Thanh Liêm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thanh Liêm
Địa lý
Huyện lỵ {{{Huyện lỵ}}}
Vị trí: nam Hà Nam
Diện tích: 175,019 km²
Số xã, thị trấn: 16 xã, 1 thị trấn
Dân số
Số dân: trên 140.000
Mật độ: người/km²
Thành phần dân tộc: Người Việt
Hành chính
Chủ tịch Hội đồng nhân dân:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân: Nguyễn Đức Hiển
Bí thư Huyện ủy:
Thông tin khác
Điện thoại trụ sở: (84) (0)
Số fax trụ sở: (84) (0)
Website: http://www.hanam.gov.vn


Thanh Liêmhuyện cực Nam của tỉnh Hà Nam, Việt Nam.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh Liêm là huyện đồng bằng thấp trong lưu vực sông Đáy, thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Con sông Đáy, thuộc hệ thống sông Hồng, chảy cắt ngang qua địa bàn huyện, gần như theo hướng Bắc Nam, từ thành phố Phủ Lý đến ngã ba ranh giới của huyện (đồng thời là của tỉnh Hà Nam) với hai tỉnh Ninh Bình, Nam Định.

Huyện Thanh Liêm có ranh giới phía Đông giáp huyện Bình Lục, phía Đông Bắc giáp huyện Duy Tiên, phía Bắc giáp thành phố Phủ Lý, phía Tây Bắc giáp huyện Kim Bảng. Phía Tây giáp huyện Lạc Thủy của tỉnh Hòa Bình. Trên ranh giới phía tây của huyện có điểm ngã ba ranh giới của tỉnh Hà Nam với hai tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình. Phía Tây Nam giáp huyện Gia Viễn của tỉnh Ninh Bình. Phía Đông Nam giáp huyện Ý Yên của tỉnh Nam Định. Tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 17.501,94 ha, trong đó đất nông nghiệp 9.200,95 ha chiếm 53%, đất lâm nghiệp chiếm 26%, đất chuyên dùng chiếm 12,2%, đất khu dân cư chiếm 4,2%, còn lại là đất chưa sử dụng. Đất vùng đồng bằng được hình thành từ phù sa sông Hồngsông Đáy, thích hợp với việc trồng lúahoa màu. Vùng đồi núi chủ yếu là đất nâu vàng và đất màu, thích hợp cho phát triển cây lấy gỗ, cây ăn quả và cây công nghiệp.

Huyện có nguồn đá vôi với trữ lượng hàng tỷ m3, tập trung chủ yếu ở 5 xã tây Đáy, trong đó có Thanh Nghị và thị trấn Kiện Khê. Ngoài ra còn có mỏ sét ở xã Liêm Sơn, Thanh Tâm, Thanh Lưu trữ lượng hàng triệu m3 dùng làm chất liệu phụ gia cho sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh và khu vực lân cận cùng với mỏ đá trắng cung cấp cho ngành công nghiệp hóa chất.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Thanh Liêm có 1 thị trấn Kiện Khê (phía Tây Bắc huyện, bên bờ sông Đáy) và các xã:

  1. Thanh Hà (huyện lỵ)
  2. Thanh Bình
  3. Thanh Phong
  4. Thanh Thủy
  5. Thanh Tân
  6. Thanh Hương
  7. Thanh Nghị
  8. Thanh Hải
  9. Thanh Nguyên
  10. Thanh Tâm
  11. Thanh Lưu
  12. Liêm Sơn
  13. Liêm Túc
  14. Liêm Thuận
  15. Liêm Cần
  16. Liêm Phong [1]

Năm 1982, các xã Thanh Châu và Liêm Chính được sáp nhập vào thị xã Phú Lý.

Năm 1984, chia xã Thanh Tuyền thành xã Thanh Tuyền và thị trấn Kiện Khê.

Năm 2000, xã Liêm Chung được sáp nhập vào thị xã Phú Lý.

Năm 2013, một phần diện tích và dân số của huyện Thanh Liêm gồm 1.359,30 ha diện tích tự nhiên và 16.154 người (toàn bộ các xã Liêm Tuyền, Liêm Tiết; 458,31 ha diện tích tự nhiên và toàn bộ 7.478 người của xã Thanh Tuyền) được điều chỉnh về thành phố Phủ Lý.[2].

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đường bộ:Tổng chiều dài đường bộ của huyện là 921,1 km, trong đó có 2 tuyến quốc lộ dài 20 km. Tỉnh lộ có 6 tuyến với chiều dài 46,4 km, đường huyện có 8 tuyến dài 55,7 km và đường giao thông nông thôn dài 799 km. Đường sắt Bắc Nam đi qua 3 xã của huyện là Liêm Tiết, Liêm Cần, Liêm Phong với chiều dài 5 km.

Thông tin liên lạc[sửa | sửa mã nguồn]

Bưu chính - viễn thông phát triển với tốc độ cao, mạng viễn thông được trang bị 3 trạm chuyển mạch với dung lượng 4.700 số, đảm bảo thông lin chất lượng cao. Năm 2003, huyện có 4.180 máy điện thoại, đạt tỷ lệ 3 máy/100 dân. 100% số thôn trong huyệnđiện thoại. 20/20 xã, thị trấn trong huyện có đài truyền thanh, đảm bảo 100% số dân được nghe đài truyền thanh bốn cấp.

