Thủ Thừa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thủ Thừa là một huyện thuộc tỉnh Long An, cách thành phố Tân An 10 km về hướng bắc và cách Thành phố Hồ Chí Minh 45 km.

Dân số và lao động[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số trung bình năm 2002 là 86.595 người, mật độ dân số 290 người/km2, tương đương mức trung bình mật độ dân số của tỉnh Long An (294 người/km2). Dân số thành thị có 15.248 người (chiếm 17,6% dân số), dân số nông thôn 71.347 người (chiếm 82,4%), tốc độ tăng dân số bình quân 1,56%/năm (2002).

Nhân dân huyện Thủ Thừa có truyền thống cách mạng kiên cường, cần cù chịu khó lao động, song trình độ học vấn và chuyên môn thấp, tập trung chủ yếu ở nông thôn. Mật độ dân số bình quân 290 người/km2 (tỉnh Long An 294 người/km2). Từng bước ổn định đời sống dân cư, nhất là các xã vùng sâu bằng các biện pháp mở rộng sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng cụm và tuyến dân cư, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân.

Tổng số lao động toàn huyện năm 2002 la: 47.627 người; trong đó, nông - lâm nghiệp 35.800 người (chiếm 75,2%), công nghiệp - xây dựng 4.760 người (chiếm 10%) và thương mại - dịch vụ 5.867 người (chiếm 12,3%), lao động khác 1.200 người chiếm 2,5%. Như vậy, nguồn nhân lực tập trung chủ yếu cho nông - lâm nghiệp, việc chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành diễn ra chậm.

Nguồn nhân lực ở huyện Thủ Thừa có chất lượng thấp, đây là một nguyên nhân ảnh hưởng đến phát triển kinh tế vì nhân lực là nhân tố quan trọng hàng đầu của lực lượng sản xuất. Lao động có chuyên môn kỹ thuật (đã qua đào tạo) là 1.489 người (chiếm 3,1% lao động xã hội); trong đó, đại học và trên ĐH 325 người, cao đẳng 344 người, trung cấp 820 người. Nếu kể cả trình độ sơ cấp và công nhân kỹ thuật ước khoảng 2,6% thì tổng số lao động được đào tạo là 5,7%, chủ yếu ở khu vực quản lý nhà nước, giáo dục, y tế. Do vậy, đây là một hạn chế của Thủ Thừa.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Thủ Thừa có diện tích tự nhiên 29.901 ha, cách thành phố Tân An 10 Km và cách thành phố Hồ Chí Minh 45 km. Ranh giới hành chính huyện Thủ Thừa cụ thể như sau:

Biểu đồ gió huyện Đức Huệ Biểu đồ gió
huyện Thạnh Hóa B huyện Bến Lức
T    huyện Thủ Thừa    Đ
N
huyện Tân Phước thành phố Tân An huyện Tân Trụ
Enclave: {{{enclave}}}

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn huyện Thủ Thừa có 12 xã và 1 thị trấn.

  1. Bình An có 4 ấp.
  2. Bình Thạnh có 5 ấp.
  3. Long Thạnh có 4 ấp.
  4. Long Thành.
  5. Long Thuận có 4 ấp.
  6. Mỹ An có 4 ấp.
  7. Mỹ Lạc có 5 ấp.
  8. Mỹ Phú có 4 ấp.
  9. Mỹ Thạnh có 5 ấp.
  10. Nhị Thành có 7 ấp.
  11. Tân Lập.
  12. Tân Thành có 5 ấp.

Tài nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Đất đai[sửa | sửa mã nguồn]

Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 1/25.000 do Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường và khoa trồng trọt đại học Cần Thơ xây dựng cho thấy Thủ Thừa có 3 nhóm đất với 12 đơn vị chú giải bản đồ đất; trong đó, nhóm đất phù sa có 3.651 ha (chiếm 12,2% DTTN) và nhóm đất phèn tiềm tàng: 5.209 ha (chiếm 17,4% DTTN), nhóm đất phèn hoạt động 20.055 ha (chiếm 67,1% DTTN). Nhóm đất phù sa: Có 3 chú giải bản đồ, với diện tích 3.651 ha phân bố dọc theo sông Vàm Cỏ Tây, chủ yếu ở các xã Long Thuận, Long Thạnh. Thành phần cơ giới nặng, độ phì nhiêu khá, đây là loại đất thích hợp cho trồng 2 vụ lúa.

