Thanh Hải Vô Thượng Sư

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thanh Hải (Ching Hai 清海)

Thanh Hải Vô Thượng Sư (Supreme Master Ching Hai)
Sinh Trịnh Đăng Huệ
12 tháng 5, 1950 (63 tuổi)
Quảng Ngãi, Việt Nam
Nơi cư trú Pháp[cần dẫn nguồn]
Nổi tiếng vì sáng lập Quán Âm Pháp môn

Thanh Hải Vô Thượng Sư (tiếng Anh: Master Supreme Ching Hai, tiếng Trung Quốc: 清海無上師) người sáng lập Quán Âm Pháp môn (觀音法門, hay còn gọi là Đạo bà Thanh Hải), một đạo giáo hoạt động tại hải ngoại. Đạo giáo của bà bị chính quyền Việt Nam xem là tà đạo[1]. Bà là người Việt quốc tịch Pháp.[cần dẫn nguồn]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh Hải tên thật là Trịnh Đăng Huệ [2] (có tài liệu ghi là Đặng Thị Trinh) [1] (sinh ngày 12 tháng 5 năm 1950) tại Đức Phổ, Quảng Ngãi, Việt Nam[2]. Khi học tới lớp 11 vào năm 19 tuổi thì bà rời Việt Nam đi qua Anh (có tài liệu nói 22 tuổi), rồi qua Pháp, qua Đức. Trong thời gian ở Tây Đức, bà làm nghề thông dịch viên cho Hội Hồng Thập Tự và lập gia đình với một bác sĩ y khoa người Đức[2].

Ở Đức, bà thọ Tam Quy Ngũ Giới với thầy Thích Như Điển, với pháp danh là Thị Nguyện. Sau đó bà qua Ấn Độ xuất gia, trước tiên là với các vị Lạt ma Tây Tạng, sau theo học với một người Ấn Độ đạo Sikh tên là Jampa Ghesbe Ngawang Dargey và người kế tiếp là Thakar Singh, một giáo sĩ thuộc dòng Surat Shabd Yoga (Sant Mat) và chính vị này đã truyền pháp “Thanh Sắc Quang Ảnh” (Light and Sound Meditation) cho bà.

Sant Mat có chung hệ truyền thừa với Đạo Sikhism. Khi vào Việt Nam (đầu thập niên 80), Sant Mat ngụy trang dưới hình thức Đạo Phật Đại thừa (Pháp môn quán âm). Sau khi đã cũng cố cơ sở vững chắc và rộng lớn, Sant Mat dần dần công khai lộ diện nguồn gốc thật của mình.

Năm 1983 Thanh Hải đến Đài Loan thọ giới Tỳ Kheo Ni tại một Đại Giới Đàn ở Đài Bắc thuộc Giáo Hội Phật Giáo Đài Loan. Trong thời gian trước khi thọ giới, Thị Nguyện được gởi đến Linh Sơn Phật Học Viện tại Đài Bắc của thầy Thích Tịnh Hạnh để tá túc học tập vì Thị Nguyện là người Việt Nam. Nơi đây thầy Tịnh Hạnh ban cho pháp hiệu là Thanh Hải[2].

Hành đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh Hải được cho là người thông minh, đoán biết tâm linh của người Trung Hoa và cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài cũng như các nước Tây phương, có nhiều cơ hội hấp dẫn để truyền đạo cũng như tạo danh và lợi riêng, nên giống như Osho, bà đưa ra một luận điểm nhiều hấp dẫn với những người trong đạo và ngoài đạo Phật muốn giác ngộ tức thời, muốn mau kiến tánh thành Phật. Đó là những lời hứa hẹn “tức khắc khai ngộ một đời giải thoát” bằng một lối tu giản dị mà Thanh Hải đã mang về từ Ấn Độ.

