Thiên hoàng Daigo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đề Hồ Thiên hoàng
醍醐天皇
Daigo-tennō
Emperor Daigo.jpg
Đề Hồ Thiên hoàng
Thiên hoàng thứ 60 của Nhật Bản
Tại vị 897930
Đăng quang 897
Tiền nhiệm Vũ Đa Thiên hoàng
Chu Tước Thiên hoàng
Thông tin chung
Thê thiếp Fujiwara no Onshi
Hậu duệ
Hoàng tộc Nhà Yamato
Thân phụ Vũ Đa Thiên hoàng
Thân mẫu Fujiwara no Inshi
Sinh 18 tháng 1 năm 885
Heian Kyō (Kyōto)
Mất 23 tháng 10 năm 930 (tuổi 45)
Heian Kyō (Kyōto)
An táng Nochi-no-Yamashina no Misasagi (Kyōto)

Thiên hoàng Đề Hồ (Nhật: 醍醐天皇 (Đề Hồ Thiên hoàng) Daigo-tennō?) (18 tháng 1 năm 88523 tháng 10 năm 930) là vị Thiên hoàng thứ 60 của Nhật Bản, theo Danh sách Thiên hoàng truyền thống. Ông trị vì từ năm 897 đến năm 930.[1] Lăng mộ của Thiên hoàng Đề Hồ, được biết với cái tên Nochi no Yamashina no misasagi, nằm ở Fushimi-ku, Kyoto.

Phả hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi lên kế thừa hoàng vị, tên thật (húy, imina) của ông Atsuhito-shinnō (敦仁親王, Đôn Nhân Thân vương).[2]

Thân vương Atsuhito là con trai trưởng của Vũ Đa Thiên hoàng. Thân mẫu ông là Fujiwara no Taneko, con gái của Nội đại thần Fujiwara no Takafui.[3] Ông lên kế ngôi sau khi vua cha Vũ Đa thoái vị vào năm 897.

Thiên hoàng Đề Hồ có 21 người vợ. Họ sinh hạ 36 người con trai và con gái cho Thiên hoàng.[4]

Những sự kiện dưới triều Thiên hoàng Đề Hồ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 898, niên hiệu được đổi để đánh dấu thời điểm nền cai trị của Đề Hồ Thiên hoàng.[3] Điểm nổi bật của triều đại kéo dài 34 năm của vị Thiên hoàng này là ông đích thân chấp chính chứ không cần sự nhiếp chính của dòng họ Fujiwara, mặc dù Thiên hoàng có dòng máu Fujiwara.