  • Nhóm đất phèn: (Là nhóm đất chính chiếm 84,5% DTTN toàn huyện).
  • Nhóm đất phèn có diện tích:25.264 ha, chiếm 84,5% DTTN. Đất phèn có trị số pH thấp và hàm lượng SO4-- cao (0,15 - 0,25%), đặc biệt là các ion Fe++ và Al+++ dễ gây độc hại cho cây trồng. Vấn đề sử dụng đất phèn trong sản xuất nông nghiệp ở Đồng Tháp Mười nói chung và huyện Thủ Thừa nói riêng phụ thuộc vào khả năng cung cấp nước ngọt trong mùa khô. Đất phèn phân bố ở hầu hết các xã phía Bắc kênh Thủ Thừa, đất có hàm lượng mùn cao, nếu giải quyết tốt vấn đề thủy lợi thì canh tác lúa đạt năng suất cao.

Đất đai của huyện Thủ Thừa xếp ở cấp ít thích nghi hoặc phải cải tạo mới thích nghi với 2 vụ lúa, 1 lúa -1 màu, lúa - đay, mía, đậu đỗ nên cây trồng sinh trưởng phát triển cho năng suất thấp hơn các vùng đất tốt (đất phù sa). Vì vậy, đây cũng là một hạn chế trong sản xuất nông nghiệp. Dưới đây là tổng hợp diện tích các loại đất theo nhóm trên địa bàn huyện:

Địa chất[sửa | sửa mã nguồn]

Đất đai của huyện Thủ Thừa hình thành từ hai loại trầm tích: (i) Trầm tích phù sa non trẻ Holocene và trầm tích cổ (ii) Pleistocene; trong đó chủ yếu là trầm tích phù sa non trẻ Holocene có chứa vật liệu sinh phèn.

Trầm tích Holocene bao phủ khoảng 82,9% DTTN của huyện, nó phủ trùm lên trầm tích phù sa cổ. Đặc trưng cơ bản của đơn vị trầm tích này là sự có mặt của Sulfidic, vật liệu chủ yếu hình thành đất phèn. Trầm tích không phân chia khoảng 4,5% DTTN.

Do vậy, khi xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng cần tính toán đầu tư đảm bảo độ ổn định bền vững.

Tài nguyên rừng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1995 có 478 ha rừng, trong đó hầu hết là tràm cừ. Đến năm 2002 diện tích rừng tăng lên 2.504 ha (tỷ lệ che phủ 10,6%) kể cả cây lâu năm, theo số liệu thống kê đất đai đến 1 tháng 10 năm 2003 diện tích rừng là 4.466 ha, trữ lượng khá.

Nguồn tài nguyên động vật dưới tán rừng đã dần được phục hồi, đây là thành quả đáng ghi nhận của chương trình 773/TTg và 661/TTg, đã góp phần sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên cũng như khôi phục hệ sinh thái vốn có của vùng đất phèn.

Khoáng sản[sửa | sửa mã nguồn]

Theo các tài liệu điều tra địa chất thổ nhưỡng, trên địa bàn huyện Thủ Thừa, chưa cho thấy có loại khoáng sản đặc trưng nào.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sự phát triển kinh tế-xã hội của Thủ Thừa gắn liền với quá trình khai thác đất hoang, di dân xây dựng vùng kinh tế mới của tỉnh.

Tên gọi Thủ Thừa xuất phát từ tên chợ, do ông Mai Tự Thừa lập nên. Ông là người có công đến đây mở làng lập chợ, do đó người dân dùng tên ông đặt cho tên đất. Thời Pháp, Thủ Thừa là quận của tỉnh Tân An được thành lập từ ngày 14-02-1922, có 4 tổng: An Ninh Thượng với 4 làng, Hưng Long với 9 làng, Cửu Cư Thượng với 7 làng, Cửu Cư Hạ với 6 làng.