Trong thời gian ở Đài Loan Thanh Hải mang danh một Sư cô Phật giáo mặc áo vàng, đầu trọc, chống gậy tích trượng, tự nhận là Phật hiện tiền đi giảng đạo (Surat Shabd Yoga) nhưng mang nhãn hiệu Phật Giáo “Pháp Quán Âm” và truyền tâm ấn. Thanh Hải cũng độ cho người nam xuất gia thọ Tỳ Kheo giới làm đệ tử của mình. Những việc này đã tạo sự bất bình sâu rộng trong Giáo Hội Phật giáo Đài Loan và cộng đồng Phật tử ở đảo quốc này thời bấy giờ.

Sau đó Thanh Hải sang Hoa Kỳ đặt bản doanh tại thành phố El Monte ở miền Nam California và đi thuyết giảng khắp vùng đông dân cư Việt Nam, rồi đi Boston, New York, Washington DC…. Bà được báo chí Tây phương gọi là nhà doanh thương tài, nhà tiếp thị giỏi và gọi là “Part Buddha, Part Madonna”[2].

Nguồn tài chính thu nhập chủ yếu là buôn bán vật phẩm như: băng đĩa, sách báo, quà lưu niệm, trang sức, quần áo, tranh ảnh, vật dụng cá nhân... Mà các đệ tử cho rằng có lực lượng gia trì của Thiên Đàng trong ấy. Mỗi phẩm vật ấy đều được quy ra cho điểm, gọi là điểm tâm linh tùy theo giá niêm yết (giá cả niêm yết thường cao hơn rất nhiều giá trị vật chất). Theo Thanh Hải Vô Thượng Sư muốn thành Phật thì phải tích lũy điểm tâm linh này, điểm tâm linh có bù trù lẫn nhau tùy theo việc làm xấu và thiện. Từ thành công thu nhập nguồn tài chính to lớn, Thanh Hải Vô Thượng Sư xây dựng hệ thống truyền đạo như truyền hình vệ tinh, internet. Có cả hệ thống sản xuất thực phẩm chay mang sắc thái truyền đạo (như các nhà hàng chay Loving Hunt), khuyến khích ăn chay tinh khiết. Quay dựng các bộ phim ca nhạc, ngâm thơ, họp mặt giao lưu các đồng tu khắp nơi trên thế giới... Thường tổ chức các cuộc tập trung cộng tu ngồi thiền như Pháp, Thái Lan, Đài Loan... với uy mô khá lớn nhiều tốn kém. Do việc huy động tài chính to lớn như vậy đã gây các mâu thuẫn xung đột ở gia đình một số đệ tử: ly thân, ly hôn, tài sản tiêu tán...

Do tự miêu tả mình là Phật, nhưng Thanh Hải có một số hoạt động kỳ lạ trong đời sống cá nhân, như việc tái giá với một người Khmer tên Hansen vào năm 1997. Đám cưới của Thanh Hải Vô Thượng Sư.

Quán Âm Pháp môn[sửa | sửa mã nguồn]