  • Năm Khoan Bình thứ chín, vào ngày thứ ba trong tháng thứ bảy (897): Vào năm thứ 10 của triều Thiên hoàng Vũ Đa (宇多天皇10年, Vũ Đa Thiên Hoàng 10 Niên), Vũ Đa Thiên hoàng từ ngôi; và Thân vương Atsuhito nhận được quyền kế vị ("senso").[5]
  • Năm Khoan Bình thứ chín, vào ngày thứ năm của tháng thứ bảy (897): Atsuhito chính thức lên ngôi Thiên hoàng ("sokui").[6]
  • Năm Xương Tai thứ hai, vào ngày thứ nhất trong tháng thứ 11 (899): Mặt trời bước vào đông chí, và tất cả các quan đại thần trên khắp đất nước đều đến kinh đô Heian-kyo yết kiến Thiên hoàng.[7]
  • Năm Xương Tai thứ ba, vào ngày thứ ba trong tháng thứ nhất (900): Thiên hoàng Đề Hồ đến thăm vua cha tại nơi mà cựu hoàng Vũ Đa cư ngụ sau khi thoái vị.[8]
  • Năm Xương Tai thứ ba, vào tháng thứ mười (900): Cựu hoàng Vũ Đa đến ngọn núi Cao Dã Sơn (Nhật: 高野山 , Kōya-san?) ở vùng đất nay là huyện Wakayama về phía bắc Osaka. Cựu hoàng viếng thăm những ngôi đền tại sườn núi.[9]
  • Năm Diên Hỉ thứ nhất, vào ngày đầu tiên của tháng thứ nhất (901): Xảy ra hiện tượng nhật thực.[9]
  • Năm Diên Hỉ thứ nhất, vào tháng thứ nhất (901): "vụ rắc rối" Sugawara Michizane lan rộng, nhưng người ta không biết được nhiều thông tin hơn vì Thiên hoàng ra lệnh cho đốt hết những văn thư và lịch ghi nhớ từ thời kỳ này.[4]
  • Năm Diên Hỉ thứ năm, vào tháng thứ tư: Ki-no Tsurayuki biên soạn Kokin Wakashū, bộ sưu tập các bài thơ Hoà ca và dâng lên Thiên hoàng.[10]
  • Năm Diên Hỉ thứ chín, vào tháng thứ bốn (909): Viên Tả đại thần Fujiwara no Tokihira qua đời ở tuổi 39. Tokihira được Thiên hoàng truy phong làm "nhiếp chính".[10]
  • Năm Diên Trường thứ bảy, vào tháng thứ tám (929): Đất nước hứng chịu nhiều trận lụt, hậu quả là nhiều người chết.[11]
  • Năm Diên Trường thứ tám, vào ngày 26 của tháng thứ sáu (930): Một đám mây dông tố đen bay từ sườn núi Atago đến kinh thành Heian-kyo cùng với sấm sét đáng sợ. Tia chớp đánh vào Hoàng cung. Cả hai quan đại thần Fuijwara-no Kiyotsura (còn gọi là Miyoshi no Kiyoyuki) và Taira-no Mareyo, cùng với nhiều viên quan cấp dưới thiệt mạng và xác của hoạ bị chảy trong những vụ cháy xảy ra sau đó. Người ta cho rằng những sự kiện này hành động báo thù của Sugawara Michizane, sau khi chết biến thành ma đi phá rối.[12]
  • Năm Diên Trường thứ tám, vào ngày thứ 22 của tháng thứ 9 (930): Vào năm thứ 34 của triều Thiên hoàng Đề Hồ (醍醐天皇34年, Đề Hồ Thiên Hoàng 34 niên), Thiên hoàng lâm bệnh, lo sợ rằng ông sẽ không sống được nữa, Thiên hoàng thoái vị. Với sự kiện này, người ta cho rằng quyền kết vị ("senso") được trao cho con trai ông. Ít lâu sau, Thiên hoàng Chu Tước lên ngôi ("sokui").[13]
  • Năm Diên Trường thứ tám, vào ngày thứ 29 của tháng thứ 9 (930): Đầu ngày, Thiên hoàng Đề Hồ trở thành một tăng lữ Phật giáo. Với tư cách là một hoà thượng, ông lấy cái tên Phật giáo Hō-kongō và, ít lâu sau, ông qua đời ở tuổi 46.[14] Phật hoàng Hō-kongō được mai táng ở những khoảng đất có vườn bao quanh chùa Đề Hồ tự (Daigo-ji), vì vậy Phật hoàng được đặt thuỵ hiệu là Đề Hồ Thiên hoàng (Daigo-tennō).[11]

Cựu hoàng Đề Hồ cũng ra lệnh cho xây nhiều đại sảnh ở Đề Hồ tự, chẳng hạn như đại sảnh Yakushi.

Công khanh (Kugyō)[sửa | sửa mã nguồn]

Công Khanh (Kugyō, 公卿) là thuật ngữ chung, chỉ một số nhân vật có quyền lực lớn nhất gắn liền với triều đình Thiên hoàng Nhật Bản trước thời kỳ Minh Trị eras.[15]

Tổng quan, Công khanh thường chỉ bao gồm từ ba đến bốn người. Họ là những triều thần có tôn ti, trở thành quan to trong triều nhờ kinh nghiệm và thân thế của mình. Dưới triều Thiên hoàng Đề Hồ, những chóp bu kiểu này của Thái Chính Quan bao gồm:

Các niên hiệu dưới triều Đề Hồ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt triều đại mình, Thiên hoàng Hậu Đề Hồ đã đặt các niên hiệu, hay nengō sau.[17]

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng hậu: Fujiwara no Onshi (藤原穏子) (885-954), con gái của Quan bạch Fujiwara no Mototsune (藤原基経)

  • Thân vương Yasuakira (保明親王) (903-923) (con trai thứ), được Thiên hoàng Đề Hồ phong làm Thái tử, tức là "Văn Hiến Ngạn Thái Tử" (Bunkengentaishi, 文献彦太子)
  • Nội Thân vương Koushi (康子内親王) (919-957), cưới Hữu Đại Thần Fujiwara no Morosuke (藤原師輔)
  • Thân vương Yutaakira (寛明親王) (923-952) (Chu Tước Thiên hoàng)
  • Thân vương Nariakira (成明親王) (926-967) (Thôn Thượng Thiên hoàng)

