Thủ công nghiệp Việt Nam thời Lý

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thủ công nghiệp Việt Nam thời Lý có hai loại hình là thủ công nghiệp trong nhân dân và do triều đình tổ chức. Các ngành nghề gồm các ngành dệt, làm gốm, đúc đồng và khai thác vàng.

Thủ công nghiệp nhà nước[sửa | sửa mã nguồn]

Những người thợ thủ công lao động cho triều đình gọi là thợ bách tác. Sản phẩm họ làm ra để phục vụ hoàng cung. Họ thực hiện việc đúc tiền, chế tạo binh khí, chiến thuyền và các đồ tơ lụa, quần áo cho vua quan.

Nguồn gốc thợ bách tác chủ yếu từ các tù binh, nhiều nhất là người Chiêm Thành, các tội nhân và các thợ thủ công được trưng tập về làm cho các quan xưởng. Triều đình có lệnh cấm các thợ bách tác không được làm đồ dùng kiểu của vua quan để bán cho dân gian[1].

Thủ công nghiệp nhân dân[sửa | sửa mã nguồn]

Người dân làm đồ thủ công nhằm phục vụ đời sống thường nhật hoặc để bán ở chợ theo nhu cầu thị trường. Thời Lý đã xuất hiện việc thuê mướn nhân công[1].

Nhìn chung, thủ công nghiệp thời Lý là bộ phận kết hợp với nông nghiệp, được làm trong các hộ gia đình, chủ yếu đáp ứng nhu cầu của sản xuất tiểu nông.

Các ngành nghề[sửa | sửa mã nguồn]

Dệt[sửa | sửa mã nguồn]

Nghề dệt tơ lụa khá phổ biến trong nhân dân, có nguồn thu khá lớn. Năm 1013, Lý Thái Tổ đặt ra việc thu thuế bãi dâu trong cả nước. Nghi Tàm là một trong những làng cổ có nghề dệt lụa tơ tằm phát đạt với bà tổ nghề là công chúa Quỳnh Hoa, con vua Lý Thái Tông.

Năm 1040, Lý Thái Tông dạy cho các cung nữ dệt gấm vóc trong cung, đồng thời lấy hết gấm vóc mua từ Trung Quốc trong kho ra phát hết cho các quan may áo để tỏ ý từ đó không dùng hàng gấm vóc nước Tống nữa[2] nhằm thúc đẩy sản xuất trong nước. Sau này chủ trương khuyến khích nghề dệt trong nước tiếp tục được thực hiện, hàng gấm vóc trong nước có chất lượng tốt và dùng phổ biến, thậm chí dùng làm cống phẩm cho nhà Tống[3].

Đất nung và gốm sứ[sửa | sửa mã nguồn]

Gạch lát nền thời Lý

Gạch, ngói được sản xuất với số lượng lớn để phục vụ cho việc xây thành quách và chùa chiền, bảo tháp. Gạch thời Lý có kích thước lớn, nhiều hình dạng phong phú. Có loại vuông 35 cm x 35 cm x 6 cm, có loại hình tròn hay chữ nhật đường kính 25 cm. Hoa văn chủ yếu lá rồng, tượng Phật, hoa sen, hoa cúc.

Gốm đàn gồm các sản phẩm thạp, thố, chậu, bát, đĩa,… có xương rắn chắc, lớp men màu xanh mát, trong bóng như thủy tinh, gọi là gốm men ngọc. Các sản phẩm này có hoa văn nổi hoặc chìm, khá tỉ mỉ. Một số loại khác có hoa văn màu nâu hoặc nền nâu hoa trắng.

Khai thác vàng[sửa | sửa mã nguồn]

Hình thức khai thác chủ yếu là đãi vàng lộ thiên[4], nhất là ở vùng biên giới với Trung Quốc.

Triều đình đã cử các tướng mang quân lên những vùng có vàng thực hiện khai thác vàng; trong quá trình khai thác, người Việt đã mướn người Tống ở bên kia biên giới sang làm thuê[4].

Đúc đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng được sử dụng khá rộng rãi: đúc tượng, chuông, tiền, vũ khí và làm đồ dùng sinh hoạt. Sử sách ghi lại nhiều lần triều đình đã huy động lượng đồng lớn để đúc chuông: Lý Thái Tông cho phát 6000 cân đồng đúc chuông chùa Trùng Quang[5], sau đó phát 7560 cân đồng đúc tượng Phật Di Lặc và 2 vị Bồ tát; Lý Thánh Tông phát 12000 cân đồng đúc chuông chùa Sùng Khánh...

Theo ghi chép của Đại Việt sử lược, triều đình đã tổ chức việc khai thác mỏ đồng ở Lạng châu năm 1198.

Ngành nghề khác[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài các ngành nghề trên, thời Lý đã xuất hiện những ngành nghề thủ công khác như in khắc gỗ, xây dựng, làm bia đá, nghề mộc, làm đồ mỹ nghệ, điêu khắc cũng phát triển bước đầu, do nhu cầu xây cất và trang trí các công trình kiến trúc như cung điện và chùa chiền khi đó.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 143
  2. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 2
  3. ^ Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 144
  4. ^ a ă Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 145
  5. ^ Tại Tiên Du, Bắc Ninh