The Red Tour

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
The Red Tour
World tour của Taylor Swift
Album Red
Ngày bắt đầu 13 tháng 3, 2013 (2013-03-13)
Ngày kết thúc 12 tháng 6, 2014 (2014-06-12)
Giai đoạn 4
Số buổi diễn
Box office 139.2 triệu $
Thứ tự tour của Taylor Swift
Speak Now World Tour
(2011–12)
The Red Tour
(2013–14)

The Red Tour là chuyến lưu diễn trên toàn thế giới thứ ba của ca-nhạc sĩ Taylor Swift. Chuyến lưu diễn được tổ chức nhằm quảng bá cho album phòng thu thứ 4 của cô, Red (2012), chính thức bắt đầu vào ngày 13 tháng 3 năm 2013 ở Omaha, Nebraska.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Taylor Swift trong một đêm diễn.

Vào ngày 25 tháng 10, 2012, với sự hợp tác với ABC News trên chương trình truyền hình đặc biệt vào giờ cao điểm All Access Nashville with Katie Couric – A Special Edition of 20/20, Taylor Swift thông báo rằng cô sẽ khởi động một tour diễn ở Bắc Mỹ vào đầu năm 2013 để quảng bá cho album thứ tư của cô, Red, được phát hành vào năm 2012.[1] Trong một cuộc phỏng vấn với đài phát thanh WRVW, Swift nói rằng:"Chuyến lưu diễn lần này sẽ khác hoàn toàn so với trước đây."[2]

Taylor Swift cũng từng nói với Billboard: "Tất nhiên rồi, bạn biết đó, chuyến lưu diễn sẽ là một đại diện lớn của album lần này". "Tôi rất háo hức để biết được người hâm mộ yêu thích những bài hát nào nhất và những loại nhạc nào được ưa chuộng hàng đầu, đó sẽ là bước đầu tiên. Chúng tôi luôn tìm những bài hát nào thật sự chứa đựng niềm đam mê và những bài hát được người hâm mộ đang hát lên nhiều nhất,dĩ nhiên, những bài hát ấy sẽ chắc chắn có trong danh sách tiết mục của tour diễn. Tôi không thể nào chờ đợi điều đó.[3]

Swift từng sử dụng bài hát "American Girl" của Tom Petty khi cô bước vào trong tour diễn trước đây của mình nhưng bây giờ đã thay thế bằng bài "American Woman" phiên bản của Lenny Kravitz.[4] Cô ấy còn hát lại "Ho Hey" của "The Lumineers" hàng đêm, cùng với bài "Stay Stay Stay" của chính mình.[5]

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Taylor Swift trong đêm diễn ở St. Louis.

Danh sách sau đây chỉ biểu thị cho riêng đêm diễn vào ngày 27 tháng 3, 2013, không phải tất cả[6]

  1. "State of Grace"
  2. "Holy Ground"
  3. "Red"
  4. "You Belong with Me"
  5. "The Lucky One"
  6. "Mean"
  7. "Stay Stay Stay"
  8. "22"
  9. "Starlight"
  10. "Everything Has Changed"
  11. "Begin Again"
  12. "Sparks Fly"
  13. "I Knew You Were Trouble"
  14. "All Too Well"
  15. "Love Story"
  16. "Treacherous"
  17. "We Are Never Ever Getting Back Together"