Theo một nhà nghiên cứu tôn giáo phương Đông cho biết lối tu Quán Âm của Thanh Hải không phải xuất xứ từ đạo Phật, càng không phải là pháp môn Nhĩ Căn Viên Thông của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát mà chính là pháp thiền Yoga của phái Sant Mat hay còn có tên gọi khác là Surat Shabd Yoga và vị Thầy truyền cho Thanh Hải là Sant Thakar Singh (26/3/1929 – 6/3/2005), được biết đến với cái tên là Sant Mat Master. Ông đã truyền phương pháp ấn tâm, năm câu chú hay năm danh hiệu God, và pháp tu “Thanh Sắc Quang Ảnh” (Ánh sáng và Âm Thanh) cho đệ tử Thanh Hải trước khi rời Ấn Độ. Điều này được xác nhận bởi Hoà Thượng Tiến Sĩ Thích Tịnh Hạnh, Viện Trưởng Học Viện Phật Giáo Trung Hoa Dân Quốc. Trong thời kỳ ban đầu truyền đạo, Thanh Hải đã thừa nhận Thakar Singh là Sư Phụ, nhưng sau đó đã phủ nhận. Trong các lễ Hiến máu mừng sinh nhật cô, các đệ tử được cô cho biết cô được Đại Minh sư Khuda Ji đã chờ cô 450 năm tại Hy Mã Lạp Sơn để truyền điển lực và phép thiền “Quán Tưởng Âm Thanh và Ánh sáng Thiên đường”. Thanh Hải cho biết cô là đệ tử đầu tiên cũng là duy nhất của Đại Sư Khuda Ji. Cô đã từng tu pháp thiền nầy trước đó, nhưng Đại Sư Khuda Ji chính là người truyền đạt cho cô nguồn tâm linh cuối cùng, đó là bí quyết của việc Truyền Tâm Ấn hay Rửa Tội Bằng Đức Thánh Linh. Chỉ có một số rất ít các Đại Sư, những người đã đạt được sự Tối Thượng Thừa mới có thể truyền Tâm Ấn. Đại Sư Khuda Ji đã rời thế giới vật chất không lâu sau khi hoàn tất sứ mệnh thiêng liêng và giao phó công việc lại cho Thanh Hải.

Phương pháp tu này do một đệ tử của Thanh Hải kể chi tiết cách thực hành như sau: Đầu tiên người truyền dạy Pháp Môn Quán Âm dặn dò bạn không được phép truyền dạy cho người khác. Chỉ có Minh sư (Thanh Hải) hoặc những người làm sứ giả cho Minh sư thì mới được truyền pháp và điển lực “Tâm ấn” là của Minh sư chứ không phải của người dạy.

Trước khi được ghi danh để trở thành đệ tử của đạo Thanh Hải thường thì bạn được cho một cuốn “Sách biếu” giới thiệu về Thanh Hải và Pháp Môn Quán Âm. Hoặc được người thân, bạn bè cho xem, nghe các băng đĩa hoặc đọc sách báo về đạo Thanh Hải để bạn tin. Sau đó bạn sẽ được dạy pháp thiền “Phương tiện”, mỗi ngày hành thiền nữa tiếng đồng hồ và ăn chay trường, cho đến khi nào người liên lạc viên ở tỉnh mà bạn đang sống báo cho biết thời gian và địa điểm để được truyền “Tâm ấn” chính thức làm đệ tử Thanh Hải.

Pháp thiền “Phương tiện”[sửa | sửa mã nguồn]

Bạn ngồi với bất kỳ tư thế nào cảm thấy thoải mái, nhắm mắt lại và tập trung vào giữa trán mà Thanh Hải gọi là “Mắt trí Huệ” và phóng tầm nhìn vào một điểm cố định như một màn hình trước mặt. Mật niệm chậm rãi tên các vị Phật, vị Thánh nào mà bạn yêu thích. Nhưng người ta khuyến khích bạn niệm: “Nam mô Thanh Hải Vô Thượng sư” thì sẽ tốt hơn cả. Trong quá trình thiền bạn có thể thấy các điểm sáng, ánh sáng ngôi sao, bóng đèn điện.. và có thể thấy các hình ảnh lạ như ma, quỷ, Phật, Chúa… nên bạn phải làm theo các hướng dẫn sau gọi là “Bản đồ”: Nếu gặp cảnh đáng sợ thì bạn niệm Phật, Chúa hoặc “Nam Mô Thanh Hải Vô Thượng Sư” để được cứu giúp. Nếu gặp các vị Phật, Chúa, Bồ Tát, Thánh, Thần.. thì có thể đàm đạo, hỏi chuyện họ nhưng phải phân biệt thật giả trước khi giao tiếp và đặc biệt là không được bái lạy hay cầu xin họ điều gì cả. Cách phân biệt là hỏi tên họ, nếu họ trả lời là thật còn không là giả, hoặc nhìn vào đôi mắt họ có màu đen, hiền hoà là thật còn màu đỏ dữ dằn là giả khi đó phải niệm “Nam Mô Thanh Hải Vô Thượng Sư” để được giúp đỡ.