Kinh tế xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2003 giá trị GDP đạt 389,3 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện đạt 7,27%, cơ cấu kinh tế nông-lâm-thủy sản là 42%, công nghiệp-xây dựng 29%, dịch vụ: 29%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp-xây dựng, giảm nông-lâm-thủy sản. Hàng năm có 1.732 người lao động được giải quyết việc làm, tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chí mới) giảm từ 21,52% năm 2001 xuống còn 14,2% năm 2003. Toàn huyện có 20 trường học mầm non, 24 trường tiểu học, 22 trường trung học cơ sở và 3 trường trung học phổ thông, 1 trường trung học phổ thông dân lập, 20 trung tâm học tập cộng đồng, 20 trạm y tế xã đã được kiên cố hóa và có bác sỹ phục vụ. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn 27%.

Ngành kinh tế công nghiệptiểu thủ công nghiệp: Năm 2003, giá trị sản xuất toàn ngành đạt 142,9 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng hàng năm là 12-15%. Huyện có 2.104 cơ sở sản xuất công nghiệp, trong đó có 4 cơ sở nhà nước. Các sản phẩm chủ yếu là đá, gạch ngói nung, vôi củ, gạo xay xát, thêu ren... Sản lượng khai thác chế biến đá năm 2003 đạt xấp xỉ 700.000 m3. Hai nhà máy xi măng Kiện Khê và Việt Trung cho sản lượng 500.000 tấn mỗi năm. Các cơ sở thêu ren xuất khẩu đạt sản lượng 60.000 bộ năm, thu hút nhiều lao động trên địa bàn.

Nông lâm-thủy sản: Tổng sản lượng lượng thực có hạt năm 2003 của huyện đạt 77.835 tấn, năng suất bình quân 106 tạ/ha, lương thực bình quân đầu người đạt từ 585 kg/năm. Huyện thực hiện chuyển đổi diện tích cấy một vụ bấp bênh, năng suất thấp, không ổn địnhdiện tích ao, hồ, đầm sang nuôi trồng thủy sản kết hợp cấy lúa, trồng cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Năm 2003, diện tích chuyển dịch đạt 514 ha. Phong trào sản xuất vụ đông được duy trì trên cả diện tích đất chân hai lúa. Sản xuất vụ đông góp phần đảm bảo an ninh lương thực, tăng thu nhập cho nông dân, giảm tỷ lệ hộ nghèo trong nông thôn. Chăn nuôi phát triển và duy trì đàn gia súc, gia cầm theo mô hình trang trại quy mô lớn. Những năm gần đây, chăn nuôi có xu hướng tăng về tỷ trọng trong cơ cấu nông nghiệp, năm 2003 đạt 29,5%. Số lượng các đàn trâu, , gia cầmdiện tích nuôi thủy sản liên tục tăng qua các năm, chú trọng vào các loại , , trâu, lợn. Gia cầm, cá chim trắng, tôm cành xanh, bò sữa...

Thương mại-dịch vụ-du lịch: Tổng mức bán lẻ hàng hóadịch vụ trên địa bàn năm 2003 đạt 325,6 tỷ. Toàn huyện có 1.055 người kinh doanh thương mạidịch vụ cá thể.

Đầu tư phát triển: Tổng mức vốn được huy động trên địa bàn năm 2003 là 152 tỷ đồng, trong đó vốn của dân và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 57%, doanh nghiệp nhà nước 38% và vốn ngân sách 5%.

Địa danh[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân kiệt[sửa | sửa mã nguồn]

Mộ của vua Lê Hoàn được đặt tại ngọn núi (Bảo Thái) thuộc xã Liêm Cần.

Đinh Công Tráng là lãnh tụ của khởi nghĩa Ba Đình và nghĩa quân Ba Đình. Quảng trường Ba Đình ngày nay lấy tên từ cuộc khởi nghĩa này. Đinh Công Tráng là người sinh ra và lớn lên tại xã Thanh Tân.

Các sự kiện trên được cung cấp và chứng minh bởi bản chép tay (bằng chữ Nôm) Hoàn Vương Ca Tích (bút tích của cụ lang Nguyễn Tiến Đắc, thân sinh của cụ Nguyễn Văn Điềm, người đang lưu giữ).

Võ vật cổ truyền Liễu Đôi.

Truyền thuyết chàng trai họ Đoàn.

Hội chùa Tiên.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hà Nam, tr 34_Tập bản đồ hành chính 63 tỉnh, thành phố Việt Nam_Nhà xuất bản Tài nguyên Môi trường và Bản đồ Việt Nam
  2. ^ Nghị quyết 89/NQ-CP ngày 23 tháng 07 năm 2013 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính các huyện Duy Tiên, Bình Lục, Thanh Liêm, Kim Bảng để mở rộng thành phố Phủ Lý và thành lập phường thuộc thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam.



Việt Nam Các đơn vị hành chính cấp huyện thị trực thuộc tỉnh Hà Nam, Việt Nam
Thành phố (1): Phủ Lý (tỉnh lị)
Huyện (5): Bình Lục | Duy Tiên | Kim Bảng | Lý Nhân | Thanh Liêm