Lịch trình[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các buổi hòa nhạc, ngày, thành phố, quốc gia, địa điểm, nghệ sĩ mở màn, số lượng vé bán ra, số lượng vé có sẵn và doanh thu
Ngày Thành phố Quốc gia Địa điểm Mở màn Số người tham dự Doanh thu
Bắc Mỹ[7]
13 tháng 3, 2013 Omaha Mỹ CenturyLink Center Omaha Ed Sheeran
Brett Eldredge
27,877 / 27,877 $2,243,164
14 tháng 3, 2013
18 tháng 3, 2013 St. Louis Scottrade Center 28,582 / 28,582 $2,346,203
19 tháng 3, 2013
22 tháng 3, 2013 Charlotte Time Warner Cable Arena 14,686 / 14,686 $1,162,733
23 tháng 3, 2013 Columbia Colonial Life Arena 12,490 / 12,490 $996,114
27 tháng 3, 2013 Newark Prudential Center Ed Sheeran
Florida Georgia Line
38,065 / 38,065 $3,565,317
28 tháng 3, 2013
29 tháng 3, 2013
10 tháng 4, 2013 Miami American Airlines Arena Ed Sheeran
Brett Eldredge
12,808 / 12,808 $1,010,175
11 tháng 4, 2013 Orlando Amway Center 25,617 / 25,617 $2,054,128
12 tháng 4, 2013
18 tháng 4, 2013 Atlanta Phillips Arena 25,471 / 25,471 $2,048,023
19 tháng 4, 2013
20 tháng 4, 2013 Tampa Tampa Bay Times Forum 14,080 / 14,080 $1,132,095
25 tháng 4, 2013 Cleveland Quicken Loans Arena 15,336 / 15,336 $1,247,605
26 tháng 4, 2013 Indianapolis Bankers Life Fieldhouse 13,573 / 13,573 $1,082,042
27 tháng 4, 2013 Lexington Rupp Arena 17,003 / 17,003 $1,342,699
4 tháng 5, 2013 Detroit Ford Field Ed Sheeran
Austin Mahone
Florida Georgia Line
48,265 / 48,265 $3,969,059
7 tháng 5, 2013 Louisville KFC Yum! Center Ed Sheeran
Florida Georgia Line
15,135 / 15,135 $1,246,491
8 tháng 5, 2013 Columbus Nationwide Arena 14,267 / 14,267 $1,155,170
11 tháng 5, 2013 Washington, D.C. Verizon Center Ed Sheeran
Brett Eldredge
27,619 / 27,619 $2,489,205
12 tháng 5, 2013
16 tháng 5, 2013 Houston Toyota Center 12,467 / 12,467 $961,422
21 tháng 5, 2013 Austin Frank Erwin Center Ed Sheeran
Florida Georgia Line
11,916 / 11,916 $935,631
22 tháng 5, 2013 San Antonio AT&T Center 13,974 / 13,974 $1,105,253
25 tháng 5, 2013 Arlington Cowboys Stadium Ed Sheeran
Austin Mahone
Florida Georgia Line
53,020 / 53,020 $4,589,266
28 tháng 5, 2013 Glendale Jobing.com Arena Ed Sheeran
Joel Crouse
26,705 / 26,705 $2,239,370
29 tháng 5, 2013
1 tháng 6, 2013 Thành phố Salt Lake EnergySolutions Arena 14,007 / 14,007 $1,139,360
2 tháng 6, 2013 Denver Pepsi Center 13,489 / 13,489 $1,076,069
14 tháng 6, 2013 Toronto Canada Rogers Centre Ed Sheeran
Austin Mahone
Joel Crouse
87,627 / 87,627 $7,863,310
15 tháng 6, 2013
22 tháng 6, 2013 Winnipeg Investors Group Field 33,061 / 33,061 $3,175,430
25 tháng 6, 2013 Edmonton Rexall Place Ed Sheeran
Joel Crouse
25,663 / 25,663 $2,379,870
26 tháng 6, 2013
29 tháng 6, 2013 Vancouver B.C. Place Stadium Ed Sheeran
Austin Mahone
Joel Crouse
41,142 / 41,142 $3,974,410
6 tháng 7, 2013 Pittsburgh Mỹ Heinz Field 56,047 / 56,047 $4,718,518
