2003). Europe in the High Middle Ages. Penguin History of Europe. New York: Viking. ISBN 978-0-670-03202-0. 
  • Kamen, Henry (2005). Spain 1469–1714 . New York: Pearson/Longman. ISBN 0-582-78464-6. 
  • Kaufmann, J. E. and Kaufmann, H. W. (2001). The Medieval Fortress: Castles, Forts and Walled Cities of the Middle Ages (ấn bản 2004). Cambridge, MA: De Capo Press. ISBN 0-306-81358-0. 
  • Keen, Maurice (1988) [1968]. The Pelican History of Medieval Europe. London: Penguin Books. ISBN 0-14-021085-7. 
  • Kitzinger, Ernst (1955). Early Medieval Art at the British Museum . London: British Museum. OCLC 510455. 
  • Knox, E. L. “History of the Idea of the Renaissance”. Europe in the Late Middle Ages. Boise State University. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2012. 
  • Lasko, Peter (1972). Ars Sacra, 800–1200. Penguin History of Art (now Yale). New York: Penguin. ISBN 0-14-056036-X. 
  • Lawrence, C.H (2001). Medieval Monasticism: Forms of Religious Life in Western Europe in the Middle Ages . Harlow, UK: Longman. ISBN 0-582-40427-4. 
  • Lightbown, Ronald W. (1978). Secular Goldsmiths' Work in Medieval France: A History. Reports of the Research Committee of the Society of Antiquaries of London. London: Thames and Hudson. ISBN 0-500-99027-1. 
  • Lindberg, David C.; Numbers, Ronald L. (1986). “Beyond War and Peace: A Reappraisal of the Encounter between Christianity and Science”. Church History 55 (3): 338–354. doi:10.2307/3166822. JSTOR 3166822. 
  • Lindberg, David C. (2003). “The Medieval Church Encounters the Classical Tradition: Saint Augustine, Roger Bacon, and the Handmaiden Metaphor”. Trong Lindberg, David C. and Numbers, Ronald L. When Science & Christianity Meet. Chicago, IL: University of Chicago Press. ISBN 0-226-48214-6. 
  • Lock, Peter (2006). Routledge Companion to the Crusades. New York: Routledge. ISBN 0-415-39312-4. 
  • Loyn, H. R. (1989). “Avignon”. Trong Loyn, H. R. The Middle Ages: A Concise Encyclopedia. London: Thames and Hudson. tr. 45. ISBN 0-500-27645-5. 
  • Loyn, H. R. (1989). “Eleanor of Aquitaine”. Trong Loyn, H. R. The Middle Ages: A Concise Encyclopedia. London: Thames and Hudson. tr. 122. ISBN 0-500-27645-5. 
  • Loyn, H. R. (1989). “Famine”. Trong Loyn, H. R. The Middle Ages: A Concise Encyclopedia. London: Thames and Hudson. tr. 127–128. ISBN 0-500-27645-5. 
  • Loyn, H. R. (1989). “Great Schism”. Trong Loyn, H. R. The Middle Ages: A Concise Encyclopedia. London: Thames and Hudson. tr. 153. ISBN 0-500-27645-5. 
  • Loyn, H. R. (1989). “Hundred Years' War”. Trong Loyn, H. R. The Middle Ages: A Concise Encyclopedia. London: Thames and Hudson. tr. 176. ISBN 0-500-27645-5. 
  • Loyn, H. R. (1989). “Jews”. Trong Loyn, H. R. The Middle Ages: A Concise Encyclopedia. London: Thames and Hudson. tr. 190–192. ISBN 0-500-27645-5. 
  • Loyn, H. R. (1989). “Knights of the Temple (Templars)”. Trong Loyn, H. R. The Middle Ages: A Concise Encyclopedia. London: Thames and Hudson. tr. 201–202. ISBN 0-500-27645-5. 
  • Loyn, H. R. (1989). “Language and dialect”. Trong Loyn, H. R. The Middle Ages: A Concise Encyclopedia. London: Thames and Hudson. tr. 204. ISBN 0-500-27645-5. 
  • Loyn, H. R. (1989). “Scholasticism”. Trong Loyn, H. R. The Middle Ages: A Concise Encyclopedia. London: Thames and Hudson. tr. 293–294. ISBN 0-500-27645-5. 
  • “Middle Ages”. Dictionary.com. 2004. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2012. 
  • Miglio, Massimo (2006). “Curial Humanism seen through the Prism of the Papal Library”. Trong Mazzocco, Angelo. Interpretations of Renaissance Humanism. Brill's Studies in Intellectual History. Leiden: Brill. tr. 97–112. ISBN 978-90-04-15244-1. 