Để được truyền bí pháp bạn phải cam kết ăn chay trường và giữ 5 giới nhà Phật và ngồi thiền ít nhất mỗi ngày 2 tiếng rưỡi. Đồng thời nên đi “Cộng tu”; ngồi thiền chung với đồng tu.

Pháp Môn Quán Âm mà Thanh Hải bí truyền có hai phần được thực hiện như sau:

Phần 1: Quán ánh sáng.[sửa | sửa mã nguồn]

Thiền quán ánh sáng, tương tự như thiền “Phương tiện” đã giới thiệu ở trên, nhưng thay vì niệm Phật, Chúa,.. thì bây giờ bạn phải niệm tên 5 vị Phật hay Chúa hay Thần.. tuỳ theo bạn đang tin tín ngưỡng nào thì người truyền “Tâm ấn” sẽ nói với bạn như thế để bạn tin theo. Đạo Thanh Hải cho rằng quá trình thiền bạn sẽ nhìn thấy những vùng sáng lung tung, vô định nhưng nếu đạt được định lực thì có thể thấy ánh sáng của 5 cảnh giới từ thấp đến cao như sau:

Cảnh giới thứ 1 thấy ánh sáng của một tòa tháp hoa sen ngàn cánh màu đỏ nhưng sáng gấp 10 lần mặt trời buổi ban trưa.

Cảnh giới thứ 2 thấy ánh sáng của mặt trời nhưng cường độ gấp 100 lần mặt trời buổi ban trưa.

Cảnh giới thứ 3 thấy ánh sáng của Mặt Trăng nhưng cường độ gấp 1.000 lần mặt trời buổi ban trưa.

Cảnh giới thứ 4 thấy cả một vùng đen tối vì nó là cảnh giới ngăn cách giữa vũ trụ, Phật, Trời, chư Thiên với quê hương của Minh sư. Lúc này có thể thỉnh thoảng thấy có những ánh sáng loé lên đó chính là linh hồn của mình, khi đó 1 sợi tóc của mình sáng gấp 10 ngàn lần ánh sáng mặt trời buổi ban trưa.

Cảnh giới thứ 5 là thấy ánh sáng rực rỡ bằng hàng ngàn hàng triệu lần sức sáng của mặt trời buổi ban trưa. Vì đây là quê hương của các vị Minh sư, lúc này là bạn đã đắc đạo và ở đẳng cấp cao nhất có thể truyền đạo. Nếu ai vào được cảnh giới thứ 2 thôi đã có biện tài vô ngại, có thần thông, có thể chữa khỏi mọi bệnh tật nhưng không nên dùng vì cần phải tu đến cảnh giới thứ 5.

Phần 2: Quán âm thanh.[sửa | sửa mã nguồn]

Người truyền pháp của đạo Thanh Hải dạy cho bạn có 3 đến 4 tư thế ngồi, hoặc là ngồi chòm hổm hoặc là ngồi xếp bằng hoặc là ngồi xổm hoặc ngồi chống hai cùi chỏ lên bàn làm sao đó cốt để tiện dùng 2 ngón tay cái bịt kín hai lỗ tai, các ngón còn lại vịn vào trán và có chỗ để kê 2 cùi chỏ cho đỡ mỏi. Sau đó không mật niệm nữa mà lắng tai nghe những âm thanh lạ. Họ khuyến cáo bạn nên lưu ý nghe âm thanh đến từ bên tai phải, từ phía trước mặt hoặc từ đỉnh đầu. Âm thanh đến từ đỉnh đầu là cấp cao nhất. Họ bảo bạn không nên nghe âm thanh đến từ tai trái và phía sau lưng. Họ lý giải đó là âm thanh của ma, quỷ.. Nếu bạn nghe nhiều âm thanh bên tai trái thì nới lỏng bớt tay trái ra một chút. Khi quán âm cũng có 5 loại âm thanh có các đẳng cấp từ thấp đến cao như sau:

Cảnh giới thứ 1 ở đỉnh cao là nghe được âm thanh như tiếng leng keng của người bán cà rem hay tiếng chuông gió.