Phi: Nội Thân vương Ishi (為子内親王) (?-899), con gái của Quang Hiếu Thiên hoàng

  • Nội Thân vương Kanshi (勧子内親王) (con gái thứ nhất) (899-910)

Nữ ngự: Minamoto no Washi (源和子) (?-947), con gái của Thiên hoàng Quang Hiếu

  • Nội Thân vương Keishi (慶子内親王) (903-923) (con gái thứ bốn), kết hôn với Thân vương Atsukata (con trai của Vũ Đa Thiên hoàng)
  • Thân vương Tsuneakira (常明親王) (906-944) (con trai thứ năm)
  • Thân vương Noriakira (式明親王) (907-967) (con trai thứ sáu)
  • Thân vương Ariakira (有明親王) (910-961) (con trai thứ bảy)
  • Nội Thân vương Shōshi (韶子内親王) (918-980), Nữ giáo sĩ tối cao thứ 13 của Thần cung Kamo 921-930; về sau, cưới Tachibana no Korekaze (橘惟風)
  • Nội Thân vương Seishi/Tadako (斉子内親王) (921-936), Giáo sĩ tối cao thứ 27 của Thần cung Ise 936, nhưng cô đã không đến được Ise vì cái chết của cô.

Nữ ngự: Fujiwara no Nōshi (藤原能子) (?-964), con gái của Hữu Đại Thần Fujiwara no Sadakata (藤原定方); về sau, cưới Fujiwara no Saneyori (藤原実頼)

Nữ ngự: Thị nữ Fujiwara no Wakako (藤原和香子) (?-935), con gái của Đại Nạp Ngôn Fujiwara no Sadakuni (藤原定国)

Canh y: Một người con gái của Minamoto no Noboru (源昇の娘)

  • Thân vương Shigeakira (重明親王) (906-954) (con trai thứ bốn), tác giả của Ribuōki (吏部王記)

Canh y: Nữ vương Manshi (満子女王) (?-920), con gái của Vương tước Sukemi (輔相王)

  • Nội Thân vương Shūshi (修子内親王) (905/6-933) (con gái thứ tám), kết hôn với Thân vương Motoyoshi (con trai của Thiên hoàng Đương Thành)
  • Nội Thân vương Fushi (普子内親王) (909-947), kết hôn với Minamoto no Kiyohira (源清平), tái hôn với Fujiwara no Toshitsura (藤原俊連)
  • Minamoto no Genshi (源厳子) (916-?)

Canh y: Fujiwara no Yoshihime (藤原淑姫) (?-949), con gái của viên quan Fujiwara no Sugane (藤原菅根)

  • Thân vương Nagaakira (長明親王) (913-953) (con thứ chín)
  • Thân vương Kaneakira (兼明親王) (914-987) (con thứ 11), củng gọi là Tiền Trung Thư Vương (saki no chūshoō, 前中書王). Chūshoō nghĩa là Trưng Vụ Khanh (Nakatsukasa-kyō, 中務卿).
  • Minamoto no Yoriakira (源自明) (918-958)
  • Nội Thân vương Hideko (英子内親王) (921-946), Nữ Giáo sĩ tối cao thứ 29 của Thần cung Ise 946, nhưng cô đã chết trước khi đến được Thần cung Ise.

Canh y: Minamoto no Chikako (源周子) (?-935), con gái của Tả Đại Biện Minamoto no Tonau (源唱)

  • Nội Thân vương Kinshi (勤子内親王) (904-938) (con gái thứ năm), kết hôn với Hữu Đại Thần Fujiwara no Morosuke (藤原師輔)
  • Nội Thân vương Miyako (都子内親王) (905-981) (con gái thứ bảy)
  • Nội Thân vương Toshiko (敏子内親王) (906-?)
  • Nội Thân vương Masako (雅子内親王) (909-954) (con gái thứ mười), Nữ Giáo sĩ tối cao thứ 26 trong Thần cung Ise 932-936; về sau, kết hôn với Hữu Đại thần Fujiwara no Morosuke(藤原師輔)
  • Thân vương Tokiakira (時明親王) (912-927) (con trai thứ tám)
  • Minamoto no Takaakira (源高明) (914-983) (con trai thứ mười), còn gọi là Tây cung (Nishinomiya, 西宮) Tả Đại Thần
  • Minamoto no Kenshi (源兼子) (915-949), rời khỏi Hoàng gia năm 921, được Thiên hoàng đặt họ mới ("Tứ Tính Hàng Hạ", Shisei Kōka, 賜姓降下) năm 921
  • Thân vương Moriakira (盛明親王) (928-986), nhận họ 'Minamoto' từ Thiên hoàng ("Tứ Tính Hàng Hạ", Shisei Kōka, 賜姓降下); về sau, Thân vương năm 967.