  • Mommsen, Theodore (1942). “Petrarch's Conception of the 'Dark Ages'”. Speculum 17 (2): 226–242. doi:10.2307/2856364. JSTOR 2856364. 
  • Morris, Rosemary (1998). “Northern Europe invades the Mediterranean, 900–1200”. Trong Holmes, George. The Oxford Illustrated History of Medieval Europe. Oxford, UK: Oxford University Press. tr. 175–234. ISBN 0-19-285220-5. 
  • Murray, Alexander (2004). “Should the Middle Ages Be Abolished?”. Essays in Medieval Studies 21: 1–22. doi:10.1353/ems.2005.0010. 
  • Nees, Lawrence (2002). Early Medieval Art. Oxford History of Art. Oxford, UK: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-284243-5. 
  • Nicolle, David (1999). Medieval Warfare Source Book: Warfare In Western Christendom. London: Brockhampton Press. ISBN 1-86019-889-9. 
  • Numbers, Ronald (11 tháng 5 năm 2006). “Myths and Truths in Science and Religion: A historical perspective”. Lecture archive. The Faraday Institute for Science and Religion. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2013. 
  • Payne, Robert (2000). The Dream and the Tomb: A History of the Crusades . New York: Cooper Square Press. ISBN 0-8154-1086-7. 
  • Peters, Ted (2005). “Science and Religion”. Trong Jones, Lindsay. Encyclopedia of Religion 12 . Detroit, MI: MacMillan Reference. tr. 8182. ISBN 978-0-02-865980-0. 
  • Power, Daniel (2006). The Central Middle Ages: Europe 950–1320. The Short Oxford History of Europe. Oxford, UK: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-925312-8. 
  • Reilly, Bernard F. (1993). The Medieval Spains. Cambridge Medieval Textbooks. Cambridge, UK: Cambridge University Press. ISBN 0-521-39741-3. 
  • Riley-Smith, Jonathan (1989). “Crusades”. Trong Loyn, H. R. The Middle Ages: A Concise Encyclopedia. London: Thames and Hudson. tr. 106–107. ISBN 0-500-27645-5. 
  • Rosenwein, Barbara H. (1982). Rhinoceros Bound: Cluny in the Tenth Century. Philadelphia, PA: University of Pennsylvania Press. ISBN 0-8122-7830-5. 
  • Russell, Jeffey Burton (1991). Inventing the Flat Earth-Columbus and Modern Historians. Westport, CT: Praeger. ISBN 0-275-95904-X. 
  • Saul, Nigel (2000). A Companion to Medieval England 1066–1485. Stroud, UK: Tempus. ISBN 0-7524-2969-8. 
  • Schove, D. Justin (1989). “Plague”. Trong Loyn, H. R. The Middle Ages: A Concise Encyclopedia. London: Thames and Hudson. tr. 267–269. ISBN 0-500-27645-5. 
  • Singman, Jeffrey L. (1999). Daily Life in Medieval Europe. Daily Life Through History. Westport, CT: Greenwood Press. ISBN 0-313-30273-1. 
  • Stalley, Roger (1999). Early Medieval Architecture. Oxford History of Art. Oxford, UK: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-284223-7. 
  • Tansey, Richard G.; Gardner, Helen Louise; De la Croix, Horst (1986). Gardner's Art Through the Ages . San Diego, CA: Harcourt Brace Jovanovich. ISBN 0-15-503763-3. 
  • Thomson, John A. F. (1998). The Western Church in the Middle Ages. London: Arnold. ISBN 0-340-60118-3. 
  • Vale, Malcolm (1998). “The Civilization of Courts and Cities in the North, 1200–1500”. Trong Holmes, George. The Oxford Illustrated History of Medieval Europe. Oxford, UK: Oxford University Press. tr. 297–351. ISBN 0-19-285220-5. 
  • Watts, John (2009). The Making of Polities: Europe, 1300–1500. Cambridge Medieval Textbooks. Cambridge, UK: Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-79664-4. 
  • Whitton, David (1998). “The Society of Northern Europe in the High Middle Ages, 900–1200”. Trong Holmes, George. The Oxford Illustrated History of Medieval Europe. Oxford, UK: Oxford University Press. tr. 115–174. ISBN 0-19-285220-5. 
  • Wickham, Chris (2009). The Inheritance of Rome: Illuminating the Dark Ages 400–1000. New York: Penguin Books. ISBN 978-0-14-311742-1. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]