Cảnh giới thứ 2 nghe âm thanh cao nhất là tiếng sóng vỗ họ gọi là “hải triều âm” hoặc tiếng chuông chùa, chuông nhà thờ.

Cảnh giới thứ 3 nghe âm thanh cao nhất là tiếng đàn thụ cầm.

Cảnh giới thứ 4 nghe âm thanh cao nhất là tiếng sáo.

Cảnh giới thứ 5 nghe âm thanh cao nhất là tiếng kèn của người Tô Cách Lan hay tiếng kèn đám ma.

Đẳng cấp của các âm thanh kết hợp với hướng nghe theo thứ tự tăng dần từ tai phải, phía trước mặt và trên đỉnh đầu. Nghĩa là khi quán âm nếu nghe tiếng kèn đám ma trên đỉnh đầu tức là đạt đạo cao nhất, trở thành Minh sư rồi đó. Nhưng nếu trong khi quán âm mà thấy khó chịu thì nhớ niệm “Nam Mô Thanh Hải Vô Thượng Sư” để được sư phụ Thanh Hải giúp đỡ.

Điều lưu ý cuối cùng là khi thiền nhớ chia tỉ lệ quán quang 2/5 và quán âm 3/5. Nếu có ngồi nhiều hơn cũng nhớ chia theo tỉ lệ đó. Và nhớ trước khi quán âm phải quán quang ít nhất 5 đến 10 phút; có lẽ mục đích là để kêu gọi 5 vị ấy hộ niệm.

Năm vị hộ niệm này được truyền trao qua miệng, cấm tín đồ truyền bá ra ngoài. Gọi là năm Hồng Danh. Được gọi là 5 vị Phật Giáo Chủ của 5 cõi, theo chủ thuyết Thiền Sư Thanh Hải. Tuy nhiên theo thiền sư Thanh Hải thì năm vị này chính là âm lưu của các cảnh giới đó.

Theo tài liệu: SuratShabd Yoga và theo lời của một số đệ tử đã từ bỏ đạo Thanh Hải thì tên gọi 5 hồng danh này là: ...Jot Nirinjan... OngKar... Rarankar... SoHang...SatNaam. Từ căn cứ rõ ràng như thế qua cách hành trì ( từ tài liệu thiền SuratShabd), có thể xác định Pháp môn quán âm do bà Thanh Hải không liên quan đến Phật Giáo, mà bắt nguồn từ đạo Sikh - Ấn Độ. Còn Pháp môn Quán Âm theo cách gọi của bà Thanh Hải lại liên quan mật thiết với dòng thiền SuratShabd Yoga của đạo Sikh.

Chỉ trích[sửa | sửa mã nguồn]

Chính quyền Đài Loan đã niêm phong và tiến hành kiểm tra một số cơ sở của Thanh Hải vô thượng sư vì không có giấy phép.[3]

Chính quyền Việt Nam gọi đây là tà đạo Thanh Hải Vô Thượng Sư và đã ra lệnh cấm đạo này truyền đạo tại Việt Nam và bà Thanh Hải cũng không được phép đặt chân vào lãnh thổ Việt Nam.

Giáo hội Phật giáo Đài LoanGiáo hội Phật giáo Việt Nam, cũng như nhiều vị cao tăng Phật giáo ở cả hai nước đã lên tiếng chỉ trích Thanh Hải và đạo của bà.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]