Ngày 20-11-1952, quận còn 3 tổng: An Ninh Thượng với 4 làng, Cửu Cư Thượng với 8 làng, Hưng Long với 4 làng. Sau năm 1956, quận thuộc tỉnh Long An, gồm có 2 tổng: An Ninh Thượng với 5 xã, Cửu Cư Thượng với 4 xã.

Thời Pháp, Thủ Thừa là tên quận của tỉnh Tân An. Thời Việt Nam Cộng Hoà, Thủ Thừa là quận của tỉnh Long An, gồm 2 tổng, 9 xã, quận lị ở Bình Phong Thạnh. Dân số năm 1965 là 48.212 người.

Sau 30-04-1975, Thủ Thừa là huyện của tỉnh Long An.

Quyết định số 54-CP của Hội đồng Chính phủ[1] ngày 11 tháng 03 năm 1977, hợp nhất huyện Bến Lức và huyện Thủ Thừa thành một huyện lấy tên là huyện Bến Thủ thuộc tỉnh Long An.

Ngày 14-01-1983, Hội đồng Bộ trưởng Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 05-HĐBT[2], chia huyện Bến Thủ thành 2 huyện lấy tên là huyện Bến Lức và huyện Thủ Thừa. Huyện Thủ Thừa gồm các xã Tân Thành, Nhị Thành, Mỹ Lạc Thạnh, Bình Phong Thạnh, Long Ngãi Thuận, Mỹ An Phú, Thị Trấn Thủ Thừa. Trụ sở huyện đóng tại thị trấn Thủ Thừa. Điều chỉnh địa giới hành chánh huyện Thủ Thừa như sau: Chia xã Long Ngãi Thuận thành 2 xã lấy tên xã Long Thuận và xã Long Thạnh. Chia 2 xã Mỹ An Phú thành 2 xã lấy tên xã Mỹ An và xã Mỹ Phú. Chia xã Mỹ Lạc Thạnh thành 2 xã lấy tên xã Mỹ Lạc và xã Mỹ Thạnh. Chia xã Bình Phong Thạnh thành 2 xã lấy tên xã Bình Thạnh và xã Bình An

Ngày 15-05-2003, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 50/2003/NĐ-CP[3], điều chỉnh địa giới hành chính huyện như sau:

- Thành lập xã Long Thành thuộc huyện Thủ Thừa trên cơ sở 4.310,5 ha diện tích tự nhiên và 2.871 nhân khẩu của xã Long Thạnh.

- Thành lập xã Tân Lập thuộc huyện Thủ Thừa trên cơ sở 3.780 ha diện tích tự nhiên và 2.696 nhân khẩu của xã Tân Thành.

Sau khi điều chỉnh, huyện Thủ Thừa có thị trấn Thủ Thừa và 12 xã: Long Thành, Long Thạnh, Long Thuận, Tân Lập, Tân Thành, Mỹ Lạc, Mỹ Thạnh, Bình An, Mỹ An, Mỹ Phú, Bình Thạnh, Nhị Thành.

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu huyện Thủ Thừa mang tính chất đặc trưng nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ bình quân năm là 27,1oC, cao nhất vào tháng 4 với 28,5oC, thấp nhất vào tháng 1 với 25,3oC. Biên độ nhiệt trong năm dao động khoảng 3,3oC, biên độ nhiệt ngày và đêm dao động cao (từ 8oC đến 10oC). Lượng mưa trung bình năm khá lớn (1.532 mm/năm) và phân bố theo mùa rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu vào giữa tháng 5 và kết thúc vào cuối tháng 10, tập trung khoảng 85% tổng lượng mưa cả năm.