Canh y: Minamoto no Fūshi/Kaneko (源封子) (?-?), con gái của viên quan Minamoto no Motomi (源旧鑒)

  • Nội Thân vương Nobuko (宣子内親王) (902-920) (con gái thứ hai), Nữ Giáo sĩ tối cao thứ 12 của Thần cung Kamo 915-920
  • Thân vương Yoshiakira (克明親王) (903-927) (con trai thứ nhất), cha của nhạc sĩ Minamoto no Hiromasa (源博雅)
  • Nội Thân vương Seishi (靖子内親王) (915-950), rời khỏi Hoàng gia năm 921, được Thiên hoàng đặt cho họ mới ("Tứ Tính Hàng Hạ", Shisei Kōka, 賜姓降下); sau này, Nội Thân Vương năm 930. Cô kết hôn với Fujiwara no Morouji (藤原師氏)

Canh y: Fujiwara no Senshi (藤原鮮子) (?-915), con gái của Y Dữ Giới (Iyonosuke, 伊予介) Fujiwara no Tsuranaga(藤原連永)

Canh y: Fujiwara no Kuwako (藤原桑子) (?-?), daughter of Trung Nạp Ngôn Fujiwara no Kanesuke (藤原兼輔)

  • Thân vương Akiakira (章明親王) (924-990)

Canh y: Một người con gái của Minamoto no Toshimi (源敏相の娘)

  • Minamoto no Nobuakira (源允明) (919-942)

Canh y: Một người con gái của Fujiwara no Korehira (藤原伊衡の娘)

  • Minamoto no Tameakira (源為明) (927-961)

Văn học nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Thiên hoàng Daigo là thiên hoàng đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản ra sắc lệnh biên soạn thi tuyển riêng của thời đại, cuốn Cổ kim tập (古今集 Kokinshu, hay 古今和歌集 Kokin Wakashu, năm 905/914). Tập thơ 20 quyển, 1111 bài đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ thi ca quốc âm cổ điển Nhật Bản này là hợp tuyển thơ waka bằng chữ kana quan trọng nhất, trở thành quy phạm cho 20 tập thơ soạn theo chiếu chỉ sau đó (gọi là các sắc soạn tập).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Titsingh, Isaac. (1834). Annales des empereurs du japon, pp. 129-134; Brown, Delmer et al. (1979). Gokanshō, pp. 291-293; Varley, H. Paul. (1980). Jinnō Shōtōki, pp. 179-181.
  2. ^ Varley, p. 179; Brown, p. 264. [Up until the time of Emperor Jomei, the personal names of the emperors (their imina) were very long and people did not generally use them. The number of characters in each name diminished after Jomei's reign.]
  3. ^ a ă Varley, p. 179.
  4. ^ a ă Brown, p. 293.
  5. ^ Tisingh, p. 129; Varley, p. 44. [A distinct act of senso is unrecognized before Emperor Tenji; and all sovereigns except Jitō, Yōzei, Go-Toba, and Fushimi have senso and sokui in the same year until the reign of Emperor Go-Murakami.]
  6. ^ Brown, p. 291; Varley, p. 44
  7. ^ Titsingh, p. 130.
  8. ^ Titsingh, pp. 130-131.
  9. ^ a ă Titsingh, p. 131.
  10. ^ a ă Titsingh, p. 132.
  11. ^ a ă Titsingh, p. 134.
  12. ^ Titsingh, p. 134; Brown, p. 293; Varley, p. 179-181.
  13. ^ Brown, p. 293; Varley, p. 44.
  14. ^ Titsingh, p. 134; Brown, p. 292; Varley, p. 181.
  15. ^ Furugosho: Công khanh trong triều đình Hậu Đề Hồ. (tiếng Pháp)
  16. ^ a ă â b c d đ Brown, p. 291.
  17. ^ Titsingh, p. 129.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]