13 tháng 7, 2013 East Rutherford MetLife Stadium 52,399 / 52,399 $4,670,011
19 tháng 7, 2013 Philadelphia Lincoln Financial Field 101,277 / 101,277 $8,822,335
20 tháng 7, 2013
26 tháng 7, 2013 Foxborough Gillette Stadium 110,712 / 110,712 $9,464,063
27 tháng 7, 2013
1 tháng 8, 2013 Des Moines Wells Fargo Arena Ed Sheeran
Florida Georgia Line
13,368 / 13,368 $1,075,576
2 tháng 8, 2013 Kansas City Sprint Center 26,412 / 26,412 $2,093,172
3 tháng 8, 2013
6 tháng 8, 2013 Wichita Intrust Bank Arena Ed Sheeran
Casey James
12,231 / 12,231 $983,882
7 tháng 8, 2013 Tulsa BOK Center 10,949 / 10,949 $868,955
10 tháng 8, 2013 Chicago Soldier Field Ed Sheeran
Austin Mahone
Casey James
50,809 / 50,809 $4,149,148
15 tháng 8, 2013 San Diego Valley View Casino Center Ed Sheeran
Casey James
10,872 / 10,872 $948,541
19 tháng 8, 2013 Los Angeles Staples Center 55,829 / 55,829 $4,734,463
20 tháng 8, 2013
23 tháng 8, 2013
24 tháng 8, 2013
27 tháng 8, 2013 Sacramento Sleep Train Arena 12,795 / 12,795 $1,138,103
30 tháng 8, 2013 Portland Moda Center 13,952 / 13,952 $1,084,760
31 tháng 8, 2013 Tacoma Tacoma Dome 20,348 / 20,348 $1,584,049
6 tháng 9, 2013 Fargo Fargodome 21,073 / 21,073 $1,661,578
7 tháng 9, 2013 Saint Paul Xcel Energy Center 28,920 / 28,920 $2,320,937
8 tháng 9, 2013
12 tháng 9, 2013 Greensboro Greensboro Coliseum 13,650 / 13,650 $1,109,253
13 tháng 9, 2013 Raleigh PNC Arena 13,941 / 13,941 $1,088,612
14 tháng 9, 2013 Charlottesville John Paul Jones Arena 12,689 / 12,689 $997,216
19 tháng 9, 2013 Nashville Bridgestone Arena 41,292 / 41,292 $3,336,545
20 tháng 9, 2013
21 tháng 9, 2013
Châu Đại Dương[8]
29 tháng 11, 2013 Auckland New Zealand Vector Arena Neon Trees 30,799 / 30,799 $3,100,290
30 tháng 11, 2013
1 tháng 12, 2013
4 tháng 12, 2013 Sydney Úc Allianz Stadium Guy Sebastian
Neon Trees
40,930 / 40,930 $4,096,060
7 tháng 12, 2013 Brisbane Suncorp Stadium 38,907 / 38,907 $3,895,810
11 tháng 12, 2013 Perth Perth Oval 21,827 / 21,827 $2,364,080
14 tháng 12, 2013 Melbourne Etihad Stadium 47,257 / 47,257 $4,547,250
Châu Âu[9][10]
1 tháng 2, 2014 London Anh The O2 Arena The Vamps 74,740 / 74,740[a] $5,829,240[a]
2 tháng 2, 2014
4 tháng 2, 2014
7 tháng 2, 2014 Berlin Đức O2 World Andreas Bourani  —  —
10 tháng 2, 2014 London Anh The O2 Arena The Vamps  —[a]  —[a]
11 tháng 2, 2014
Châu Á[11][12]
30 tháng 5, 2014 Thượng Hải Trung Quốc Mercedes-Benz Arena N/A  —  —
1 tháng 6, 2014 Tokyo Nhật Bản Saitama Super Arena CTS  —  —
4 tháng 6, 2014 Jakarta Indonesia MEIS Nicole Zefanya  —  —
6 tháng 6, 2014 Manila Philippines Mall of Asia Arena Meg Bucsit  —  —
9 tháng 6, 2014 Singapore Sân vận động trong nhà Singapore Imprompt-3  —  —
11 tháng 6, 2014 Kuala Lumpur Malaysia Stadium Putra Bukit Jalil I Am Neeta  —  —
12 tháng 6, 2014 Singapore Sân vận động trong nhà Singapore Imprompt-3  —  —
Tổng cộng 1,617,970 / 1,617,970 $139,212,061

