Thiên hoàng Ingyō

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thiên hoàng Ingyō
Ingyō-tennō
允恭天皇
Thiên hoàng thứ 19 của Nhật Bản
Tại vị 411 – 453
Tiền nhiệm Thiên hoàng Hanzei
Kế nhiệm Thiên hoàng Ankō
Thông tin chung
Hoàng thất Nhật Bản
Thân phụ Thiên hoàng Nintoku
Sinh Huyền thoại
Mất 453
An táng Mozu no Mimihara no naka no Misasagi (Osaka)

Thiên hoàng Ingyō (Nhật: 允恭天皇, Ingyō-tennō?, Duẫn Cung Thiên hoàng) là vị Thiên hoàng thứ 19 của Nhật Bản, theo Danh sách Nhật hoàng truyền thống.[1] Không có ngày tháng chắc chắn về cuộc đời và thời đại của Thiên hoàng này. Ingyō được cho là đã trị vì đất nước vào giữa thế kỷ 5, nhưng rất hiếm thông tin về ông. Các học giả chỉ còn biết than phiền rằng vào thời điểm này, chưa có đủ cứ liệu để thẩm tra và nghiên cứu thêm…

Theo Cổ Sự KýNhật Bản Thư Kỷ, ông là con trai thứ 4 của Thiên hoàng Nintoku và Hoàng hậu Iwanohime, và sau đó là em trai của Thiên hoàng Hanzei. Ông lên ngôi sau khi Hanzei qua đời và cầm quyền trong vòng 41 năm. Vợ của ông là Oshisaka no Ōnakatsu no Hime. Họ có 5 con trai và 4 con gái, bao gồm Thiên hoàng AnkōThiên hoàng Yūryaku. Ông cải cách lại hệ thống tên gia tộc và gia đình, vì nhiều người đặt cho mình cái tên giả giống tên gia tộc hay gia đình quyền quý.

Vợ con[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng hậu: Oshisaka no Ōnakatsuhime (忍坂大中姫), con gái của Wakanuke-Futamata no Miko (稚渟毛二派皇子)

  • Hoàng tử Kinashi no Karu (木梨軽皇子)
  • Công chúa Nagata no Ōiratsume (名形大娘皇女)
  • Hoàng tử Sakai no kurohiko (境黒彦皇子) (?-456)
  • Hoàng tử Anaho (穴穂皇子) (Thiên hoàng Ankō) (401?-456)
  • Công chúa Karu no Ōiratsume (軽大娘皇女)
  • Hoàng tử Yatsuri no shirahiko (八釣白彦皇子) (?-456)
  • Hoàng tử Ōhatuse no Wakatakeru (大泊瀬稚武皇子) (Thiên hoàng Yūryaku) (418-479)
  • Công chúa Tajima no Tachibana no Ōiratsume (但馬橘大娘皇女)
  • Công chúa Sakami (酒見皇女)

Princess: Sotoshi no iratsume (衣通郎姫), em gái của Oshisaka no Ōnakatsuhime

Các sự kiện dưới triều Ingyō[sửa | sửa mã nguồn]

Trận động đất sớm nhất được ghi lại ở Nhật Bản năm 416 khi Cung điện Hoàng gia ở Kyoto bị san bằng vì động đất.[2]

Ngày nay các học giả cho rằng ông là Vua Sai trong Tống thư, người là vua của Nhật Bản (được gọi là Wa bởi các học giả Trung Quốc đương thời) và cử sứ giả đến nhà Tống ít nhất 2 lần vào các năm 443451.

Theo Nhật Bản Thư Kỷ, Vua của Vương quốc Triều Tiên rất đau buồn khi Ingyō qua đời. Để an ủi linh hồn của Ingyō, ông gửi tặng Nhật Bản 80 nhạc công.[3]

Ông được táng ờ một lăng mộ Hoàng gia kiểu kofun, còn được gọi là Misasagi của Thiên hoàng Ingyō (Nhật: 恵我長野北陵, Eganonagano no kita no misasagi?), ờ thành phố Fujiidera gần Osaka.[4]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Titsingh, Isaac. (1834). Annales des empereurs du japon, p. 26; Varley, Paul. (1980). Jinnō Shōtōki, p. 112.
  2. ^ Hammer, Joshua. (2006). Yokohama Burning: The Deadly 1923 Earthquake and Fire that Helped Forge the Path to World War II, p. 62.
  3. ^ Nihonshoki, volume 13, Story of Ingyō: 允恭紀四十二年 - 於是新羅王聞天皇既崩,驚愁之,貢上調船八十艘及種種樂人八十.[1]
  4. ^ Gowland, William. "The Burial Mounds and Dolmens of the Early Emperors of Japan," The Journal of the Royal Anthropological Institute of Great Britain and Ireland, Vol. 37, Jan.-Jun., 1907, pp. 10-46.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Link liên quan[sửa | sửa mã nguồn]