Nguồn nước[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn nước chính cung cấp cho Thủ Thừa là sông Vàm Cỏ Tây, đoạn chảy qua huyện dài 17,3 km, độ sâu trung bình 17 m, rộng trung bình 300 m. Sông Vàm Cỏ Tây được tiếp nước từ sông Tiền qua hệ thống kênh Hồng Ngự, Dương Văn Dương, lưu lượng mùa kiệt 93 m3/s, mùa lũ 580 m3/s, góp phần quan trọng trong việc cung cấp nước ngọt cho sản xuất nông nghiệp và nhu cầu sinh hoạt của người dân.

Sông ngòi[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài ra hệ thống kênh Thủ Thừa, kênh Bo Bo cũng là nguồn cung cấp nước quan trọng cho sản xuất và đời sống của người dân huyện. Hơn 75% diện tích ở phía Bắc bao gồm các xã: Long Thạnh, Long Thuận, Tân Thành, Mỹ Lạc, Mỹ Thạnh, Long Thành, Tân Lập nằm trong vùng trũng Đồng Tháp Mười, thường xuyên bị ngập lụt. Năm xã còn lại ở phía Nam ít bị ảnh hưởng của lũ.

Đất đai[sửa | sửa mã nguồn]

Đất đai bao gồm hai nhóm lớn là đất phù sa và đất phèn. Nhóm đất phù sa có diện tích 3.651 ha phân bố dọc theo sông Vàm Cỏ Tây, chủ yếu ở các xã Long Thuận, Long Thạnh; thành phần cơ giới nặng, độ phì nhiêu khá, thích hợp cho trồng 2 vụ lúa. Nhom đất phèn chiếm đến 84,5% diện tích đất tự nhiên; gây nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, nhất là cây lúa.

Giao thông - thủy lợi[sửa | sửa mã nguồn]

Thủ Thừa có Quốc lộ 1A, Quốc lộ 62 chạy qua, Tuyến Đường N2 và đường cao tốc đã được đầu tư xây dựng, là các trục giao thông vô cùng quan trọng trong xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng, mặt khác hệ thống giao thông thủy rất thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa với TP. Tân An và TP. Hồ Chí Minh.

Huyện cũng là nơi có con sông Vàm Cỏ Tây chảy qua theo hướng tây bắc - đông nam. Nguồn nước chính cung cấp cho Thủ Thừa là sông Vàm Cỏ Tây, bắt nguồn từ Campuchia chảy qua Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Thạnh Hóa rồi tới Thủ Thừa, đoạn chảy qua huyện dài 17,3 km, độ sâu trung bình 17m, rộng trung bình 300m. Sông Vàm Cỏ Tây được tiếp nước từ sông Tiền qua hệ thống kênh Hồng Ngự, Dương Văn Dương, lưu lượng mùa kiệt 93 m3/s, mùa lũ 580 m3/s, góp phần quan trọng trong việc cung cấp nước ngọt cho sản xuất nông nghiệp và nhu cầu sinh hoạt của người dân. Ngoài ra hệ thống kênh Thủ Thừa, kênh Bo Bo cũng là nguồn cung cấp nước quan trọng cho sản xuất và đời sống của người dân huyện Thủ Thừa.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.thuvienphapluat.vn/archive/Quyet-dinh/Quyet-dinh-54-CP-hop-nhat-mot-so-huyen-thuoc-tinh-Long-An-vb17695t17.aspx Quyết định hợp nhất một số huyện thuộc tỉnh Long An
  2. ^ http://www.thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Quyet-dinh-05-HDBT-phan-vach-dia-gioi-huyen-xa-thi-xa-tinh-Long-An/23193/noi-dung.aspx Quyết định huyện Bến Thủ thành 2 huyện lấy tên là huyện Bến Lức và huyện Thủ thừa
  3. ^ http://www.thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-dinh/Nghi-dinh-50-2003-ND-CP-thanh-lap-xa-thuoc-huyen-Tan-Hung-Thanh-Hoa-Duc-Hue-va-Thu-Thua-tinh-Long-An-vb6610t11.aspx Nghị định số 50/2003/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập xã thuộc các huyện Tân Hưng, Thạnh Hoá, Đức Huệ và Thủ Thừa, tỉnh Long An