Buổi diễn bị hủy[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách những buổi hoà nhạc bị hủy, ngày, thành phố, quốc gia, địa điểm và lí do
Ngày Thành phố Quốc gia Sân vận động Lí do
9 tháng 6, 2014 Bangkok Thái Lan Impact Arena Bất ổn chính trị[13]

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Taylor Swift đã trở thành nữ nghệ sĩ solo đầu tiên trong vòng 20 năm thực hiện chuyến lưu diễn xuyên qua Úc, kể từ tour diễn "Girlie Show" của Madonna vào năm 1993.[14] Taylor còn biểu diễn với hơn 40.900 người hâm mộ tại sân vận động Allianz tại Sydney, nước Úc, trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên trong lịch sử bán hết vé của sân vận động kể từ khi nó được khai trương vào năm 1988.[15] Ngoài ra, số vé cho đêm diễn ở Thượng Hải cũng đã hết sạch chỉ sau 1 phút. Theo đó, đêm diễn của cô nàng tại đây có lượng vé bán chạy nhất từ trước đến nay tại thị trường Trung Quốc.[16]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Số liệu được cộng lại từ 5 đêm diễn ở Anh vào ngày 1,2,7,10 và 11 tháng 2,2014.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Red Tour Announcement & Details!”. Taylor Swift. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2012. 
  2. ^ “Radio Interview @ 107.5 Nashville”. TSwiftOnTour. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2014. 
  3. ^ “Taylor Swift to Outdo Herself on 'Red' Tour: 'I Like for It to Be Big'”. Billboard. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2013. 
  4. ^ “Taylor Swift's 'Red' Tour: Her Amps Go Up to 22 | Rob Sheffield”. Rolling Stone. 20 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013. 
  5. ^ Caramanica, Jon (28 tháng 3 năm 2013). “Music Review: Losing Her Audio, but Never Her Nerve”. The New York Times. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013. 
  6. ^ Sheffield, Rob (18 tháng 10 năm 2013). “Taylor Swift's 'Red' Tour: Her Amps Go Up to 22 | Rob Sheffield”. Rolling Stone. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2013. 
  7. ^ Điểm dừng chân ở Bắc Mỹ trong The Red Tour:
  8. ^ “Billboard Biz: Current Boxscore”. Billboard. Prometheus Global Media. 1 tháng 1 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2014. 
  9. ^ “Billboard Biz: Current Boxscore”. Billboard. Prometheus Global Media. 2 tháng 4 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2014. 
  10. ^ http://www.o2world.com/ShowEvent/735/Taylor-Swift-THE-RED-TOUR.html
  11. ^ http://taylorswift.com/news/205493
  12. ^ “Taylor Swift Taking Her 'Red Tour' to Southeast Asia!”. just jared, inc. 13 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2014. 
  13. ^ “Taylor Swift Cancels Thailand Concert Following Political Unrest”. Billboard. 27 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2014. 
  14. ^ Frontier Touring. “Taylor Swift 2013 Australia & New Zealand | Tickets, Concert Dates, Pre-sale & Tour Information | Frontier Touring Australia & New Zealand”. Frontiertouring.com. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2013. 
  15. ^ “Taylor Swift Is First Female Artist In History To Sell Out Sydney's Allianz Stadium”. 5 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2013. 
  16. ^ “Trong 1 phút, vé tour diễn của Taylor Swift bán sạch bách”. Tiin.vn. 5 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2014.